Vai trò lực lượng sản xuất đối sự phát triển xã hội và vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở đia phương - Pdf 12

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU

Trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với những mục
tiêu dân giầu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn minh, hiện nay con người và
nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hang đầu ,quyết định sự phát triển nhanh,
hiểu quả và bền vững nền kinh tế nước ta .Đó là yếu tố hết sức bức thiết và cần có tính cập
nhật, đáp ứng được yêu cầu về con người và nguồn nhân lực xet trong nước ta nói riêng
và quốc tế nói chung.Chúng ta khẳng định con người vừa là mục tiêu vừa la động lực của
phát triển kinh tế xã hội đồng thời phải là những con người có trí thức và đạo đức.Từ đây
mỗi con người dần dần về đúng vị trí là chủ thể sang tạo ra các giá trị ,bao gồm các giá trị
tinh thần và giá trị vật chất, cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy vấn đề cốt lõi là ta phải
thực hiện chiến lược giáo dục đào tạo nguồn nhân lực,phát triển con người một cách toàn
diện cả thể lực lẫn trí lực .Do vậy em chọn đề tài “Vai trò lực lượng sản xuất đối sự
phát triển xã hội và vấn đề phát triển lực lượng sản xuất ở đia phương ”
Trong bài viết của em còn nhiều thiếu xót, và ngôn từ chưa được đầy đủ em mong
thầy đóng góp ý kiến va chỉnh sửa để bài viết em được tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
NỘI DUNG

I .Khái niệm lực lượng sản xuất và vai trò của lực lượng sản xuất đối vớ sự
phát triển của xã hội
1 . Khái niệm lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là : biểu hiện trình độ chinh phục của con người và quan hệ của
con người với thiên nhiên trong từng giai đoạn lịch sử; là sự thống nhất hữu cơ giữa lao
động đã tích luỹ (tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động) với lao động sống
(những người sử dụng tư liệu sản xuất) để sản xuất của cải nhằm đáp ứng những nhu cầu
sinh sống và phát triển của con người trong mọi xã hội. LLSX chủ yếu là người lao động,
có thói quen và kĩ năng lao động, có kinh nghiệm, tri thức và trình độ chuyên môn - kĩ

kết quả lao đọng những quan hệ sản xuất này mang tính tất yếu.Như vậy quan hệ sản xuất
do con người tạo ra song nó được hình thành một cách khách quan không phụ thuộc
vào ý muốn của bất kỳ ai. Việc phải thiết lập các mối quan hệ trong sản xuất tự nó đã là
vấn đè có tính quy luật tất yếu , khách quan của sự vận động xã hội .
Với tính chất là những quan hệ kinh tế khách quan không phụ thuộc vào ý muốn
của con người , quan hệ sãnuất là những quan hệ mang tính vật chất đời sống xã hội. Quan
hệ sản xuất là hình thức xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở của đời sống xã hội
1.2. Quan hệ xã hội có 3 mặt:
_Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất tức là quan hệ giữa người với tư liệu sản
xuất.Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan hệ sở hữu đối vơi
tư liệu sản xuất –Biệu hiện thành chế độ sở hữu , trong hệ thống các mối quan hệ sản
xuất thf quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất cò vai trò quyết định đói với các quan hệ xã
hội khác
- Quan hệ tổ chức và quản lý kinh doanh sản xuất.:Tức là quan hệ giữa người với
người trong sản xuất và trong trao đổi vật chất của cải .Trong hệ thống các mối quan hệ
sản xuất các quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định
một cách quy mô tốc độ hiệu quả và xu hướng mõi nền sản xuất cụ thể đi ngược lại các
quan hệ quan lý và tổ chức có thể làm biến dạng quan hệ sở hữu ảnh hưởng tiêu cực đến
kinh tế xa hội.
- Quan hệ phân phối sản xuất sản phẩm:Tức là quan hệ chặt chẽ với nhau cùng
mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tư liệu sản xuất để làm cho chúng không
ngừng được tăng trưởng, thúc dẩy tái sản xuất mở rộng nâng cao phúc lợi cho người lao
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
động.Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức quản lý , trong hệ thống quan hệ sản xuất các
quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to
lớn đối với sự vận động của toàn nền kinh té. Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ
và nhịp điệu của sản xuất nhưng ngược lại nó có khả năng kìm hãm sản xuất kìm hãm sự
phát triển của xã hội.
Nếu xét trong pham vi một quan hệ sản xuất nhất định thì tính chất sở hỡu quyết

trực tiếp).
Tác giả chương X bộ Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1999, tại trang 437, viết: "C.Mác dự kiến rằng khoa học trở thành "lực lượng sản xuất
trực tiếp", trở thành "lực lượng sản xuất độc lập" (nhưng không ghi xuất xứ của những
cụm từ này)...
Trong bài Có phải khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đăng trên
Tạp chí Triết học, Số 2, 2002, tr.58 - 62, TS. Nguyễn Cảnh Hồ khắng định: "Trong các tác
phẩm của C.Mác, chưa thấy chỗ nào đưa ra dự báo nói trên" (tr.58). TS. Nguyễn Cảnh Hồ
còn nhấn mạnh: "Việc đưa ra nhận định sai lầm "khoa học đang trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp” sẽ gây ra những tác hại... vô tình truyền bá quan điểm duy tâm.... Cũng từ
đó, người ta có thêm căn cứ để phủ nhận lý luận về hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa
Mác" (tr.62).
Như vậy, trong giới nghiên cứu, giảng dạy lý luận ở nước ta đã có nhiều loại ý kiến
khác nhau về vai trò, tác động của khoa học trong sản xuất, về quan điểm của C.Mác đối
với vấn đề này. Nhưng tựu trung lại, có ba loại ý kiến cơ bản: 1) khẳng định khoa học đã
trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, 2) nhận định khoa học đang trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp và cho rằng C.Mác đã dự báo điều này, 3) phản bác lại nhận định khoa học
đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và cho rằng C.Mác không dự báo như vậy.
Trong các tác phẩm của C.Mác và Ph. Ăngghen đã được dịch ra tiếng Việt rõ ràng là
các ông có khẳng định rằng, tri thức (khoa học) đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Cụ thể, trong Phê phán khoa kinh tế chính trị, bản sơ thảo đầu tiên của bộ Tư bản, dược
viết trong những năm 1807 - 1858, C.Mác đã nhấn mạnh: "Sự phát triển của tư bản cố định
là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến [Wissen knowledg] đã chuyển hoá đến mức độ
nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện
của chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ
phổ biến và đã được cải tạo đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy, những lực
lượng sản xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào không những dưới hình thức tri thức,
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status