1
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
=======******=======
Trịnh Vương Cường
Quan niệm của Ph.Ăngghen về nhận thức
trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” và ý nghĩa của
nó đối với nhận thức khoa học hiện Nay
Luận văn Thạc sĩ triết học
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Dương Văn Thịnh
Hà Nội, 2008
2
Mục lục
Mở đầu 3
Chương 1: Quan niệm của Ph.Ăngghen về nhận thức trong tác phẩm
“Chống Đuyrinh” 10
1.1 Hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản và ý nghĩa của tác phẩm
“Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen 10
1.2 Nội dung quan niệm của Ph.Ăngghen về nhận thức 17
1.2.1 Quan niệm về nguồn gốc, bản chất của nhận thức 17
1.2.2 Quan niệm về biện chứng của quá trình nhận thức 23
trở thành sự trình bày có hệ thống về phương pháp biện chứng và thế giới
quan cộng sản mà chính C.Mác và Ph.Ăngghen làm đại biểu.
Với tài nghệ bút chiến bậc thầy, đứng trên quan điểm của chủ nghĩa
duy vật biện chứng để khái quát những thành tựu của khoa học tự nhiên và
khoa học xã hội đương thời, Ph.Ăngghen đã trình bày khá toàn diện nhưng
không dàn trải mà tập trung vào những vấn đề cốt lõi của chủ nghĩa duy vật
biện chứng; bảo vệ nguyên tắc tính đảng trong triết học; thể hiện một cách sâu
sắc quan điểm duy vật biện chứng trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của
triết học; không chỉ luận chứng rõ ràng mà còn đưa ra những định nghĩa kinh
điển về vận động của vật chất; về phép biện chứng; các quy luật và các cặp
phạm trù; đồng thời phát triển một cách chính diện quan điểm của chủ nghĩa
Mác về những vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Trong thời đại của khoa học và công nghệ hiện nay, sự phát triển với
tốc độ chưa từng thấy của nhiều ngành khoa học đã và đang làm nảy sinh
những khái niệm, phạm trù, quan niệm và phương pháp nghiên cứu hết sức
mới mẻ và có tính chất cách mạng thực sự. Sự phát triển như vũ bão của khoa
học cũng đang đặt ra hàng loạt vấn đề ảnh hưởng đến những hoạt động rất
4
khác nhau của đời sống xã hội, đến việc áp dụng những thành tựu khoa học ấy
vì sự tiến bộ xã hội cũng như sự phát triển của bản thân khoa học trong tương
lai. Để có được sự nhìn nhận đúng đắn và giải quyết một cách hợp lý những
vấn đề do sự phát triển của khoa học hiện đại đặt ra - thực tiễn lịch sử phát
triển của khoa học kể từ khi chủ nghĩa Mác xuất hiện đã chỉ rõ - nhất thiết
phải đứng trên lập trường thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin mà cơ sở nền tảng của nó là triết học duy vật biện chứng. Hơn
nữa, “một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao khoa học - như Ph.Ăngghen
đã khẳng định - không thể không có tư duy lý luận”. Song tư duy lý luận chỉ
là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng khả năng mà thôi, nên “năng lực ấy cần
phải được phát triển hoàn thiện” và để “hoàn thiện nó thì cho đến nay, không
quay lại tìm hiểu kỹ hơn, có hệ thống hơn những quan điểm này là một sự cần
thiết và có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Nổi bật trong các công trình nghiên cứu về
tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác trong thời gian gần đây là công trình
Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác – Ph.Ăngghen, V.I.Lênin (Doãn
Chính và Đinh Ngọc Thạch đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, 2008.
Công trình tập trung nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cốt lõi
thông qua việc khảo sát các tác phẩm và bài viết tương đối tiêu biểu của các
nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác. Luận văn này sẽ kế thừa nhiều kết quả
nghiên cứu từ công trình trên.
Cũng nhằm hướng tới nghiên cứu di sản chủ nghĩa Mác thông qua các
tác phẩm quan trọng, một công trình khác cũng có giá trị trong thời gian gần
đây là công trình Giới thiệu kinh điển triết học Mác – Lênin của tập thể giảng
viên Khoa triết học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội,
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2007. Công trình tập trung làm rõ những nội
dung cơ bản, giá trị thực tiễn và khoa học nổi bật của các tác phẩm kinh điển
trên cơ sở sắp xếp theo trình tự thời gian, tiến trình lịch sử triết học của chủ
6
nghĩa Mác, qua đó cho thấy ý nghĩa của triết học mácxít trong lịch sử cũng
như của chủ nghĩa Mác đối với nhận thức, thực tiễn hiện thời.
