“Học thuyết mâu thuẫn” trong triết học Hêghen, ý nghĩa của nóvới
lịch sử tư tưởng nhân loại
1.2.1. Một số quan niệm trước Hêghen về mâu thuẫn
Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của xã hội cho thấy rằng, những
quan điểm lí luận của mỗi thời đại không bao giờ xuất hiện trên mảnh đất
trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa những tài liệu lí luận của các
thời đại trước. Chẳng hạn, như chủ nghĩa Mác đã kế thừa nhưng tinh hoa tư
tưởng của loài người mà trực tiếp là nền triết học cổ điển Đức, kinh tế chính
trị học cổ điển Anh, chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Đặc điểm này được
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin gọi là “ý thức xã hội có tính kế
thừa trong sự phát triển của nó” [1, 436]. Khi xây dựng hệ thống triết học của
mình nhất là phương pháp biện chứng trong đó có học thuyết về mâu thuẫn,
ông đã chắt lọc và kế thừa những tư tưởng biện chứng trong lịch sử triết học.
Do vậy, nếu nói rằng Hêghen là người đầu tiên trình bày về mâu thuẫn thì đây
là quan niệm không đúng đắn.
Bởi vì trước đó đã có nhiều triết gia đã bàn về vấn đề này trên nhiều gốc
độ và nhiều lăng kính khác nhau. Một trong những người đầu tiên bàn về mâu
thuẫn phải kể đến đó là Lão Tử - thủ lĩnh của phái “Đạo gia” ở Trung Quốc cổ
đại. Toàn bộ những quan niệm về mâu thuẫn của ông được trình bày khá vẹn
toàn trong học thuyết về “Đạo”. Lão Tử cho rằng: Những cái mâu thuẫn đối
lập mà thống nhất với nhau trong hiện thực chính là nguồn gốc của mọi sự rối
loạn và tai họa. Trong xã hội ông dẫn chứng rằng: “Khi đạo lớn bị phá bỏ thì
xuất hiện nhân và nghĩa, khi trí tuệ xuất hiện thì sinh ra giả dối nhiều, khi gia
tộc không hòa thuận thì xuất hiện hiếu và từ, khi quốc gia rối loạn thì xuất
hiện trung thành”. Và ông cũng cho rằng: Sự vật phát triển đến tột cùng sẽ
xoay ngược lại tai nạn sẽ biến thành hạnh phúc.
Từ nhận thức trên ông đề ra biện pháp có tính lí luận triết học để giải
quyết hiện thực là: do những cái đối lập tồn tại dựa vào nhau, thống nhất với
nhau nên bài trừ được một mặt trong đó thì cũng từ bỏ được mặt kia. Mặt
học lâm nguy cũng có lúc huy hoàng.
Trải qua đêm trường trung cổ, khi mọi thứ bị đè bẹp dưới cây thánh giá,
triết học bị coi là tì thiếp của thần học, tất cả đều phục tùng ý chúa. Vì vậy
những quan điểm biện chứng duy vật trong triết học đã bị bỏ quên, phủ lên
một lớp rêu phong mang tên thần học trong suốt hơn mười thế kỉ. Bước qua
thời kì phục hưng và cận đại với sự thống trị của chủ nghĩa duy lý đã đưa tư
duy siêu hình lên thế thượng phong. Triết học chân chính và những chân lý
đúng đắn về sự tiến hóa một lần nữa phải nằm im chờ đợi nhưng không có
nghĩa là đã bị dập tắt mà những triết gia mang trong mình những tư tưởng
triết học chân chính đều tin rằng: triết học duy vật và phương pháp biện
chứng mới thực sự là cứu cánh của loài người. Cái mà sau này Hêghen nói
“cái gì hợp lí thì tồn tại”.
