Luận văn thạc sĩ triết học Vấn đề phát triển lực lượng sản xuất thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay - Pdf 15

Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Văn kiện Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định một trong
những nhiệm vụ hàng đầu ở nớc ta là: "Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp
tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" [27, tr.9].
Để thực hiện nhiệm vụ trên, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định phát
triển lực lợng sản xuất là vấn đề quan trọng hàng đầu thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trởng kinh
tế nhanh, tạo tiềm lực kinh tế đủ mạnh từng bớc hội nhập kinh tế quốc tế để
từng bớc tiến lên chủ nghĩa xã hội, con đờng mà chúng ta đã lựa chọn. Trên cơ
sở đó từng bớc xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ và tính
chất của lực lợng sản xuất ở mỗi giai đoạn cụ thể.
Cùng với cả nớc, tỉnh Yên Bái đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
với những đặc điểm riêng của mình. Là một tỉnh miền núi Tây Bắc, có nhiều dân
tộc anh em, tỉnh Yên Bái có nhiều tiềm năng về kinh tế, có vị trí quan trọng về
chính trị, quốc phòng và an ninh. Do vậy, việc tổng kết thực tiễn, vận dụng lý
luận vào cuộc sống rút ra những bài học, kinh nghiệm để phát triển lực lợng sản
xuất ở tỉnh Yên Bái trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề có ý
nghĩa quan trọng và cấp thiết đối với cả lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ suy nghĩ trên, tôi chọn vấn đề: "Phát triển lực lợng
sản xuất ở tỉnh Yên Bái thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện
nay" làm đề tài luận văn thạc sỹ, với hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ
của mình cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc và địa phơng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua xoay quanh vấn đề "Phát triển lực lợng sản xuất
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" đã có rất nhiều công trình khoa học đề
cập. Những kết quả nghiên cứu này có giá trị lịch sử nhất định. Tuy nhiên,
thực tiễn luôn vận động biến đổi và phát triển nên mọi kết luận tổng kết vẫn
cần đợc bổ sung, phát triển.
Những công trình, bài viết tiêu biểu xoay quanh vấn đề này là: Nghiên

- Mục đích đề tài: Trên cơ sở phân tích thực trạng vấn đề phát triển lực l-
ợng sản xuất ở tỉnh Yên Bái thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay,
luận văn phát hiện vấn đề nảy sinh và đa ra những giải pháp chủ yếu nhằm
phát triển lực lợng sản xuất, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
của tỉnh Yên Bái.
- Nhiệm vụ:
2
+ Hệ thống lại những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của lực lợng sản
xuất trong sự phát triển xã hội.
+ Phân tích, đánh giá sự phát triển lực lợng sản xuất của Yên Bái trong
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chỉ ra những mâu thuẫn trong quá trình
phát triển lực lợng sản xuất ở tỉnh Yên Bái.
+ Phân tích triển vọng, phơng hớng và giải pháp nhằm phát triển lực lợng
sản xuất ở tỉnh Yên Bái.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển lực lợng
sản xuất ở tỉnh Yên Bái trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
(tất nhiên đặt nó trong quan hệ với quan hệ sản xuất).
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
- Đề tài đợc nghiên cứu trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin và t tởng Hồ Chí Minh, lý luận hình thái kinh tế - xã hội. Cùng với các
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những chủ trơng, chính sách, pháp
luật của Nhà nớc về phát triển lực lợng sản xuất. Đề tài còn kế thừa có chọn
lọc những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học, các bài viết đã đợc
công bố có liên quan đến đề tài.
- Đề tài sử dụng phơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phơng pháp lôgíc kết
hợp với lịch sử để phân tích, đánh giá sự phát triển của lực lợng sản xuất ở tỉnh
Yên Bái. Ngoài ra luận văn còn sử dụng những phơng pháp khác nh thống kê,
khảo sát, tổng hợp so sánh.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