Bên cạnh các công trình đi sâu nghiên cứu di sản kinh điển, có thể kể
tới một số công trình đề cập ít nhiều đến nội dung các tác phẩm chủ yếu của
các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác như: Triết học Mác, trích trong bộ Lịch sử
triết học của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1963.
Công trình tiếp cận các tác phẩm và những luận điểm đã trở thành kinh điển
trên bình diện tổng thể, xem xét chúng trong bối cảnh, tiến trình lịch sử cụ
thể, qua đó thấy được sự tiếp nối, kế thừa và phát triển trong những giai đoạn
lịch sử khác nhau.
Một công trình khác là C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin: Về mối quan hệ
giữa triết học và khoa học tự nhiên, dịch giả Nguyễn Văn Nghĩa, Nxb Khoa
khoa học hiện đại đang đặt ra, có thể kể đến một công trình nhận được khá
nhiều sự quan tâm của đông đảo cộng đồng khoa học: Cấu trúc của các cuộc
cách mạng khoa học của Thomas S. Kuhn, dịch giả Nguyễn Quang A, Nxb
Tri thức, Hà Nội, 2005. Đây là công trình về triết học khoa học có nhiều giá
trị, phân tích cấu trúc của các cuộc cách mạng khoa học, về cộng đồng khoa
học cũng như sự phát triển khoa học đang phổ biến trong giới khoa học hiện
nay.
Bên cạnh đó có thể kể tới tác phẩm Đạo của Vật lý của Fritjof Karpa,
dịch giả Nguyễn Tường Bách, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2007. Tác
giả đưa ra một cái nhìn tổng thể về những thành tựu của vật lý học, về những
vấn đề lớn hiện nay khiến vật lý dường như đang bị chôn chân trong một cuộc
khủng hoảng về nhận thức luận. Thông qua sự trình bày một cách cặn kẽ,
khúc chiết các vấn đề vật lý, tác phẩm này đồng thời đề cập đến những “mẫu
hình mới” trong tư duy khoa học hiện nay với các tiêu chí cụ thể. Chính vì
vậy, Đạo của vật lý có ý nghĩa ở khía cạnh giúp chúng tôi tiếp cận với những
đặc điểm của tư duy khoa học hiện đại trong tính thời sự của nó.
8
Trên đây là những công trình cơ bản có ảnh hưởng đến luận văn của tác
giả. Nhìn chung, các công trình đó, ở những phương diện khác nhau đều có
đóng góp nhất định cho việc nghiên cứu di sản tư tưởng của các nhà sáng lập
chủ nghĩa Mác trong bối cảnh khoa học hiện nay, song không có công trình
nào đề cập đến hệ thống quan niệm về nhận thức trong tác phẩm chống
Đuyrinh của Ph.Ăngghen như một đối tượng nghiên cứu chủ đạo.
Dựa trên những nguồn tài liệu về triết học mácxít, kế thừa các công
trình nghiên cứu đã được công bố, thông qua lựa chọn đề tài luận văn tác giả
cố gắng tìm hiểu, đi sâu và trình bày có hệ thống quan niệm về nhận thức của
Ph.Ăngghen trong tác phẩm “Chống Đuyrinh” và ý nghĩa của nó đối với nhận
thức khoa học hiện nay.
Mặc dù cùng với bộ “Tư Bản” của C.Mác, phải đến tác phẩm “Biện
- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là
cơ sở lý luận của luận văn
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp kết hợp
phân tích và tổng hợp, so sánh; khái quát hoá và trừu tượng hoá dựa trên văn
bản trích từ tác phẩm “Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen và các tài liệu thực
tế về tình hình phát triển khoa học hiện nay.
6. Những đóng góp của luận văn
- Trình bày một cách hệ thống quan niệm về nhận thức của Ph.Ăngghen được
đề cập trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”.
- Luận giải những nội dung và đóng góp của quan niệm về nhận thức của
Ph.Ăngghen đối với nhận thức khoa học hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
- ý nghĩa lý luận: Làm rõ vai trò của triết học Mác – Lênin, đặc biệt là vai trò
của lý luận nhận thức duy vật biện chứng đối với sự phát triển của khoa học
tự nhiên giai đoạn hiện nay.