Lịch sử triết học luôn là một chủ đề phong phú và đa dạng, muôn hình
muôn vẻ với hằng ha sa số những quan điểm nối tiếp quan điểm như Trường
giang sóng “trùng trùng điệp điệp”, sóng sau xô sóng trước. Nhưng có một
điều thú vị rằng: tất cả những triết gia, trường phái triết học có tư tưởng biện
chứng bất kể là duy tâm hay duy vật thì đều bằng cách này hay cách khác
thừa nhận thế giới này là một hệ thống “động”. Thú vị hơn họ còn cho rằng:
Nguyên nhân làm nên yếu tố “động” là sự đấu tranh và thống nhất của
các mặt đối lập. Đúng như vậy, vườn hoa triết học tuy rực rở màu sắc đa dạng
những mùi hương nhưng vẫn tồn tại cái đặc trưng riêng có của nó như là cái
mạch ngầm chảy suốt chiều dài lịch sử. Giờ đây ta có thể lấy học thuyết về
mâu thuẫn làm nơi gặp gỡ của những triết gia mang trong mình tư tưởng biện
chứng. Những Lão Tử, Thích Ca Mâu Ni, Hêraclít, Hêghen hay C. Mác. . .
tuy mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi lập trường, mỗi thời đại khác nhau nhưng
sự giao thoa giữa họ đã làm nên một thứ triết học chân chính và khoa học. Đó
là phương pháp luận biện chứng mà trong đó mỗi nhân vật là một đại biểu,
một mắt xích cho quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của phép biện chứng.
sâu hơn tồn tại của “tinh thần thế giới”. Tư tưởng biện chứng ấy của Hêghen
được cụ thể hóa ở chỗ bản chất có ba giai đoạn: “bản chất với tư cách là bản
chất”, “hiện tượng” và “hiện thực”. Với cách đặt vấn đề như vậy Hêghen đã
bắt đầu lí luận về “học thuyết bản chất” với:
Thiên nhất thứ: Bản chất với tính cách là bản chất. “Bản chất” với tính
cách này được hiểu là “các phương diện mâu thuẫn của nó được phản ánh
thông qua nhau”. Đó là bản chất với tính cách là “phản tư tự thân” hay là “bản
chất thuần túy”, được Hêghen cắt nghĩa là sự hiện ra của bản chất trong bản
thân mình. Nhưng bản tính của bản chất bao giờ cũng vận động vì ngay từ
đầu ở giai đoạn bản chất với tính cách là bản chất nó là sự đồng nhất của
những qui định không giống nhau. Trong sự đồng nhất đó sự “phản tư” diễn
ra ở một bản chất đơn thuần, tức là bản chất được phản ánh trước hết trong
bản thân nó thông qua sự phản ánh và biến đổi nó. Ta thấy rằng ở đây Hêghen
trình bày sự phát triển của bản chất là có tính mâu thuẫn vì sự tiến lên nào
cũng bao hàm sự đánh mất một cái gì đó. Sự phát triển ở phương diện này
được bù lại cho sự thụt lùi ở phương diện khác. Điều này có nét tương đồng
với định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng vậy.
Rõ ràng Hêghen đã thấy được mối liên minh giữa triết học với khoa học
tự nhiên. Sự phản tư ấy được Hêghen cắt nghĩa là “sự hiện ra của bản chất
trong bản thân mình”. Đến lượt nó (bản chất) cũng được ông trình bày thông
qua những vòng khâu đó là: đồng nhất – khác nhau – mâu thuẫn – căn cứ.
Đây là tiến trình tự triển khai và trở về hoàn thiện của bản chất với tính cách
là một giai đoạn của “ý niệm lôgích”.
Với Hêghen sự đồng nhất ở đây là đồng nhất của các mặt đối lập, đó là
đồng nhất biện chứng hiểu theo nghĩa tự đồng nhất. Cách lí luận về sự đồng
nhất này hoàn toàn khác với lôgích hình thức, nhưng trong sự đồng nhất đã
bao hàm của cái không đồng nhất, tức là “khác nhau” chính yếu tố này đã
thúc đẩy sự vận động. Nhưng cái khác nhau không bao giờ xa lạ với cái đồng
mâu thuẫn theo lối cách mạng. Đến những giai đoạn phát triển cao của “tinh
thần tuyệt đối” thì sẽ diễn ra loại vận dộng biện chứng mà ở trong đó những
mặt đối lâp lại phù hợp với nhau một cách nhịp nhàng” [14, 134]. Con đường
đi của cái bản chất thông qua sự “đồng nhất” đến “khác nhau” qua “mâu
thuẫn” và trở về với “căn cứ”. Cuối cùng sự “phản tư tự thân” cũng xóa bỏ
nốt các “căn cứ” chuyển sang “điều kiện” và bước tiếp theo sẽ là gì? Hêghen
đã luận giải cho chúng ta trong thiên thứ hai.