"kép"; quan hệ với tự nhiên và quan hệ với xã hội, quan hệ với xã hội với ý
nghĩa đó là sự hợp tác của nhiều ngời, kể cả là trong những điều kiện nào, theo
cách nào và nhằm mục đích gì ? Trong đó quan hệ của con ngời với tự nhiên
trong sản xuất đợc biểu hiện là lực lợng sản xuất, còn quan hệ giữa ngời với
ngời trong sản xuất đợc biểu hiện là quan hệ sản xuất. Trong quan hệ "kép"
này, vai trò quyết định cuối cùng thuộc về lực lợng sản xuất của xã hội bởi lẽ
"Tổng thể những lực lợng sản xuất mà con ngời đã đạt đợc quyết định trạng
thái xã hội" [52, tr.42]. Vậy lực lợng sản xuất là gì ? Quan điểm của chủ nghĩa
Mác về vấn đề này nh thế nào?
Khi nói tới hoạt động sản xuất vật chất, C.Mác, Ph.ănghen và Lênin
không bàn nhiều về định nghĩa và các khái niệm lực lợng sản xuất và quan hệ
sản xuất, mà các ông trình bày thông qua quy luật quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ và tính chất của lực lợng sản xuất. Lực lợng sản xuất là khái niệm
của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Với việc vận dụng phép biện chứng duy vật để
giải quyết những vấn đề của lịch sử đã làm cho C.Mác và Ph.ănghen tiến một
bớc vợt bậc so với những nhà t tởng trớc.
Thuật ngữ "lực lợng sản xuất" lần đầu tiên đợc C.Mác nêu lên trong tác
phẩm Hệ t tởng Đức và đợc phát triển làm rõ thêm ở trong các tác phẩm: "Sự
khốn cùng của triết học", "Lao động làm thuê và t bản", "Tiền công, giá cả và
lợi nhuận" và nhất là trong "Bộ t bản". Thông qua việc phân tích, làm rõ quy
luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ và tính chất của lực lợng sản xuất
5
mà C.Mác đã chỉ ra bản chất của lực lợng sản xuất. Nhng khái niệm lực lợng
sản xuất cha đợc C.Mác phát biểu một cách hoàn chỉnh dới dạng định nghĩa
do vậy còn nhiều quan điểm khác nhau về lực lợng sản xuất. Trong lịch sử
phát triển của triết học các nhà triết học đa ra nhiều định nghĩa khác nhau về
lực lợng sản xuất. Về các định nghĩa khác nhau của lực lợng sản xuất nhiều
luận văn, luận án trớc đã trình bày. ở đây theo chúng tôi hiểu, lực lợng sản
xuất là hệ thống phơng thức kết hợp giữa ngời lao động với t liệu sản xuất
trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội nhất định.

mình, và do đó kéo dài cái tầm thớc tự nhiên của cơ thể đó" [58, tr.268].
Những t liệu sản xuất dù quan trọng đến đâu thì riêng bản thân chúng cũng
không tạo ra đợc của cải vật chất, nó chỉ có tác dụng khi con ngời sử dụng.
Cùng với việc tạo ra công cụ sản xuất, con ngời còn sử dụng những công
cụ đó để làm ra của cải vật chất cho xã hội. Từ những công cụ thủ công bằng
đá, bằng đồng, bằng sắt, con ngời tiến tới chế tạo máy móc với kỹ thuật mới,
công nghệ mới. Trên cơ sở vận dụng những thành tựu mới nhất của cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ, ngày nay con ngời bớc những bớc kỳ diệu trong
việc chinh phục tự nhiên. Cũng chính sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật sản
xuất đòi hỏi lao động của con ngời trở thành lao động có trí tuệ và lao động trí
tuệ. Mà trí tuệ con ngời không phải là cái gì siêu nhiên, nó là sản phẩm của tự
nhiên của lao động, trí tuệ hình thành và phát triển cùng với lao động làm cho
sản phẩm của lao động ngày càng có hàm lợng trí tuệ cao. Do đó ngời lao
động cần phải đợc tăng cờng tri thức trên mọi lĩnh vực.
Trong lực lợng sản xuất, con ngời và t liệu sản xuất có mối liên hệ hữu
cơ. Nó chính là hệ thống những phơng thức kết hợp trong quá trình sản xuất
của cải vật chất của xã hội. Trong lực lợng sản xuất, cụ thể trong t liệu sản
xuất công cụ lao động là yếu tố quyết định của lực lợng sản xuất, nó chính là
tiêu chí cơ bản thể hiện trình độ trinh phục tự nhiên của con ngời.
Công cụ lao động là cái vật hóa trí tuệ và tài năng sáng tạo của con ngời.
Với mục đích tăng năng suất lao động và giảm cờng độ lao động, con ngời đã
sáng tạo ra công cụ lao động. Nhờ đó công cụ lao động ngày càng đợc cải tiến
hiện đại. Trình độ của công cụ lao động là thớc đo trình độ chinh phục tự
nhiên của con ngời, là tiêu chuẩn để phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau.
C.Mác viết: "Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản
xuất ra cái gì mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những t liệu lao
động nào" [58, tr.269].
Công cụ lao động là cầu nối giữa ngời lao động với đối tợng lao động. Để
tác động vào đối tợng lao động bắt buộc con ngời phải sử dụng công cụ lao
động, để cải biến những vật liệu sẵn có trong tự nhiên thành những vật phẩm

