LUẬN VĂN: Phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc
thiểu số Thanh Hoá trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Con người là chủ thể sáng tạo ra nền văn hoá - văn minh nhân loại, là động lực
chủ yếu thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ xã hội. Con người cũng là sản phẩm kỳ diệu, là giá
trị cao nhất của toàn bộ sự phát triển thế giới vật chất và tinh thần, đồng thời chịu sự chi
phối của các quy luật tự nhiên và xã hội. Con người ở vị trí trung tâm của tiến trình lịch
sử, chính vì vậy con người trong tư duy nhân loại không chỉ là vấn đề thực tiễn mà còn là
thiện mục tiêu, chính sách phát triển con người và xã hội. Đặc biệt , để đạt mục tiêu đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp , đại hội IX của Đảng đã xác
định “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát
triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” . Vì vậy, chăm lo đào tạo, bồi
dưỡng và phát huy nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2020 của các cấp, các nghành từ trung
ương đến địa phương trong cả nước.
Thanh hoá là một tỉnh đông dân với hơn 3,5 triệu người, nguồn lao động dồi dào
(1,8 triệu người), nhưng chất lượng nguồn nhân lực còn thấp , chưa đáp ứng yêu cầu mà
công cuộc đổi mới trên địa bàn đòi hỏi.
Miền núi Thanh Hoá chiếm 2/3 diện tích tự nhiên của toàn tỉnh với số dân gần một
triệu người gồm có 7 dân tộc anh em cùng chung sống, là vùng rừng núi rộng lớn tiềm
năng đất đai, tài nguyên và lao động phong phú, nhưng miền núi Thanh Hoá vẫn chưa
khai thác đầy đủ về nguồn nhân lực hiện có, vì vậy việc nghiên cứu thực trạng làm cơ sở
đề xuất các giải pháp nhằm “phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số Thanh
Hoá trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” có ý nghĩa vô cùng quan
trọng cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề con người là một trong những vấn đề trung tâm của triết học và các học
thuyết chính trị xã hội. Từ xưa đến nay mỗi trường phái triết học cũng như mỗi học
thuyết chính trị xã hội nghiên cứu con người với những góc độ và khía cạnh khác nhau,
trong đó chủ yếu tập trung bàn về mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh,
giữa con người với xã hội. Học thuyết Mác -Lê nin khẳng định: Bản chất của con người
là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, con người là thực thể thống nhất giữa mặt tự
nhiên và mặt xã hội. Một mặt con người là kết quả sự phát triển cao nhất của thế giới tự
nhiên, mặt khác nó là chủ thể tích cực sáng tạo ra lịch sử xã hội.
Đối với nước ta vấn đề con người được nhiều nhà khoa học và lý luận quan tâm
thiểu số ; Biểu dương và khắc họa chân dung những điển hình tiên tiến đồng thời chỉ đích
danh những tồn đọng của chính sách xã hội và thực trạng bức tranh đời sống nhân dân.
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XV (2001) đã đề ra phương
hướng chung “tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tăng tốc độ phát triển, phấn đấu đạt
và vượt các chỉ tiêu trên tất cả các lĩnh vực, phát huy nội lực, khai thác có hiệu quả các
nguồn lực cho phát triển, đặc biệt là nguồn nhân lực , ưu tiên phát triển các lĩnh vực có
tiềm năng, lợi thế của tỉnh đáp ứng yêu cầu thị trường tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá đảm bảo tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và
bền vững”
Tuy nhiên cho đến nay chưa thấy những công trình nghiên cứu chuyên sâu về con
người, đặc biệt là nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số Thanh Hoá, vì vậy tác giả trên cơ
sở nghiên cứu sâu thực trạng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số Tỉnh Thanh Hoá để
đề xuất các giải pháp phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện
đại hoá hiện nay là việc làm vừa có ý nghĩa lý luận, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn bức
xúc.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:
Nghiên cứu lý luận cơ bản về nguồn nhân lực dưới góc độ triết học - chính trị - xã
hội: Nguồn nhân lực vùng dân tộc Thiểu số Thanh Hoá trong công cuộc đổi mới và
những yêu cầu đặt ra hiện nay. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp vừa tầm, khả thi nhằm
khai thác nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Thanh Hoá.
* Nhiệm vụ:
- Phân tích thực trạng việc sử dụng nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số Thanh
Hoá từ 1991 đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm phát huy nguồn nhân lực vùng
dân tộc thiểu số Thanh Hoá trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn làm tư liệu tham khảo cho các trường đào tạo cán bộ, các đồng chí lãnh
đạo, chỉ đạo thực tiễn của tỉnh, đồng thời làm tài liệu tham khảo cho các tỉnh miền núi có
điều kiện tự nhiên xã hội tương tự như Thanh Hoá khi đề xuất những giải pháp nhằm
phát huy nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước.
7. Kết luận của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3
chương, 7 tiết.
Chương 1
Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1. nguồn nhân lực và các đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực
1.1.1. Một số khái niệm
- Con người và nhân lực
Vấn đề con người, nguồn nhân lực, phát triển con người và phát triển nguồn
nhân lực là một mục tiêu tương đối quan trọng của mỗi quốc gia và toàn thế giới. Con
người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong nhiều
thế kỷ, người ta đã bị ám ảnh bởi cảnh đói nghèo đe dọa và mong muốn thoát khỏi
nguy cơ này, vươn tới một cuộc sống no đủ, hạnh phúc hơn. Đó là một nguyện vọng
chính đáng. Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, sự phát triển con người, sự
phát triển nguồn nhân lực được Liên hợp quốc thừa nhận là vấn đề trung tâm và là
thước đo để đánh giá, xếp loại mức độ phát triển của mỗi quốc gia.
Từ xưa đến nay, vấn đề con người luôn là vấn đề phức tạp, với nhiều quan
niệm khác nhau về con người. Thời xa xưa, người ta hiểu con người như một tồn tại
làm việc và chưa làm việc nhưng không bao gồm những người có khả năng lao động
nhưng không có nhu cầu làm việc.
+ ở Việt Nam: Hiện nay tương đối thống nhất hiểu nguồn lao động gồm những
người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (gồm cả những người trên tuổi lao động, thực tế
đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng
chưa làm việc do: thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có
nhu cầu làm việc.
Theo nghĩa hẹp hơn: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong nền
kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa là bao gồm những
người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế đang có việc
làm và những người thất nghiệp. Về độ tuổi, hiện nay có nhiều quy định khác nhau.
Đa số các nước có quy định tuổi tối thiểu (thường là 15 tuổi), còn tuổi tối đa thường
trùng với tuổi nghỉ hưu hoặc không giới hạn.
ở Việt Nam, lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động,
đang có việc làm; những người ngoài độ tuổi lao động thực tế đang làm việc và những
người thất nghiệp. Nghĩa là không bao gồm những người trong độ tuổi lao động có
khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu
cầu làm việc.
- Các khái niệm liên quan đến nguồn nhân lực
+ Đội ngũ lao động: Là những người lao động trong nguồn nhân lực đang làm
việc trong nền kinh tế quốc dân (còn gọi là dân số hoạt động kinh tế tích cực). Đây là
bộ phận quan trọng nhất đối với nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, có ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế - xã
hội nói riêng. Vì vậy, vấn đề mở rộng và nâng cao chất lượng đội ngũ lao động luôn
luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
+ Vốn nhân lực: Đây là khái niệm tương đối mới, là công cụ để phân tích kinh
tế - xã hội. Vốn nhân lực được hiểu là tiềm năng và khả năng phát huy tiềm năng về
1.1.2. Các đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực
- Đặc trưng về sinh học:
Triết học Mác - Lênin khẳng định, lao động là hoạt động bản chất của con
người. Con người bằng hoạt động lao động của mình đã làm biến đổi bản chất tự
nhiên và tạo ra bản chất xã hội của chính mình. Con người không chỉ sống trong môi
trường tự nhiên, mà còn so óng trong môi trường xã hội, nên tự nhiên và xã hội trong
mỗi con người gắn bó khăng khít với nhau. Yếu tố sinh học trong mỗi con người
không phải tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội, mà chúng hòa quyện vào nhau và tồn tại
trong yếu tố xã hội. Bản chất tự nhiên của con người được chuyển vào bản tính xã hội
của con người và được cải biến ở trong đó.
Quan điểm Mác - Lênin cho rằng: hoạt động của con người chủ yếu là hoạt
động sản xuất, hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và thông qua những hoạt
động này, con người cải tạo chính bản thân mình, làm cho con người ngày càng hoàn
thiện. Chính những hoạt động này đã làm biến đổi mặt sinh học của con người và làm
cho nó mang tính người - tính xã hội và cũng chính hoạt động thực tiễn ấy đã làm cho
nhu cầu sinh vật ở con người trở thành nhu cầu xã hội. Ph.Ăngghen đã viết:Lao động
là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người và như thế đến mức mà
trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: Lao động đã sáng tạo ra bản thân con
người.
- Đặc trưng về số lượng
Được xác định dựa trên quy mô, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố theo khu
vực và vùng lãnh thổ của dân cư. ở nước ta, số lượng nguồn nhân lực được xác định
bao gồm tổng số người trong độ tuổi lao động [ ] (nam 15-60, nữ 15-55) vì người lao
động phải ít nhất đủ 15 tuổi" [Bộ luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994] và được hưởng chế độ hưu trí hàng năm khi có đủ
điều kiện về tuổi đeời (nam 60, nữ 55) và thời gian đóng bảo hiểm xã hội (20 năm trở
lên) [ ], đây là lực lượng lao động tiềm tàng của nền kinh tế - xã hội.
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực
với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động
kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc
trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và
phát triển con người. Do đó, chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp, bao
gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, năng lực, phong cách đạo đức,
lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực: trạng thái sức khỏe, trình độ học vấn, trình
độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội Trong đó, trình độ
học vấn là yếu tố quan trọng nhất vì nó không chỉ là cơ sở để đào tạo kỹ năng nghề
nghiệp mà còn là yếu tố hình thành nhân cách và lối sống của mỗi con người.
Chất lượng nguồn nhân lực liên quan đến nhiều lĩnh vực như đảm bảo dinh
dưỡng và chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo, lao động và việc làm gắn với tiến
bộ kỹ thuật, trả công lao động và các mối quan hệ xã hội khác. Chất lượng nguồn
nhân lực cao có tác động làm tăng năng suất lao động. Trong thời đại tiến bộ kỹ thuật,
một nước cần và có thể đưa chất lượng nguồn nhân lực vượt trước trình độ phát triển
của cơ sở vật chất trong nước để sẵn sàng đón nhận tiến bộ kỹ thuật - công nghệ, hòa
nhập với nhịp độ phát triển của nhân loại.
1.2. Nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.1. Bản chất và đặc trưng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Bản chất của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII) đã khẳng
định nghĩa khái quát về quá trình CNH, HĐH:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là qua strình chuyển đổi căn bản, toàn
diện các hoạt động kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính
sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương
tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Đối với nước ta, đó là một quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế
nghiệp hóa, nhưng chúng còn bị ràng buộc bởi yêu cầu đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã
hội. Giải quyết mối quan hệ này chính là tìm ra bước đi thích hợp với quá trình hiện
đại hóa nhưng theo điều kiện cụ thể của từng nước. Hiện đại hóa ở Việt Nam cần sự
tính toán, tiến hành một cách hợp lý, để thích ứng và bắt nhịp xu thế chung của thời
đại, nhưng phải phát huy được ưu thế của nguồn lực lao động.
Thứ ba: Quá trình CNH, HĐH trong bất cứ giai đoạn nào cũng là quá trình kinh
tế - kỹ thuật, kinh tế - xã hội và phải đặt trong bối cảnh chung.
Thứ tư: Quá trình CNH, HĐH gắn liền với quá trình đô thị hóa khu vực kinh
tế nông thôn.
Thứ năm: Quá trình CNH, HĐH đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ kinh
tế quốc tế. Ngày nay, thị trường lao động mang tính quốc tế và quốc tế hóa đời sống
kinh tế đã trở thành xu thế của thời đại.
Về nguyên tắc, CNH, HĐH phải dựa vào nội lực là chủ yếu, nhưng ngoại lực
có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là giai đoạn đầu khi nội lực còn chưa đủ mạnh. Những
trợ giúp về tài chính, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường tiêu thụ
từ bên ngoài là những điều kiện hết sức quan trọng trong giai đoạn đẩy mạnh CNH,
HĐH.
Đặc trưng của quá trình CNH, HĐH ở nước ta: CNH, HĐH là nhu cầu phát
triển tất yếu của các quốc gia song mỗi nước đều có những mô hình phát triển riêng
tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và các đặc trưng về chính trị, kinh tế - xã hội, văn hóa
của từng nước.
Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu của quá trình CNH,
HĐH là:
Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển tạo nền tảng để đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học công nghệ, kết cấu hạ tầng,
tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị
đại hóa
Đến nay, các nhà kinh tế đã khẳng định đầu tư cho con người thông qua các
hoạt động giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, các chương trình đảm bảo việc làm
và an sinh xã hội được xem là sự đầu tư hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững của một quốc gia. Ngay từ những năm 50-60 của
thế kỷ XX, nhiều nước đã tăng trưởng nền kinh tế thông qua quá trình công nghiệp
hóa hay nói cách khác, thông qua việc ứng dụng các tiến bộ của khoa học và công
nghệ. Mà việc phát triển của khoa học và công nghệ luôn luôn gắn liền với phát triển
nguồn nhân lực (với chất lượng đào tạo và chính sách sử dụng nguồn nhân lực hợp lý).
Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh để đạt được sự tăng trưởng kinh tế
cao và ổn định phải thông qua việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật,
nghĩa là nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Chất lượng nguồn nhân lực được
nâng lên (học vấn, kỹ năng nghề nghiệp và sức khỏe) là tiền đề thành công của các
nước công nghiệp mới ở châu á như Hàn Quốc, Singapo, Hồng Công Trong bối
cảnh toàn cầu hóa, việc hấp thụ các tiến bộ về khoa học và công nghệ phụ thuộc chủ
yếu vào đội ngũ lao động kỹ thuật, đội ngũ trí thức. Do vậy, con đường duy nhất là
phải đầu tư để phát triển nguồn nhân lực.
Gần đây, người ta nói nhiều đến nền kinh tế tri thức. Đó là nền kinh tế mà ở
đó tri thức chiếm hàm lượng chủ yếu trong giá trị một sản phẩm. Tri thức tức là các
thành tựu khoa học, trở thành sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn nhiều so với các sản
phẩm vật chất khác, tạo ra giá trị mới ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn trong GDP.
Trong nền kinh tế tri thức, khả năng sáng tạo là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của
mỗi quốc gia, mỗi khu vực. Để có được nền kinh tế tri thức cần phải xây dựng hạ tầng
cơ sở vững chắc để phát triển khoa học công nghệ, đồng thời phải đầu tư cho phát
triển giáo dục và đào tạo. Hay nói cách khác, phải đầu tư cho phát triển nguồn nhân
lực. Suy cho cùng tri thức là hệ quả, là tất yếu của sự phát triển nguồn nhân lực. Các
nước muốn phát triển kinh tế tri thức cần phải đầu tư cho phát triển con người mà cốt
Thực tiễn các nước phát triển cho thấy, các nguồn lực thúc đẩy quá trình phát
triển kinh tế - xã hội (nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất
kỹ thuật, khoa học công nghệ ) giữa chúng có mối quan hệ nhân quả với nhau trong
quá trình phát triển, nhưng trong đó, nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh
quan trọng chi phối quá trình phát triển của mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác,
nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật ở chỗ nó
không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực
khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát huy được tác dụng khi kết
hợp với nguồn lực con người một cách có hiệu quả. Con người với tư cách là nguồn
nhân lực, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm
của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.3. Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, mới tiến hành CNH, HĐH
đất nước. Như vậy, về mặt thời gian chúng ta đã tụt hậu rất xa so với các nước trên thế
giới và khá xa so với các nước trong khu vực. Chẳng hạn, quá trình công nghiệp hóa
(thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc) của Anh là từ 1785-1860, của Pháp từ 1840-
1920, của Đức từ 1869-1960; của Mỹ từ 1843-1900; của Hàn Quốc từ 1962-1975, của
Đài Loan từ 1952-1970; của Nhật Bản từ 1886-1960 Tuy vậy, chúng ta có lợi thế là
đúc rút được kinh nghiệm của các nước đi trước, có thể nắm bắt được những tri thức,
những thành tựu của thế giới để rút ngắn thời gian CNH, HĐH đất nước. Điều quan
trọng hơn cả trong cuộc "bứt phá" này là chúng ta đang rất hạn chế về chất lượng
nguồn nhân lực. Hạn chế này làm cho Việt Nam đang tụt hậu khá xa về mặt tri thức so
với nhân loại. Đây là điều thách thức vô cùng lớn lao khi chỉ trong vòng 20 năm tới
nhân lợi sẽ bước vào nền kinh tế tri thức với những đổi thay vĩ đại về kinh tế và xã hội
(cũng trong khoảng thời gian đó, theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội
Đảng lần thứ VIII đề ra là nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp). Để đáp
ứng được đòi hỏi này, Đảng ta đã khẳng định chúng ta phải đi tắt, đón đầu, nếu không
chúng ta sẽ tụt hậu càng xa. Điều này chỉ có thể làm được khi chúng ta có chiến lược
đầu tư phát triển nguồn nhân lực một cách đúng đắn và phù hợp.
Hiệu quả đào tạo còn thấp. Đào tạo đại học và chuyên nghiệp chưa gắn với
nhu cầu sử dụng.
Cơ cấu đào tạo nhân lực về trình độ, ngành nghề chưa hợp lý, chất lượng
nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế. Nội dung và phương pháp
giảng dạy còn hạn chế.
Do những bất cập này của giáo dục nên chất lượng nguồn nhân lực nước ta
còn rất hạn chế. So với yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH thì nhân lực khoa học, công
nghệ của nước ta hiện nay còn quá thiếu hụt cả về số lượng, cơ cấu và trình độ, đó là:
Đa số lao động chưa qua đào tạo và trình độ học vấn thấp; số lao động được
đào tạo thì đa số đang làm việc trong các cơ sở có công nghệ cũ, lạc hậu hoặc làm trái
ngành, trái nghề.
Cơ cấu lao động được đào tạo còn mất cân đối quá lớn: cơ cấu giữa đại học -
trung học - công nhân ở nước ta hiện nay là: 1-1,5-3,5 trong khi cơ cấu đó ở các nước
là 1-4-10.
Lực lượng khoa học và công nghệ cao vừa thiếu lại vừa không đồng bộ; phân
bổ chưa hợp lý. Số cán bộ có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên phần lớn tập trung ở
vùng đô thị. Việc phân công, sử dụng đội ngũ này còn cứng nhắc, chưa phát huy được
năng lực và sở trường của họ. Mặt khác, lực lượng lao động có trình độ cao đang có
sự hẫng hụt giữa các thế hệ. Số đông trí thức có trình độ cao đã lớn tuổi, trong khi đó
đội ngũ kế cận còn rất thiếu
Với thực trạng nguồn nhân lực như vậy và với trình độ kinh tế còn thấp kém,
chúng ta chỉ có thể thực hiện CNH, HĐH bằng cách đi riêng với những nỗ lực của
mình. Để giải quyết bài toán nêu trên, song song với việc chăm lo cải thiện mức sống
dân cư, nâng cao thể chất của người dân nói chung và của người lao động nói riêng,
không có cách nào khác, chúng ta phải đầu tư cho giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực. Trong chiến lược phát triển giáo dục và chiến lược phát
triển nguồn nhân lực ở Việt Nam đã nêu các mục tiêu cơ bản là: nâng cao chất lượng
nghề, tạo việc làm, quản lý và sử dụng có hiệu quả nhân lực.
Với cách nhìn này, Hội nghị các chuyên môn nổi tiếng về nguồn nhân lực
nhóm họp tại Băng Cốc thuộc Thái Lan đã đưa ra hệ thống các khuyến nghị về phát
triển nguồn nhân lực, trong đó có: dạy nghề, đào tạo, tái đào tạo, hỗ trợ vốn - công
nghệ - tín dụng, tạo điều kiện cho thanh niên tiếp cận vi tính - tin học, bảo trợ lao động
nữ và vị thành niên, hỗ trợ người khuyết tật, tái hòa nhập cộng đồng cho những người sa
vào vòng các tệ nạn xã hội sau khi đã được giáo dục cải tạo, phát triển đội ngũ lao động
chất xám
Với cơ cấu và thực trạng dân số lao động của của nước ta và với nhu cầu phát
triển của thị trường lao động trong những năm tới, chúng ta cần và có thể phát triển
nguồn nhân lực một cách toàn diện theo các bình diện nêu trên.