- ý nghĩa thực tiễn: Luận văn góp phần dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh
viên, những người quan tâm tìm hiểu về mối quan hệ giữa triết học và khoa
học tự nhiên.
8. Kết cấu luận văn
10
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung luận văn
được kết cấu thành hai chương, bốn tiết.
Quan niệm của Ph.Ăngghen về nhận thức
trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”
1.1 Hoàn cảnh ra đời, nội dung cơ bản và ý nghĩa của tác phẩm
“Chống Đuyrinh” của Ph.Ăngghen
Tác phẩm “Chống Đuyrinh”, còn có tên “Ông Oighen Đuyrinh đảo lộn
khoa học” được Ph.Ănghen viết trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 1876
đến tháng 7 năm 1878. Ban đầu, tác phẩm này được đăng thành từng phần
trên báo “Tiến lên” của Cơ quan Trung ương Đảng công nhân Dân chủ – Xã
hội Đức ở Lai-pxích, đến đầu năm 1878 được xuất bản thành sách riêng,
nhưng ngay sau đó đã bị cấm không được lưu hành. Tác phẩm “Chống
Đuyrinh” ra đời trong bối cảnh lịch sử chính trị, xã hội nước Đức những năm
70 của thế kỷ XIX với những đặc điểm nổi bật dưới đây.
Phong trào đấu tranh của công nhân phát triển mạnh đưa đến việc hình
thành Đảng dân chủ – Xã hội Đức để lãnh đạo cuộc đấu tranh của công nhân.
Tuy nhiên, chủ nghĩa cơ hội mà đại diện là Látxan đã phá hoại phong trào từ
bên trong. Látxan tự xưng là học trò của Mác, nhưng khi tuyên truyền vận
động công chúng ông ta không đi quá việc lập những hội sản xuất do nhà
nước trợ cấp, nghĩa là ông ta chỉ muốn hướng phong trào công nhân theo chủ
nghĩa cải lương.
Năm 1875, Oighen Đuyrinh (1833-1921), giáo sư cơ học trường Đại
học Béclin, xuất hiện trên sân khấu triết học với tuyên bố về những khám phá
mới của mình, đã gây sự chú ý từ các nhà hoạt động chính trị và hoạt động
khoa học. Nhà tư tưởng đại diện cho chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản phản động
đã viết một loạt bài báo thể hiện những quan điểm sai lầm của ông ta về triết
học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, trong ba cuốn sách
được xuất bản là “Bài giảng về triết học”, “Bài giảng về kinh tế chính trị và
12
kinh tế xã hội”, “Lịch sử phê phán của khoa kinh tế chính trị và kinh tế – xã
đưa ra những giải thích mới về chủ nghĩa Mác, mà thực chất là xa rời các luận
điểm cơ bản của nó, chủ trương dung hoà với trật tự xã hội hiện tại, hoặc tìm
kiếm một cương lĩnh chính trị dựa trên sự thoả hiệp giai cấp nhân danh tiến
bộ xã hội và văn minh. Sự ấu trĩ về nhận thức còn thể hiện ở chỗ họ chưa
phân biệt được đâu là thực sự khoa học, đâu là phản khoa học, thích đưa “ra
những lời rỗng tuyếch khoa trương và tiến cử những kẻ lên mặt huênh hoang
về một “khoa học” mà họ thực ra chưa học được cái gì cả”. Chính sự hạn chế
về nhận thức như thế nên hệ thống các quan điểm sai lầm của Đuyrinh càng
dễ được chấp nhận. Do vậy, việc phê phán Đuyrinh càng trở nên cấp bách.
Đó là những đòi hỏi khách quan đối với sự ra đời tác phẩm “Chống
Đuyrinh”. Có thể nói tác phẩm này là kết quả trực tiếp của cuộc đấu tranh tư
tưởng trong nội bộ Đảng dân chủ – Xã hội Đức, chống lại quan điểm sai lầm
của Đuyrinh, bảo vệ và phát triển quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác[42,
15 - 19].