còn gọi là nguyên liệu. Chúng thuộc đối tợng của các ngành công nghiệp chế
biến. Tuy nhiên, không phải mọi dạng vật chất có sẵn trong tự nhiên đều là đối
tợng lao động mà chỉ có những dạng vật chất có khả năng tạo ra những vật
phẩm theo những mục đích, yêu cầu đáp ứng những nhu cầu nào đó của con
ngời, và đợc con ngời tác động, khai thác, cải tạo thì chúng mới trở thành đối
tợng của lao động. Khi khoa học công nghệ càng cao, sản xuất xã hội càng
8
phát triển, khả năng cải tạo tự nhiên của con ngời ngày càng lớn thì khi đó
ngày càng nhiều dạng vật chất trở thành đối tợng lao động.
Cũng cần lu ý rằng mọi nguyên liệu đều là đối tợng của lao động nhng
không phải mọi đối tợng lao động đều là nguyên liệu. C.Mác nói: "Mọi
nguyên liệu đều là đối tợng lao động, nhng không phải mọi đối tợng lao động
đều là nguyên liệu. Đối tợng của lao động chỉ trở thành nguyên liệu khi đã trải
qua một sự biến đổi nào đó do lao động gây ra". Trong tơng lai nguyên liệu tự
nhiên cạn kiệt và đợc thay bằng những vật liệu không có trong tự nhiên, tơng
lai sử dụng những nguyên liệu "nhân tạo" thay thế cho dạng nguyên liệu
truyền thống, tuy nhiên những nguyên liệu "nhân tạo" đó cũng đều bắt nguồn
từ tự nhiên.
Trong t liệu sản xuất, ngoài công cụ lao động và đối tợng lao động còn có
phơng tiện sản xuất, kết cấu hạ tầng bao gồm: hệ thống dịch vụ, đờng xá, cầu
cống, bến bãi, nhà kho, thông tin những yếu tố này không trực tiếp tạo ra
sản phẩm. Trớc đây nó chỉ mang nghĩa dịch chuyển giá trị bên ngoài, không
đợc coi trọng thì nay đợc nhận thức lại và thấy rằng nó có ảnh hởng lớn tới giá
trị sản phẩm, đến sản xuất, nó là yếu tố nội sinh của quá trình sản xuất, góp
phần tạo ra giá trị mới. Sản phẩm hàng hóa làm ra chính nhờ kết cấu hạ tầng
này mà có thể tăng giảm giá trị sản phẩm, dịch chuyển Trong điều kiện của
cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện nay, lực lợng sản xuất không chỉ bao
gồm đối tợng lao động, phơng tiện và công cụ lao động, con ngời lao động với
những tập quán, thói quen, kỹ năng kinh nghiệm và tri thức lao động của mình
mà còn có cả yếu tố khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại.