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình biến đổi nhằm phát huy,
khơi dậy những khả năng con người, là phát triển toàn bộ nhân cách và từng bộ phận
trong cấu trúc nhân cách; phát triển cả năng lực vật chất và năng lực tinh thần, tạo
dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề, cả về tâm hồn và
hành vi từ trình độ chất lượng này lên trình độ chất lượng khác cao hơn, hoàn thiện
hơn.
Khái niệm trên cho ta thấy, phát triển nguồn nhân lực bao gồm cả ba nội dung
cơ bản, đó là: phát triển quy mô và cơ cấu dân số thích hợp; đào tạo nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực đáp ứng với yêu cầu CNH, HĐH quản lý, sử dụng có hiệu quả
nguồn nhân lực.
Chương 2
Thực trạng nguồn nhân lực
các dân tộc thiểu số Thanh Hóa trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
các dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Thanh Hóa đã biết đoàn kết, hợp tụ bên nhau cùng
tạo nên sức mạnh chống chọi với thiên nhiên, đánh giặc giữ nước, xây dựng bản làng
quê hương. Vì vậy, khi nói đến đất nước và con người của miền núi tỉnh Thanh Hóa,
ai cũng biết đó là đại gia đình của 7 dân tộc anh em: Kinh, Mường, Thái, Thổ, H'mông,
Dao và Khơ mú, mỗi anh em mỗi vẻ với những nét đẹp bản sắc và văn hóa riêng.
Dân tộc Mường có số thành viên đông nhất, hiện nay có hơn 30 vạn nhân khẩu
chủ yếu cư trú ở các huyện Bá Thước, Ngọc Lạc, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Như
Xuân Theo lịch sử nhân chủng học, người Mường ở Thanh Hóa có chung một nguồn
gốc với người Việt cổ. Ngoài cư sống hầu hết ở các huyện miền núi phía Tây, đồng
bào dân tộc Mường còn xen, sống ở một số huyện giáp ranh khác như Thọ Xuân,
Triệu Sơn, Hà Trung, Vĩnh Lộc. Người Mường có nền văn hóa đậm đà bản sắc dân
tộc, có sử thi "Đẻ đất đẻ nước" nổi tiếng, có truyện thơ Mường, người Mường đã đi
vào văn minh nông nghiệp làm lúa nước sớm như người Kinh và có kinh nghiệm,
truyền thống lâu đời về nghề rừng và chăn nuôi đại gia súc.
Dân tộc Thái ở Thanh Hóa có hai ngành Thái đen và Thái trắng. Phần lớn
người Thái sinh cơ lập nghiệp ở các huyện Quan Hóa, Bá Thước, Long Chánh,
Thường Xuân. Người Thái Thanh Hóa có mối quan hệ gần gũi, gắn bó với người Thái
Tây Bắc và Lào. Họ đều chung nhau một quan niệm: Mường Then là đất tổ của mình.
Buổi đầu vào miền núi Thanh Hóa, người Thái sống thành từng Mường theo các dòng
họ.
Dân tộc H'mông cư sống trên địa bàn biên giới vùng cao huyện Quan Hóa cũ.
Người H'mông di cư từ các tỉnh Sơn La, Lai Châu và Lào đến vùng núi Thanh Hóa
cách đây khoảng 200 năm. Người Mông vốn không thích sống xen ghép với dân tộc
khác, lại ở núi cao đi lại khó khăn nên ít va chạm với xã hội.
Dân tộc Thổ cư trú hầu hết ở huyện Như Xuân, hiện nay có hơn 8000 nhân
khẩu, chiếm gần 8% dân tộc thiểu số trong tỉnh. Người Thổ sống chủ yếu bằng nghề
ruộng, nương lại gần các trục đường giao thông thuận lợi nên cuộc sống cả vật chất và
tinh thần có nét khá hơn.