Cùng với tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và một số tác
phẩm khác của C.Mác và Ph.Ăngghen, tác phẩm “Chống Đuyrinh” được xem
là tác phẩm “gối đầu giường” của những người cộng sản. ở tác phẩm này,
trong khi bóc trần bản chất cơ hội của Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã trình bày một
cách rõ ràng và có hệ thống những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác gồm
cả ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội
khoa học, từ đó bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác, chống lại những quan
điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, duy vật siêu hình hòng xuyên tạc chủ
nghĩa Mác. Mục đích chính của tác phẩm là tiếp tục làm rõ vai trò lịch sử toàn
thế giới của giai cấp vô sản, tức là làm rõ ba vấn đề lớn: Một là, chủ nghĩa xã
hội là gì? Trên phương diện lý luận thì phải vạch ra những nét đại thể của nó.
Triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học đều chỉ ra xu
hướng tất yếu của sự phát triển xã hội sẽ đưa đến sự ra đời của xã hội xã hội
14
chủ nghĩa, thay thế cho chủ nghĩa tư bản; Hai là, lực lượng nào có khả năng
biện chứng duy vật… Ph.Ăngghen đã vạch rõ rằng: quan điểm triết học của
Đuyrinh thực chất là quan điểm duy tâm, siêu hình, không đưa ra được một tư
tưởng mới nào, mà đơn giản chỉ là sự lặp lại có tính chất chiết trung những tư
tưởng của Hêghen và một số các nhà triết học trước kia. Đồng thời với việc
phê phán quan điểm triết học của Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã trình bày một cách
có hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, khái quát
những thành tựu của khoa học tự nhiên đương thời để chứng minh tính khoa
học của các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phân biệt với các
quan điểm duy tâm, siêu hình trong lịch sử triết học.
“Phần 2: Kinh tế chính trị học” gồm 10 chương. ở đây, Ph.Ăngghen tập
trung phê phán quan điểm của Đuyrinh về những vấn đề của kinh tế chính trị
học. Ph.Ăngghen đã chỉ rõ phương pháp của Đuyrinh khi nghiên cứu kinh tế
chính trị là có tính chất duy tâm, siêu hình, phi lịch sử. Vì thế Đuyrinh đã
không thấy được thực chất mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất, giữa phương thức sản xuất hiện tại với phương thức sản
xuất cũ, giữa kinh tế với chính trị và văn hoá, giữa sản xuất vật chất và sản
xuất tinh thần. Đuyrinh đã không thể nào hiểu được quy luật quan hệ sản xuất
phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đã quy định sự thay thế
các phương thức sản xuất trong lịch sử, tính chất tạm thời của phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa, không hiểu được đời sống kinh tế quyết định đời
sống chính trị. Những quan điểm của Đuyrinh về các quan hệ xã hội chỉ là sự
tưởng tượng từ đâu óc của ông ta. Cùng với việc phê phán quan điểm duy
tâm, siêu hình của Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã trình bày một cách có hệ thống
quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong luận giải các vấn đề của
kinh tế chính trị học. Ông khẳng định quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng coi sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển xã hội, do vậy
việc xem xét sự vận động của sản xuất xã hội trong lịch sử là chìa khoá để
16
xem xét sự biến đổi của các mặt khác của đời sống xã hội; giữa kinh tế và
với quan hệ sản xuất vẫn dựa trên chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất
trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là mâu thuẫn cơ bản. Mâu thuẫn
này biểu hiện thành mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Việc
giải quyết mâu thuẫn này tất yếu đưa đến việc thay thế quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa bằng quan hệ sản xuất khác, thay thế chủ nghĩa tư bản bằng
một xã hội mới – xã hội cộng sản chủ nghĩa. Đó chính là tất yếu kinh tế của
cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Tác phẩm “Chống Đuyrinh” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Về lý
luận, thông qua cuộc đấu tranh với Đuyrinh về hàng loạt vấn đề triết học, kinh
tế chính trị, chủ nghĩa xã hội để bác bỏ các luận chứng thiếu cơ sở khoa học,
Ph.Ăngghen đã tổng kết, hệ thống hoá những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác gồm cả ba bộ phận hợp thành của nó là triết học, kinh tế chính trị học,
chủ nghĩa xã hội khoa học. Cùng với việc phê phán các quan điểm duy tâm,
siêu hình của Đuyrinh, tác phẩm đã làm sâu sắc và phong phú hơn nội dung
triết học của chủ nghĩa Mác, bao gồm nhiều quan điểm, phương diện như vấn
đề cơ bản của triết học, phép biện chứng duy vật, lý luận nhận thức, chủ nghĩa
duy vật lịch sử… “Chống Đuyrinh” đã bảo vệ vững chắc chủ nghĩa duy vật
biện chứng trước sự xuyên tạc của Đuyrinh, đóng góp lớn về mặt lý luận đối
với quá trình phổ biến các giá trị của chủ nghĩa Mác vào đời sống, nhất là vào
phong trào công nhân quốc tế và các phong trào đấu tranh vì dân chủ và công
bằng xã hội, chống xu hướng độc quyền đang thịnh hành. Về thực tiễn, tác
phẩm đã đóng vai trò quan trọng trong đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội,
ngăn chặn việc truyền bá quan điểm sai lầm của Đuyrinh trong phong trào
công nhân, từ đó giúp cho phong trào công nhân có cơ sở khoa học để xác
định đúng mục tiêu, phương hướng của cuộc đấu tranh cách mạng, thống nhất
về mặt tư tưởng và hành động.