sản xuất và kiến trúc thợng tầng, nâng trình độ ngời lao động, cải tiến công cụ
lao động, cải tạo đối tợng lao động, phơng tiện sản xuất Nó thâm nhập vào t
duy lãnh đạo quản lý, điều hành sản xuất và các lĩnh vực khác trong đời sống
xã hội để tạo ra sự thay đổi to lớn về kinh tế xã hội từ đó tìm ra những xu hớng
vận động của nền kinh tế để đa ra những chính sách phát triển kinh tế - xã hội
phù hợp.
Khoa học không chỉ tạo ra những hàng hóa thông thờng mà còn tạo ra
một loại hàng hóa đặc biệt, hàng hóa chất xám phi vật thể. Với cuộc cách
mạng khoa học công nghệ hiện đại, tri thức trở thành yếu tố không thể thiếu
đợc của lao động sản xuất, lao động trí tuệ đang dần trở thành lao động chủ
yếu. Lao động cơ bắp mặc dù không bị mất đi nhng dần dần đợc thay thế bằng
lao động trí tuệ của nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức đang và sẽ là một
nền kinh tế tiết kiệm tài nguyên nhng vẫn tạo ra một khối lợng của cải đồ sộ.
Điều này khẳng định trí tuệ của con ngời đang là nguồn lực to lớn của sản
xuất vật chất và hoạt động xã hội. Cho nên con ngời chính là yếu tố hàng đầu,
chủ yếu của lực lợng sản xuất. Có thể thấy khoa học công nghệ hiện đại đã
quyết định đến sự phát triển sản xuất, trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, nh-
ng nó không phải là yếu tố quyết định nhất trong lực lợng sản xuất. Công nghệ
10
tiên tiến và hiện đại chỉ làm tăng thêm khả năng chinh phục tự nhiên của con
ngời, giúp con ngời ngày càng tạo ra nhiều của cải vật chất, khám phá những
hiện tợng, khả năng mới của con ngời chứ không thay thế đợc hoàn toàn hoạt
động sản xuất của con ngời. Khoa học kỹ thuật hiện đại chỉ thay thế cho con
ngời những hoạt động nặng nhọc, phức tạp giúp con ngời có điều kiện để phát
triển trí tuệ, học tập và nghiên cứu.
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, các yếu tố của lực lợng sản
xuất không tách rời nhau mà chúng có quan hệ qua lại tác động hỗ trợ nhau để
cùng tồn tại và phát triển. Với ý nghĩa đó, lực lợng sản xuất trở thành yếu tố
động nhất, cách mạng nhất.
1.1.2. Phát triển lực lợng sản xuất - nhân tố quyết định cuối cùng sự

hiện có trong đó từ trớc đến nay các lực lợng sản xuất vẫn phát
triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lợng sản xuất,
những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của lực lợng sản xuất.
Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội [55, tr.15].
Lực lợng sản xuất phát triển làm thay đổi quan hệ sản xuất. Quan hệ sản
xuất thay đổi cho phù hợp lực lợng sản xuất làm thay đổi cả phơng thức sản
xuất. Phơng thức sản xuất thay đổi làm thay đổi kiến trúc thợng tầng. Kiến
trúc thợng tầng thay đổi phù hợp với cơ sở hạ tầng làm thay đổi cả hình thái
kinh tế xã hội -làm thay đổi toàn bộ xã hội cả vật chất lẫn tinh thần.
Ngày nay sự phát triển lực lợng sản xuất là nguyên nhân sâu xa của toàn
cầu hóa. Song, toàn cầu hóa lại tác động mạnh mẽ trở lại lực lợng sản xuất. Nó
thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của lực lợng sản xuất, đa lại sự tăng trởng
ngày càng cao cho nền kinh tế thế giới. Đầu thế kỷ XX, GDP thế giới tăng 2,7
lần nhng đến những năm cuối thế kỷ XX thì GDP đã đạt 5,2 lần, gấp 2 lần so với
những năm đầu thế kỷ. Với sự phát triển nhanh chóng của lực lợng sản xuất ,
nhất là trong xu thế toàn cầu hóa những nớc đang phát triển có thể tiếp nhận các
nguồn lực về vốn, công nghệ, về con ngời để tạo đà phát triển cho mình. Những
năm 70 của thế kỷ XX tốc độ tăng trởng kinh tế của những nớc đang phát triển từ
2,9%/năm thì đến những năm 90 đã lên đến 5%/năm.
Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho lực lợng sản xuất phát triển góp phần từng
bớc củng cố hoàn thiện quan hệ sản xuất. Hiện nay dới tác động của toàn cầu
hóa, khu vực hóa, lực lợng sản xuất phát triển càng nhanh chóng, thúc đẩy
nhanh quá trình cải tạo và phát triển xã hội.
Thực tế đã chứng minh từ khi nhìn nhận lại một cách đúng đắn mối quan hệ
giữa quan hệ sản xuất với trình độ và tính chất của lực lợng sản xuất, chúng ta
phát triển lực lợng sản xuất nhng đồng thời tiến hành xây dựng quan hệ sản xuất
phù hợp thì nền kinh tế Việt Nam có những bớc tăng trởng vợt bậc.
12
1.1.3. Yêu cầu của sự phát triển lực lợng sản xuất thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

năng suất lao động xã hội cao hơn, ngay trong khi cha có nền đại công
nghiệp [18, tr. 55].
13
Đảng ta đa ra chủ trơng phát triển lực lợng sản xuất trong Đại hội Đảng
lần thứ V là Đảng ta đã nhận thức đợc vai trò của lực lợng sản xuất mới là tạo
ra đợc một năng suất lao động cao hơn, nhng khi lực lợng sản xuất còn ở trình
độ sản xuất nhỏ manh mún thì phải nhận thức mối quan hệ giữa các yếu tố của
lực lợng sản xuất, từ đó Đảng đa ra chủ trơng đờng lối phát triển lực lợng sản
xuất:
Điều quan trọng nhất, việc có thể là cần phải làm trớc tiên là
làm chủ tập thể để sử dụng hợp lý và có hiệu quả lao động và đất
đai, mở rộng ngành nghề, tại từng cơ sở, trên từng địa phơng và
trong cả nớc; để mọi ngời lao động đều có việc làm, mọi đất đai đều
đợc khai thác, mọi ngành nghề đều đợc phát triển cả chiều rộng, lẫn
chiều sâu, tạo năng suất lao động xã hội cao hơn, giá trị tổng sản l-
ợng lớn hơn, cơ cấu sản phẩm phong phú hơn. Nh vậy, cần phải tập
trung phát triển mạnh nông nghiệp, đa nông nghiệp một bớc lên sản
xuất xã hội chủ nghĩa, trong một cơ cấu kết hợp chặt chẽ và đúng
đắn nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng
[18, tr.55-56].
Từ Đại hội VI đến nay, đờng lối phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của Đảng đã khắc phục những thiếu sót khuyết điểm, từng bớc đổi
mới phơng thức thực hiện phù hợp với thực tiễn đất nớc và tình hình thế giới
đã và đang có nhiều biến đổi. Thực hiện phát triển lực lợng sản xuất đồng thời
tiến hành xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ và tính chất của lực
lợng sản xuất.
Với đặc điểm chủ yếu của lực lợng sản xuất nớc ta hiện nay là sản xuất
nhỏ, thủ công phân tán, phân bổ không đều. Mà theo quan điểm chủ nghĩa
Mác - Lê nin, lực lợng sản xuất là nhân tố quyết định cuối cùng đối với sự
phát triển xã hội. Một nền sản xuất phát triển cao trớc hết phải dựa trên lực l-

ở Việt Nam ngay từ những năm 60, Đảng ta đã xác định công nghiệp hoá
là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ. Chủ trơng của Đảng về công
nghiệp hoá là: Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện
đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp lấy công nghiệp nặng làm nền tảng,
u tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ [16, tr.182-183].
Đến đại hội IV tiếp tục khẳng định đẩy mạnh công nghiệp hoá là nhiệm
vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ:
Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở
vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đa nền kinh tế nớc ta từ sản
xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và
15
công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả
nớc thành một cơ cấu kinh tế công nông nghiệp [17, tr.68].
Đại hội IV đờng lối công nghiệp hoá XHCN đã có sự điều chỉnh sát hơn,
hợp lý hơn.
Đại hội III và IV của Đảng đã khẳng định công nghiệp hoá là nhiệm vụ
trung tâm của cả thời kỳ quá độ nhng đến Đại hội V của Đảng, nội dung công
nghiệp hoá XHCN mới đợc xác định một cách cụ thể rõ ràng hơn: Trong 5
năm 1981 - 1985 và những năm 80 cần tập trung sức phát triển mạnh nông
nghiệp, coi nông nghiệp là một mặt trận hàng đầu, đa nông nghiệp một bớc
lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và
tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp nông
nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu
công - nông nghiệp hợp lý". Đó là những nội dung chính của công nghiệp hoá
trong chặng đờng trớc mắt.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI - bớc ngoặt trong đổi mới t duy của
Đảng ta về CNXH. T tởng chủ đạo của các chính sách kinh tế là giải phóng
mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nớc

một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phơng tiện và
phơng pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp
và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội
cao [22, tr.65].
Nh vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa thực chất là quá trình tạo ra những
tiền đề vật chất, kỹ thuật về con ngời, công nghệ, phơng tiện, phơng pháp -
những yếu tố cơ bản của lực lợng sản xuất cho CNXH. Nội dung cơ bản là cải
tiến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện
đại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao.
Nghị quyết cũng xác định:
Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến
nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện
đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với
trình độ phát triển của sức sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần
cao, quốc phòng - an ninh vững chắc, dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng văn minh [22, tr.70].
Từ khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để xác định rõ tại Hội nghị
lần thứ VII, Ban Chấp hành Trung ơng khoá VII đến Đại hội VIII và Đại hội
IX tiếp tục cụ thể hoá hơn về nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đại
hội VIII khẳng định nớc ta chuyển sang thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhiệm vụ đề ra cho chặng đờng đầu của
thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hoá đã cơ bản hoàn thành
cho phép chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
17
đất nớc" [24, tr.67- 68]. Đại hội IX khẳng định phát triển kinh tế công nghiệp
hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm [25, tr.91].
Vậy công nghiệp hoá là gì? hiện đại hoá là gì ? Vì sao nhất thiết phải gắn
công nghiệp hoá với hiện đại hoá. Đã có những thời kỳ chúng ta chỉ có công
nghiệp hoá mà không tính đến hiện đại hoá.
Công nghiệp hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động

Có thể thấy công nghiệp hóa, hiện đại hóa chính là quá trình làm chuyển
đổi căn bản toàn diện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc phải đảm bảo xây dựng
nền kinh tế độc lập tự chủ, trớc hết là độc lập tự chủ về đờng lối,
chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có mức tích lũy
ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức
cạnh tranh, kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và có một số ngành
công nghiệp nặng then chốt, có năng lực nội sinh về khoa học công
nghệ, giữ vững ổn định kinh tế - tài chính, môi trờng xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,
kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển
đất nớc [27, tr.91-92].
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nớc là một nhiệm vụ chiến
lợc quan trọng hàng đầu để tiến tới xây dựng một xã hội dân giàu, nớc mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nớc cũng đồng thời là quá trình giải quyết hàng loạt mối quan hệ nhà nớc
và thị trờng, sở hữu và kinh doanh, giữa việc phát triển các yếu tố của lực lợng
sản xuất với quan hệ sản xuất, giữa phát triển kinh tế với tiến bộ công bằng xã
hội, phát triển kinh tế với bảo vệ môi trờng sinh thái, giữa truyền thống và
hiện đại, đòi hỏi phải đợc giải quyết. Nhng yếu tố quyết định tác động trực
tiếp đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đó chính là lực lợng sản xuất,
nó đảm bảo thành công hay thất bại của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và công nghiệp hoá hiện đại hoá cũng chính là nhân tố tạo bớc nhảy về
chất cho sự phát triển của lực lợng sản xuất.
1.2.2. Sự tác động của lực lợng sản xuất (xét trong quan hệ với quan
hệ sản xuất) đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là để tạo ra những tiền đề cơ sở vật chất để
làm chuyển đổi mọi mặt đời sống xã hội.
Để tiến hành sản xuất, con ngời không chỉ có quan hệ với giới tự nhiên
mà còn có quan hệ với nhau tức là những quan hệ sản xuất. Trong tác phẩm

nhau trong tổ chức lao động và phân phối sản phẩm. Do t liệu sản xuất là tài
sản chung của cả cộng đồng nên các quan hệ xã hội trong sản xuất vật chất và
đời sống xã hội nói chung trở thành quan hệ hợp tác tơng trợ giúp đỡ lẫn nhau.
Ngợc lại, sở hữu t nhân thì t liệu sản xuất chỉ nằm trong tay một số ít ngời nên
của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về số ít ngời đó, vì thế các
quan hệ xã hội trở thành bất bình đẳng, quan hệ thống trị và bị trị. Tạo ra các
đối kháng xã hội, trong các xã hội tồn tại chế độ t hữu, tiềm tàng, trở thành
đối địch gay gắt. Đây là nguồn gốc sinh ra đối kháng giai cấp và đấu tranh
giai cấp.
20
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ, trong các chế độ sở
hữu t nhân điển hình trong lịch sử; sở hữu t nhân của xã hội chiếm hữu nô lệ,
sở hữu t nhân của chế độ phong kiến; sở hữu t nhân trong CNTB, thì trong đó
sở hữu t nhân trong CNTB là đỉnh cao của loại sở hữu này. CNXH dựa trên
chế độ công hữu về t liệu sản xuất, dù sớm hay muộn cũng sẽ đóng vai trò phủ
định đối với chế độ t hữu.
Quan hệ sở hữu quyết định quan hệ tổ chức quản lý và phân phối sản
phẩm, song, quan hệ tổ chức và phân phối sản phẩm cũng tác động trở lại chế
độ t hữu. Vì:
Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt quản lý sản
xuất, tổ chức là các quan hệ có khả năng quyết định một cách trực tiếp quy
mô, tốc độ, hiệu quả và xu hớng của mỗi nền sản xuất cụ thể bằng cách nắm
bắt các nhân tố xác định của một nền sản xuất, điều khiển và tổ chức cách thức
vận động của các nhân tố đó, các quan hệ tổ chức và quan hệ quản lý sản xuất có
khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm các quá trình khách quan của sản xuất.
Các quan hệ về mặt tổ chức và quản lý sản xuất luôn có xu hớng thích
ứng với kiểu quan hệ sở hữu thống trị của mỗi nền sản xuất cụ thể. Do vậy,
việc sử dụng hợp lý các quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất có khả năng vơn
tới tối u. Trong trờng hợp ngợc lại các quan hệ quản lý và tổ chức có thể làm
biến dạng quan hệ sở hữu, ảnh hởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội.

không ngừng biến đổi và phát triển, sự biến đổi và phát triển luôn bắt đầu từ
lực lợng sản xuất, lực lợng sản xuất biến đổi đến một trình độ nào đó sẽ mâu
thuẫn với quan hệ sản xuất hiện có, làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp
đến không phù hợp tạo ra những xiềng xích trói buộc lực lợng sản xuất, kìm hãm
sự phát triển của lực lợng sản xuất. Do đó, đòi hỏi phải xoá bỏ quan hệ sản xuất
cũ, thay bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ và tính chất của lực lợng
sản xuất để cởi trói cho lực lợng sản xuất tiếp tục phát triển.
Điều đó có nghĩa phải phát triển lực lợng sản xuất rồi mới xây dựng quan
hệ sản xuất phù hợp với nó chứ không chủ quan nóng vội xây dựng một kiểu
quan hệ sản xuất mới, áp đặt cho nó, sẽ tạo ra những sai lầm nh trớc những
năm đổi mới. Nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
phải phát triển lực lợng sản xuất nhng đồng thời tạo sự phù hợp giữa quan hệ
sản xuất với lực lợng sản xuất. C. Mác viết: Những quan hệ xã hội đều gắn
liền mật thiết với những lực lợng sản xuất. Do có đợc những lực lợng sản xuất
mới, loài ngời thay đổi phơng thức sản xuất của mình và do thay đổi phơng
thức sản xuất cách kiếm sống của mình loài ngời thay đổi tất cả những quan
hệ xã hội của mình [53, tr.187].
Khác với lực lợng sản xuất luôn luôn vận động biến đổi và phát triển thì
quan hệ sản xuất có tính ổn định tơng đối. Nó tác động trở lại với lực lợng sản
22
xuất. Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, khuynh hớng phát
triển của quan hệ lợi ích, nh mục đích sản xuất của đất nớc ta hiện nay là để
làm sao thúc đẩy hoàn thành nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
tạo ra một lực lợng sản xuất phát triển cao để xây dựng quan hệ sản xuất xã
hội chủ nghĩa phù hợp với nó. Ngoài ra quan hệ sản xuất còn tạo ra một hệ
thống những yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ và tính chất của lực lợng sản xuất nó
sẽ thúc đẩy cho lực lợng sản xuất phát triển nhanh chóng. Và khi quan hệ sản
xuất không phù hợp với trình độ và tính chất của lực lợng sản xuất sẽ kìm hãm sự
phát triển của lực lợng sản xuất. Đó là biểu hiện tính năng động của lực lợng sản

Điều này thể hiện:
- Bồi dỡng, đào tạo lại lực lợng lao động hiện có và quy hoạch đào tạo
mới nguồn nhân lực.
- Góp phần soạn thảo chiến lợc, các chính sách của công nghiệp hóa hiện
đại hóa; đồng thời cụ thể hóa chúng bằng các chơng trình, kế hoạch hành
động cụ thể.
- Sáng tạo và tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, ứng
dụng chúng vào trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội để thúc đẩy xã
hội phát triển.
- Đa ra các phơng án, biện pháp để điều chính và định hớng quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời góp phần giải quyết các mẫu thuẫn
nảy sinh trong quá trình này.
- Dự báo những thuận lợi và khó khăn; khả năng, triển vọng phát triển
của đất nớc và cả nguy cơ nếu có [71, tr.326].
Chính vì vậy, không phát huy nguồn lực con ngời, không đảm bảo quá
trình "Tăng trởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa,
giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trờng" [24, tr.85] thì
không thể có thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Hiện nay, trong xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa sự yếu kém về công
nghệ kỹ thuật thì các nớc có thể khắc phục đợc bằng con đờng chuyển giao,
nhập khẩu Nhng còn ngời lao động với những khả năng sáng tạo của họ thì
không thể dễ dàng nhập khẩu hoặc vay mợn đợc mà phải thuê chuyên gia và
đào tạo chuyên gia cho mình. Do đó, ngời lao động là yếu tố quan trọng nhất
của sự phát triển kinh tế - xã hội. Là yếu tố quyết định sự thành công của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc không thể
không dựa trên nền tảng vững chắc của khoa học công nghệ hiện đại. Tại Hội
nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ơng khóa VIII, Đảng ta đã xác định rõ:
"Công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nớc phải bằng và dựa vào khoa học công
nghệ" [25, tr.59]. " Khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động

2.1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội
Nằm ở vị trí địa lý 21
0
18' - 22
0
17' vĩ Bắc và 103
o
56' - 105
0
06' kinh Đông.
Yên Bái là một tỉnh miền núi nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa Tây Bắc và
Trung du Bắc bộ. Phía Tây Bắc giáp tỉnh Lao Cai, phía Đông Bắc giáp hai tỉnh
Tuyên Quang và Hà Giang; Phía Đông Nam giáp tỉnh Phú Thọ và phía Tây
Nam giáp tỉnh Sơn La với tổng chiều dài địa giới giáp các tỉnh nói trên là 710
km (trong đó giáp Lao Cai 252Km, giáp Sơn La 205 km)
25

Trích đoạn Mâu thuẫn giữa yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa cao với những trang thiết bị công nghệ tơng ứng thấp, thiếu và yếu Phát triển lực lợng sản xuấ tở tỉnh Yên Bái phải tuân theo định hớng xã hội chủ nghĩa Phát triển lực lợng sản xuất phải đảm bảo việc khơi dậy nguồn lực con ngời, nguồn tài nguyên vốn có phù hợp với đặc điểm tình Tăng cờng sự lãnh đạo của tỉnh Đảng bộ, nâng cao hiệu lực quản lý của ủy ban nhân dân tỉnh đối với phát triển lực lợng sản xuất ở Xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất theo hớng khơi dậy, phát huy nguồn lực con ngời, tài nguyên, phù hợp với lực lợng sản xuất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status