Thiên thứ hai: “Hiện tượng” (thực tồn). Sau khi đã “dọn sạch” các hiện
tượng ra khỏi tính vật chất của nó và đưa các hiện tượng vào trong vòng trói
duy tâm về bản chất, Hêghen mới bắt đầu xét đến các qui luật của hiện tượng.
Theo định nghĩa của ông thì “qui luật là tính bền vững được bảo tồn của hiện
tượng”. Trong khi một hiện tượng này được chuyển qua một hiện tượng khác
thì nổi bật lên một tính vững bền nào đó, một nhân tố khẳng định sự bảo tồn.
Sự thống nhất đó là qui luật của hiện tượng, do đó mà qui luật là cái khẳng
định trong sự trung giới của hiện tượng. Theo Hêghen “bề ngoài” là cái hiện
ra trong sự tự phản tư bản chất, về tổng quan nó vẫn còn bảo tồn bản chất
nhưng dưới dạng đã bị “tam sao thất bản”. Tiến triển về lượng của sự trung
gian hóa đến mức nhận được bản chất làm cho bề ngoài chuyển hóa về chất
thành “thực tồn” mang tính bản chất tức là “hiện tượng”. Đến đây ta đã thấy
được con đường đi từ bề ngoài đến hiện tượng, khi “thực tồn” có bản chất thì
đó là hiện tượng.
Ở hiện tượng bản chất đã bị phân chia làm cho tính chỉnh thể, toàn vẹn
của nó không còn nhưng trái lại hiện tượng lại là bản chất một cách sát nhất
trong sự thực tồn của nó. Quay lại phạm trù “qui luật” trong sự vận động của
sự vật các thuộc tính sẽ chuyển hòa thành các thuộc tính đa dạng. Với ông sự
thống nhất giữa các thuộc tính đó là qui luật và bản thân nó cũng là yếu tố
“động”. Đến đây Hêghen lại nhấn mạnh mối quan hệ giữa “qui luật” và “quan
hệ”, với ông giữa chúng có mối tương quan với nhau bởi lẽ cả hai luôn có bản
Hêghen sở dĩ là nó ngẫu nhiên bởi vì nó là thống nhất giữa “khả năng” và
“hiện thực”. Mâu thuẫn bao hàm trong cái ngẫu nhiên biểu hiện ở chỗ cái
“ngẫu nhiên” vừa là cái cơ sở lại vừa không có cơ sở. Do đó “ngẫu nhiên”
chính là biểu hiện tính hai mặt của bản thân hiên thực trong sự thống nhất
giữa hiện thực và khả năng ngay cả trong sự đối lập của nó với khả năng. Từ
đây xuất hiện mối quan hệ lẫn nhau giữa những khái niệm “ngẫu nhiên” và
“tất yếu”. Hiện thực ở trong sự đồng nhất với “khả năng” là đặc tính sẵn có
của “tất yếu” đồng thời “ngẫu nhiên” là sự thống nhất giữa “hiện thực” và
“khả năng”. Vì thế mà “ngẫu nhiên” và “tất yếu” không những loại trừ nhau
mà còn là điều kiện tồn tại của nhau.
Tóm lại với học thuyết về bản chất được Hêghen cấu thành bộ phận thứ
hai của lôgích học, chúng ta đã thấy được ông trình bày học thuyết về mâu
thuẫn như thế nào và các cặp phạm trù ra sao? Không thể phủ nhận rằng
Hêghen đã thấy được mâu thuẫn và bóc trần nó với tư cách là nguyên nhân
của sự vận động và phát triển. Song ông không rút nó ra tự nhiên, lịch sử, xã
hội mà lại rút nó ra từ tinh thần. Rất khoa học khi thấy mâu thuẫn là cái gốc
của vận động nhưng thật “ngu xuẫn” khi chỉ thấy đó là vận động của tư duy,
của lý tính thế giới mà thôi. Cái trật tự vốn có của thế giới bị Hêghen đảo lộn
một trăm tám mươi độ không thừa không thiếu. Đồng thời ông lại “bưng bít”
mâu thuẫn và cố ép nó vào trạng thái chung sống “hòa bình” với nhau giữa
các mặt đối lập. Hêghen còn mưu toan những mâu thuẫn đó sẽ được giải
quyết một cách ôn hòa, cái mới sẽ thỏa hiệp với cái củ. Những âm mưu này sẽ
nảy sinh ra hệ quả là biện chứng của ông chỉ quay lại cái ban đầu mà thôi.
Hơn nữa cái ban đầu ấy lại một lần nữa bị ông giải thích bằng quan điểm duy
tâm phản động.
Chính lập trường đó đã tạo nên mâu thuẫn không thể giải quyết giữa hệ
thống và phương pháp triết học Hêghen, mâu thuẫn đó sẽ làm cho phương
pháp luôn luôn chống lại hệ thống. Sai lầm này đã khiến ông mặc dù đã biết
trong những hình thức vật thể hóa khô cứng, không thay thế nó bằng cái trật
tự vũ trụ tự khép kín ở bản thân.
Hay nói cách khác với nó (mâu thuẫn) không có chỗ cho sự tồn tại dù
chỉ là một cái bóng mờ nhạt nhất của đấng siêu nhiên. Chỉ có phương thức tư
duy như thế mới cho phép nhận ra rằng: “thế giới xã hội của vật” [19, 293] là
cái hiện thực thực sự của con người, phát hiện ra đằng sau những cấu trúc
năng động và khách quan là khả năng tự hoạt động của con người. Đặc biệt
điều đó liên quan đến những chủ đề xã hội mà chủ đề xã hội đó có liên quan
đến những khả năng tiềm tàng của tương lai đã bị che đậy. Bằng cách vạch ra
những khả năng tiềm tàng này như những cái bắt nguồn trong hiện thực lịch
sử. Do đó, phép biện chứng đóng một vai trò tự phê phán, được thực hiện
trong những khái niệm của lịch sử loài người, của quá trình khách quan.
Trong đó tất cả mọi cái hữu hạn đã hình thành đều phải đứng ra trước tòa án
của sự hình thành sáng tạo vô hạn. Do đó, phép biện chứng được C.Mác
dụng trong “Bộ Tư Bản” với tất cả những đặc trưng phương pháp luận của nó
bị cuốn hút về vấn đề mâu thuẫn là cái trung tâm thực sự của nó. Ở đây, theo
lời Mác là “cái cội nguồn sinh động của toàn bộ phép biện chứng”. Chính nhờ
chỗ Mác không ngừng quay lại cái cội nguồn sinh động này khi nghiên cứu
phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa, thế nên ông mới thâm nhập được sâu
sắc đến như thế.
Nắm được nó với tư cách là một thể toàn vẹn, cũng như vạch ra được
khuynh hướng lịch sử dẫn đến sự thay thế nó bằng phương thức sản xuất xã
hội chủ nghĩa. Khái niệm “mâu thuẫn” trong tư duy là điều tối quan trọng để
có thể khẳng định ai đó là biện chứng, ai kia là siêu hình. Với Hêghen, ông
coi mâu thuẫn như là cha đẻ của mọi vấn đề, là vương quốc của mọi cái. Cho
nên ngay từ đầu, ông đã vạch ra rằng “ý niệm tuyệt đối” chứa đựng mâu thuẫn
nên tạo thành “lực” cho nó vận động “tha hóa” để sinh ra cái khác nó. Trước
hết chúng ta hãy bàn về tầm quan trọng của nó đối với những người anh em
thành mặt đối lập của nó. Sự tiến triển của “lượng” tạo ra mặt đối lập với sự
tiến triển của “chất” ở vòng khâu trước. Điều này làm nảy sinh “mâu thuẫn”
và một lần nữa “mâu thuẫn” được giải quyết ở những cấp độ khác nhau, làm
cho “chất” và “lượng” được thống nhất tạm thời trong “độ”. Như vậy, kết thúc
“học thuyết tồn tại”, ở đâu, vòng khâu nào ta cũng thấy sự có mặt của “mâu
thuẫn”. Chính nó đã tạo ra “lực” cho “tồn tại thuần túy” vận động thông qua
“lượng” đến “độ”. Vậy “mâu thuẫn” chính là tác nhân số một.
Với học thuyết bản chất, học thuyết này Hêghen đã trình bày ý nghĩa của
nó (mâu thuẫn) với chính bản thân nó. Sự tiến triển của ba vòng khâu “phản
tư tự thân” thông qua “hiện tượng” đến “hiện thực” cũng là một quá trình đấu
tranh không ngừng nghỉ giữa các mặt đối lập và giải quyết các mâu thuẫn trên
những cấp độ khác nhau. Khi “chất” và “lượng” thống nhất tạm thời với nhau
trong “độ” thì “tồn tại” coi như đã kết thúc. Tuy nhiên trong “độ” vẫn còn sự
đấu tranh của “chất” và “lượng” làm cho “độ” không còn là nó nữa mà đã
chuyển sang “bản chất”. Với những vòng khâu vận động biện chứng đó đã
làm cho ý niệm lôgích nhận thêm sự phong phú và sâu sắc. Với “học thuyết
bản chất”, Hêghen đã dùng “mâu thuẫn” để lí luận về “mâu thuẫn”. Có nghĩa
là: ông lấy cái chân lí của tồn tại là sự vận động do mâu thuẫn để khái quát
thành lí luận triết học của nó. Khi lí luận về “học thuyết bản chất”, Hêghen đã
đưa “tinh thần thế giới” về với “hiện thực”. Có nghĩa rằng chính “mâu thuẫn”
đã đưa “lí tính thế giới” sau khi hoàn thành một số giai đoạn tiến triển của
mình từ “tồn tại” sang “bản chất” thì nó tiến tới nhận thức bản thân và chuyển
thành “khái niệm” được ông coi là vương quốc của tính chủ quan hoặc tự do.
Với học thuyết khái niệm, bắt đầu “học thuyết khái niệm” Hêghen luận
giải về “tính chủ quan”. Đây là sự trình bày vận động biện chứng của khái
niệm chủ quan từ khái niệm thuần túy “hình thức” lúc đầu đến “phán đoán”
rồi qua “suy lí” và cuối cùng đến sự chuyển hóa từ tính chủ quan sang tính
khách quan của nó. Đây cũng đồng thời là một quá trình đấu tranh và thống
hầu như chẳng còn nhiều ý nghĩa ngoài những cụm từ “thần bí” mang tính
hình thức về sự vận động và phát triển.
2.1.2. Ý nghĩa của “Học thuyết mâu thuẫn” với “Triết học tự nhiên”
“Triết học tự nhiên” là khâu yếu nhất trong hệ thống Triết học của
Hêghen. Xuất phát điểm của Triết học tự nhiên là luận đề duy tâm cho rằng:
“Ý niệm tuyệt đối” sau khi đã đạt được sự phát triển đầy đủ của nó trong lĩnh
vực tư duy thuần túy, trong lĩnh vực những phạm trù lôgích học liền chuyển
sang sự tồn tại khác của nó là giới tự nhiên.
Theo ông thì giới tự nhiên không phát triển theo thời gian, tuy vậy để
hình thành được giới tự nhiên thì “ý niệm tuyệt đối” đã phủ định bản thân
mình. Mặc dù đây là bộ phận duy tâm nhất, kém cỏi nhất nhưng mâu thuẫn
cũng được xét đến như là nguyên tắc vận động và phát triển của “lí tính thế
giới”, cái mà theo ông “tính chất hữu hạn của giới tự nhiên để lại ở phép biện
chứng hàng loạt giới hạn” và toàn bộ giới tự nhiên là sự phủ định nhau của
các mặt đối lập. Vì nó là kết quả của sự phủ định của ý niệm, vấn đề ở đây
theo Hêghen là chất thể; vật chất không có năng lực chịu đựng nổi các mâu
thuẫn. Cho nên trong giới tự nhiên chúng chỉ được giải quyết bằng cách loại
trừ nhau, hoặc là chuyển thành trạng thái trung lập. Nhưng cũng theo ông: sự
vận động theo các bậc thang của giới tự nhiên đó là bước chuyển sang một
nội dung ngày càng phong phú và cụ thể hơn.
Đó là sự nắm vững dần dần những mặt đối lập bên ngoài nhằm cũng cố
sự thống nhất bên trong. Đây là sự “vượt bỏ” mâu thuẫn ở những bậc thấp,
các mâu thuẫn của giới tự nhiên không phải là cái tự nó, “nội tại” mà là cái
“ngoại lai”. Chúng dù dễ nhận thấy nhưng không được xét bằng khái niệm
của “ý niệm” lôgích. Ta có thể thấy rằng: dù lập trường duy tâm được thể hiện
rất rõ trong “Triết học tự nhiên” nhưng ở đâu đó ông vẫn lén lút thừa nhận
mâu thuẫn là động lực của sự vận động. Trong “Triết học tự nhiên”, Hêghen
đã mở đầu bằng việc nghiên cứu cơ học. Trong cơ học, ông đã bắt tay nghiên
niệm đã đạt được cái tồn tại vì mình của nó. Khách thể của ý niệm và đồng
thời cả chủ thể nữa là khái niệm, sự đồng nhất ấy là tính phủ định tuyệt đối.