18
“Chống Đuyrinh”, như tên gọi của cuốn sách, trước hết là chống lại thế
giới quan duy tâm và duy vật tầm thường, phê phán phương pháp siêu hình,
tâm xoay quanh vấn đề này.
Trong thời cổ đại, nhà triết học duy vật Đêmôcrít coi nhận thức như là
sự phản ánh, là sự tri giác những hình ảnh đã tách khỏi sự vật.
Nhà triết học duy tâm Platôn coi nhận thức chỉ là sự hồi tưởng của linh
hồn về những điều mà nó đã thấy và đã trải qua khi còn ở thế giới bên kia –
vương quốc của những tư tưởng và cái đẹp thuần túy. Những nhà triết học
duy tâm trong mọi thời đại, bằng nhiều cách khác nhau, đã bác bỏ lý luận
phản ánh duy vật. Họ cho rằng, nhận thức chỉ là một quá trình sản sinh ra tư
tưởng từ trong chiều sâu của ý thức chủ thể, là qúa trình tự sinh của tri thức.
Mặc dù vậy, chủ nghĩa duy tâm bên cạnh những sai lầm trong quan niệm về
sự sáng tạo thế giới bởi tư tưởng, tinh thần lại nói lên được tính tích cực, chủ
động của ý thức, của trí tuệ con người.
Tuy còn nhiều hạn chế, những đại biểu của chủ nghĩa duy vật cũ cũng
đã có những đóng góp to lớn vào lý luận nhận thức. Họ thừa nhận sự tồn tại
của thế giới khách quan độc lập với ý thức của con người và thừa nhận thế
giới đó như là nguồn gốc của nhận thức. Thiếu sót căn bản của chủ nghĩa duy
vật cũ là ở chỗ, họ quan niệm nhận thức như là một sự phản ánh đơn giản,
máy móc và trực quan. Các sự vật, hiện tượng và quá trình hiện ra trong ý
thức của con người như sự phản ánh qua một tấm gương, dưới dạng của
những ấn tượng đã bị đơn giản hóa và thu gọn lại.
Tiếp thu tất cả những yếu tố hợp lý và tích cực mà các trào lưu triết
học của những thời đại trước đây đã đạt được, C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải
thích một cách biện chứng nhận thức như là một quá trình phản ánh tích cực,
sáng tạo thế giới khách quan của con người. Các ông đã quán triệt những
nguyên tắc căn bản của thế giới quan duy vật biện chứng trong lý luận nhận
thức. Thế giới không phải là cái gì khác ngoài vật chất đang vận động và phát
20
triển. Không phải ý thức con người sản sinh ra thế giới vật chất như các nhà
duy tâm quan niệm, mà ngược lại, vật chất tồn tại độc lập với con người. Vì
thức từ đồ thức luận của tư duy đến thực tiễn, Đuyrinh đã đặt mình vào vị trí
của nhà duy tâm.
Phê phán quan niệm của Đuyrinh, Ph.Ăngghen đã đồng thời chỉ ra quan
điểm duy vật về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, đó là quan điểm thừa
nhận rằng: “Các nguyên lý không phải là điểm xuất phát mà là kết quả cuối
cùng của sự nghiên cứu. Nguyên lý không phải được ứng dụng vào giới tự
nhiên và lịch sử loài người mà là được rút ra từ trong tự nhiên và lịch sử loài
người. Không phải giới tự nhiên và lịch sử loài người phải phù hợp với các
nguyên lý mà trái lại, các nguyên lý chỉ đúng trong chừng mực nó phù hợp
với giới tự nhiên và lịch sử. