Ý THỨC XÃ HỘI ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI
(4 Tiết )
I. NỘI DUNG, BẢN CHẤT VÀ TÍNH ĐỘC LẬP TƯƠNG ĐỐI CỦA Ý
THỨC XÃ HỘI
1. Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội
Đời sống xã hội gồm hai lĩnh vực: đời sống vật chất và đời sống tinh thần,
trong đó đời sống vật chất là tồn tại xã hội, đời sống tinh thần là ý thức xã hội.
- Tồn tại xã hội: là toàn bộ những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội bao
gồm điều kiện tự nhiên, dân số và phương thức sản xuất, trong đó phương thức sản
xuất có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của tồn tại xã hội.
- Ý thức xã hội: là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, là kết quả của sự
phản ánh của ý thức con người đối với tồn tại xã hội nhất định. Cho nên không thể
tìm nguồn gốc hoặc giải thích một hiện tượng từ ý thức xã hội từ bản thân ý thức xã
hội mà phải từ tồn tại xã hội. Chẳng hạn, sự đối lập về ý thức giai cấp là do sự đối
lập về lợi ích kinh tế đẻ ra.
Ý thức xã hội gồm hai cấp độ phản ánh khác nhau là tâm lý xã hội và hệ tư
tưởng:
+ Tâm lý xã hội là các hiện tượng ý thức như: tình cảm, tâm trạng, thói quen,
ước muốn, động cơ, thái độ và những xu hướng tâm lý của các nhóm người khác
nhau được hình thành một cách tự phát trên cơ sở những điều kiện sinh sống hàng
ngày của con người. Ví dụ như những tình cảm yêu, ghét, các trạng thái tâm lý vui
mừng, bực bội, những thói quen lâu đời… mà nguồn gốc không hẳn do điều kiện
sinh hoạt vật chất lúc đó sinh ra.
+ Hệ tư tưởng là những quan điểm tư tưởng, những học thuyết lý luận về
kinh tế, chính trị, pháp quyền, đạo đức tôn giáo, khoa học, nghệ thuật…phản ánh và
bảo vệ lợi ích của một giai cấp nhất định trong xã hội. Hệ tư tưởng không hình
thành tự phát mà nó được tạo ra một cách tự giác thông qua những trí thức có trình
độ cao, có khả năng tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm để khái quát hoá thành lý
luận, hệ thống hoá thành các học thuyết. Ví dụ như học thuyết Mác - Lênin là hệ tư
tưởng của giai cấp vô sản hiện đại do Mác, Ăngghen và Lênin sáng tạo nên.
↔ Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng đều bắt nguồn từ tồn tại xã hội có sự tác
Ví dụ : Nước ta do những điều kiện lịch sử đặt biệt của mình nên ý thức dân
tộc thường nổi trội : tính cộng đồng cao, tự lập tự cường, yêu nước thương nòi…
- Trong xã hội có giai cấp thì ý tức dân tộc và ý thức giai cấp có quan hệ hữu
cơ, tác động qua lại nhau :
+ Khi giai cấp thống trị ở thời kỳ tiến bộ, ý thức giai cấp của họ không
những phản ánh, bảo vệ lợi ích của giai cấp mà còn phản ánh và bảo vệ lợi ích của
dân tộc. Chẳng hạn, ý thức của giai cấp địa chủ, quý tộc Việt Nam trong các thời kỳ
chống ngoại xâm từ Đinh – Lê – Lý - Trần trước đây.
+ Ngược lại, khi giai cấp thống trị đã trở thành lạc hậu, lỗi thời thì ý thức giai
cấp của họ thường mâu thuẫn với ý thức dân tộc và có thể dẫn tới phản lại lợi ích
dân tộc. Khi đó, trong tầng lớp thống trị xuất hiện những quan điểm dân tộc sai lầm
như: Chủ nghĩa sô vanh nước lớn, chủ nghĩa bá quyền, ý thức vị kỷ, hẹp hòi dân
tộc…
4. Tính độc lập tương đối và sức mạnh cải tạo của ý thức xã hội
- Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội nhưng không phản ánh máy
móc, thụ động mà có tính độc lập tương đối. Điều đó được thể hiện:
+ Ý thức xã hội thường lạc hậu, bảo thủ hơn so với tồn tại xã hội. Nghĩa là
khi một tồn tại xã hội nào dó đã bị xoá bỏ nhưng ý thức xã hội phản ánh nó chưa
mất theo ngay mà còn tồn tại một thời gian, thậm chí có những bộ phận ý thức tồn
tại khá lâu dài. Chẳng hạn ở nước ta hiện nay, xã hội phong kiến đã bị xoá bỏ từ
lâu nhưng ý thức phong kiến còn tồn tại khá nhiều trong cán bộ đảng viên và nhân
dân ta. Đó là tư tưởng trọng nam kinh nữ, gia trưởng, bè phái…
+ Một bộ phận ý thức xã hội lại có khả năng vượt trước tồn tại xã hội để dự
báo một tương lai. Đó là bộ phận ý thức tiên tiến, khoa học, phản ánh đúng đắn
những quy luật phát triển của xã hội và nguyện vọng, lợi ích chính đáng của đông
đảo quần chúng nhân dân. Chẳng hạn: chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ tư tưởng của
giai cấp công nhân ra đời cách đây hàng trăm năm nhưng nó đã dự báo một xã hội
tương lai – xã hội cộng sản chủ nghĩa.
+ Ý thức xã hội có tính kế thừa những tinh hoa và những giá trị tinh thần cao
đẹp của truyền thống dân tộc và nhân loại để làm phong phú đời sống tinh thần của
sâu sắc hơn: “Xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội
nhập kinh tế quốc tế”.
II. HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI
Ý thức xã hội phản ánh nhiều mặt khác nhau của đời sống xã hội, do đó biểu
hiện thành nhiều hình thái như:
1. Ý thức chính trị
- Ý thức chính trị là sự phản ánh đời sống chính trị của xã hội như: quan hệ
giai cấp, đảng phái, dân tộc, quốc gia, quốc tế…trong đó nòng cốt là quan hệ giai
cấp. Ý thức chính trị thể hiện ở hai cấp độ: tâm lý chính trị và hệ tư tưởng chính trị.
+ Tâm lý chính trị là những tâm trạng, động cơ, thái độ, xu hướng chính trị
thường ngày của các tầng lớp và giai cấp trong xã hội.
+ Hệ tư tưởng chính tị là hệ thống những quan điểm tư tưởng chính trị phản
ánh trực tiếp và tập trung lợi ích và địa vị giai cấp nào đó, tồn tại dưới dạng các học
thuyết lý luận do các trí thức bậc cao của giai cấp sáng tạo ra. Chẳng hạn, chủ nghĩa
Mác – Lênin là hệ tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân.
Vì tính chất phản ánh trực tiếp, tập trung, công khai, sâu sắc lợi ích và địa vị
giai cấp, nên hệ tư tưởng thống trị của giai cấp thống trị thường được dùng làm cơ
sở lý luận để định ra cương lĩnh, đường lối, chính sách cai trị xã hội theo quan điểm
của giai cấp mình. Do đó, hệ tư tưởng chính trị của giai cấp cầm quyền không
những chi phối hệ tư tưởng của giai cấp khác, mà còn chi phối các hình thái ý thức
khác như: ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo…Do đó, hệ tư tưởng
có tác động rất lớn đến chiều hướng phát triển tích cực hay tiêu cực, nhanh hay
chậm của đời sống xã hội.
Tâm lý chính trị thì giai cấp nào cũng có, song hệ tư tưởng chính trị thì chỉ
có ở những giai cấp đại biểu cho một PTSX độc lập, ví dụ: giai cấp chủ nô, giai cấp
địa chủ, giai cấp tư sản, giai cấp vô sản. Những giai cấp không có hệ tư tưởng
chính trị ( giai cấp nông dân, tiểu tư sản) thì ý thức chính trị của họ tập trung trong
tâm lý chính trị, còn hệ tư tưởng chính trị, họ bị chi phối bởi hệ tư tưởng của giai
cấp này hay giai cấp khác, tạo ra sự dao động lập trường giai cấp của họ. Trong