Chính điểm này mà ta lại một lần nữa thấy rằng: Mâu thuẫn đã làm cho “ý
niệm tuyệt đối” không dừng lại ở giới tự nhiên mà tiếp tục “tha hóa” thành
“tinh thần thế giới” với tư cách là trở về với bản thân mình và cũng là hành
trình cuối cùng kết thúc chu kì ba bước của “lí tính thế giới”. Đây là bộ phận
thứ ba, cũng là bộ phận cuối cùng trong hệ thống triết học của Hêghen, “triết
học tinh thần” (con người và xã hội). Toàn bộ bộ phận “Triết học tinh thần”
cũng là một chuỗi sinh thành và phát triển. “Công lao lớn của Hêghen là ở
chỗ ông là người đầu tiên đã trình bày giới tự nhiên lịch sử và tinh thần dưới
hình thức một quá trình.
Nghĩa là trong sự vận động liên tục, trong sự biến hóa và phát triển ông
đã cố tìm ra mối liên hệ trong sự vận động và phát triển ấy” [14, 156]. Cái mà
Hêghen gọi là sự “vượt bỏ” chính bản thân nó để trở thành cái khác. Từ “tinh
thần chủ quan” đến “tinh thần khách quan” và trở về với “tinh thần tuyệt đối”
thực chất là một quá trình đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập trong
bản thân từng bộ phận trước để sản sinh ra bộ phận sau. Và dĩ nhiên ở đây vẫn
không thể thiếu đi vai trò của mâu thuẫn, “ý niệm tuyệt đối” đến đây là dừng
lại hay nói cách khác là nó đã trở về với bản thân nó trong tinh thần. Đồng
nghĩa mâu thuẫn cũng “nằm im chờ đợi” một chu kì hành trình mới.
Tóm lại: học thuyết mâu thuẫn đã được Hêghen trình bày trong “học
thuyết bản chất” là bộ phận thứ hai của học thuyết lôgích. Trên phương diện
tổng quan mà nói sẽ hoàn toàn hợp lí khi khẳng định rằng: Học thuyết mâu
thuẫn là đầu tàu của toàn bộ hệ thống triết học đồ sộ của triết học Hêghen.
Dù xuất phát từ lập trường duy tâm khách quan nhưng Hêghen đã cực kì
thông minh khi lấy phạm trù mâu thuẫn làm nội lực để đưa “ý niệm tuyệt đối”
từ dạng này sang dạng khác. Bởi ngay từ đầu ông đã lí luận rằng: do bản thân
nội tại của “ý niệm tuyệt đối” luôn luôn chứa đựng mâu thuẫn và tính “ham
của con người. Song các phương pháp phản ánh đó không phải lúc nào cũng
đúng đắn và khoa học bởi cũng có nhiều thời điểm lịch sử tư duy của con
người bị bế tắc. Thế giới này là một hệ thống hữu cơ, trong đó mọi vật đều
tồn tại liên kết và tác động qua lại lẫn nhau. Hay nói cách khác, dù thế giới
này là phong phú, là đa dạng, là đa màu sắc, đa phương tiện; dù ở dạng này
hay dạng khác thì “đều thống nhất với nhau ở tính vật chất của nó” [1, 167].
Trên tinh thần đó, chúng ta không thể lấy phương pháp luận của thời cổ đại để
suy xét về thế giới này được. Bởi vì sao? Tất nhiên với Hêraclít hay
Đêmôcrít, Arixtốt hay cả Platon đều chứa đựng những mầm mống của tư duy
biện chứng; Song đáng tiếc là do hạn chế của điều kiện lịch sử mà chúng chỉ
dừng lại ở cấp độ phỏng đoán và thiếu đi cơ sở khoa học. Nghịch lí thay khoa
học lại có mối liên minh chặt chẽ với triết học. Về cơ bản, tư tưởng cổ đại vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu nhận thức thế giới đa chiều, đa sắc màu.
Ngay trong “Những phác thảo phê phán kinh tế chính trị học” Ăngghen
đã coi vấn đề mâu thuẫn là vấn đề chủ yếu trong việc nghiên cứu xã hội.
Trong tác phẩm này Ăngghen vẫn chưa giải quyết được những nhiệm vụ chủ
yếu của kinh tế chính trị học. Song ý nghĩa triết học chủ yếu của nó là phải
tìm trong phương pháp biện chứng một phương thức nhận thức lí luận thực sự
và cách giải quyết mâu thuẫn. Trong các tác phẩm triết học viết vào giai đoạn
trưởng thành của mình, Ăngghen rất chú ý đến việc phê phán phương thức tư
duy cũ (tư duy siêu hình) đến việc làm rõ sự đối lập của nó với tư duy biện
chứng. Điều này rất quan trọng đối với việc giành thắng lợi cho cách tiếp cận
biện chứng, tức là cách tiếp cận duy nhất khoa học trong việc nghiên cứu tự
nhiên và đời sống xã hội. Đồng thời trung tâm phê phán của Ăngghen đối với
phương pháp siêu hình là vấn đề mâu thuẫn. Trước hết ông đã nêu lên những
đặc trưng sâu sắc và hiển nhiên của phương pháp tư duy siêu hình, điều này
Ăngghen đã làm rất tốt trong “Chống Duyrinh”.
Chúng ta đều biết rằng: trong triết học Hy Lạp thời cổ đại đã có một
người. Thời gian 1000 năm Trung Cổ vẫn chưa thể tạo ra được một lí luận
nhận thức thật sự khoa học cho loài người.
Cái chết của vị hoàng đế Pháp Lui XVI một lần nữa đánh lên hồi
chuông cho sự chuyển tiếp sang một thời đại mới. Chế độ phong kiến và hệ
thống thần quyền, thế quyền của nó coi như kết thúc, chiếc cối xay gió đã dần
dần mất đi trên những cánh đồng của Châu Âu, cũng không còn thấy bóng
dáng của một Đônkihôtê đơn thương độc mã bất lực nhìn xã hội mà thay vào
đó là những chiếc máy hơi nước gọn nhẹ hơn, thông thoáng hơn.
Sự cáo chung của chế độ phong kiến đã mở đường cho hàng loạt những
chúa đất, những con buôn thành thị tung hoành – chính họ là tiền thân của
giai cấp tư sản. Trái ngược với thời kì Trung Cổ, giai đoạn này, chủ nghĩa tư
bản đã tạo ra một khối lượng đồ sộ về của cải vật chất. Kéo theo đó là sự xuất
hiện của những tư tưởng cực kì tiến bộ, trong số đó phải kể đến như Vônte,
Môngtexkiơ, Rútxô…Triết học đã được giải phóng, khoa học tự nhiên cũng
mọc ra như nấm sau mưa.
Những thành tựu mà thời kì Phục hưng – Cận đại đã đạt được cho phép
chúng ta khẳng định đây là thời kì mà loài người tiến triển nhanh với một tốc
độ chưa từng thấy.
Còn triết học thì sao? Cũng không ngoại lệ, tư duy sáng tạo của các tác
giả tha hồ bay bổng mà đến nổi Ph.Bêcơn phải chủ trương “ban cho lí tính
một lượng chì”. Có thể nói rằng thành quả lớn nhất đối với triết học là chủ
nghĩa duy vật. Nó được mở màn bằng cuộc cách mạng trên bầu trời của
Galilê, Brunô cộng với những triết thuyết tiến bộ của các nhà triết học Hà
Lan, Anh, Pháp. Tuy nhiên, lục tung kho tàng triết học của nhân loại lúc này
ta cũng khó tìm được một luận đề nào mang tính biện chúng thực sự. Tại sao
vậy? Cũng không khó khăn lắm khi lí giải điều này.
Như đã biết, thời kì Phục hưng – Cận đại là thời kì mà khoa học thực
nghiệm lên ngôi với sự thống trị của cơ học cổ điển của Niuton và chủ nghĩa
Một đặc điểm lịch sử khác quyết định tính chất của thế giới quan siêu
hình là sự thống trị trong một thời gian dài của những phương pháp lao động
máy móc. Công nghệ máy móc chỉ chú ý đến hình thức bên ngoài của đối
tượng lao động và biến đổi nó bằng cách thay đổi hình thức này thành những
hình thức khác, nó chia nhỏ đối tượng ra thành bộ phận rồi lại hợp nhất chúng
thành tổ hợp. Ở đây cái tổng thể nảy sinh là do các bộ phận của nó và các bộ
phận này đối lập với tổng thể như một cái ngay từ đầu đã tồn tại độc lập và
khởi điểm. Sự vận động được đưa từ bên ngoài vào đối tượng chứ không phải
là do mâu thuẫn vốn có của đối tượng. Những đòi hỏi của công nghệ máy
móc trước hết đã tạo nên sự phát triển khá hoàn chỉnh của cơ học với: Tĩnh
học, động học, thủy động học và lý thuyết đàn hồi. Tóm lại chỉ có cơ học là
hoàn chỉnh nhất, hóa học vẫn ở hình thức ấu trĩ, sinh học cũng đang ở trình độ
phôi thai, cơ thể thực vật và động vật chỉ mới được nghiên cứu một cách thô
sơ giải thích chúng dưới dạng những nguyên nhân thuần túy máy móc. Đối
với các nhà duy vật thế kỷ XVII, con người là một cái máy chẳng khác gì
động vật. Tiêu biểu cho lối tư duy siêu hình máy móc theo lời Hêghen là đặc
điểm cứng đờ của tư duy. Những thuộc tính của khách thể, những đặc trưng
bên trong của nó được xét như là những đặc trưng bên ngoài của nó, những
thay đổi về chất được qui định về những thay đổi về lượng.
Do đó phổ biến rộng rãi khuynh hướng thiên về các sơ đồ có tính chất
cộng của tư duy, trong đó thuộc tính của cái tổng thể được coi là thuộc tính
tổng hợp của những cái riêng lẻ. Phương pháp siêu hình với quyết định máy
móc khi cho rằng khách thể vận động được là nhờ một sự thúc đẩy bên ngoài.
Niutơn buộc phải giả thiết có “cái hích đầu tiên của thượng đế” làm cho cơ
chế của vũ trụ vận động. Nét đặc trưng của phương pháp tư duy này là xem sự
vận động là sự thay thế những trạng thái tĩnh chứ không phải do sự đấu tranh
và thống nhất của các mặt đối lập. Phương pháp tư duy này tách rời những
đặc điểm đối lập nhau của đối tượng đến mức chúng loại trừ nhau hoàn toàn.
mâu thuẫn của quá trình lịch sử, nó nhảy từ thái cực này sang thái cực khác
hoặc là chỉ thấy sự hài hòa về quyền lợi hay chỉ thấy cuộc đấu tranh của mọi
người chống lại mọi người mà thôi, “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”. Đối
với nó, giới tự nhiên, nền sản xuất xã hội và sự nhận thức khoa học là ba
vương quốc đối lập nhau, chỉ liên hệ với nhau thuần túy ở bên ngoài và ngẫu
nhiên. Quan điểm này đã nảy sinh chủ nghĩa hoài nghi, không tin tưởng vào
năng lực của lí trí trong việc nhận thức thế giới xung quanh.
Thông qua sự phân tích trên đây, chúng ta đã thấy được những hạn chế
cố hữu của phương pháp tư duy siêu hình và dĩ nhiên, nó không bao giờ đáp
ứng được yêu cầu của lịch sử. Vì nó không mang lại cho chúng ta một
phương pháp tư duy thật sự khoa học. Nguyên nhân chủ yếu đưa phương
pháp siêu hình lên vị trí độc tôn là do các nhà duy vật thế kỉ XVII- XVIII
không thấy được hoặc phủ nhận mâu thuẫn. Với việc thủ tiêu mâu thuẫn làm
cho chúng ta không biết do đâu mà thế giới vận động và biến đổi. Điều này là
một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho các nhà triết học giai đoạn
này vin vào “cú hích đầu tiên” của Thượng đế và ngả sang lập trường duy
tâm, như Béccơli và Hium. Tóm lại, phương cách tư duy siêu hình vẫn chưa
thể nào đáp ứng được yêu cầu nhận thức thế giới khách quan của con người.
Song song với phương Tây, cùng quá trình này ở phương Đông cũng đã
xuất hiện ở đâu đó những lí luận nhận thức về thế giới. Điển hình như học
thuyết “Đạo” của Lão Tử; “vô ngã”, “vô thường” của Phật giáo, cùng với các
quan điểm nhận thức khá sắc bén của các trường phái triết học Ấn Độ như:
Vaisesika, Jaina, Lôkayata…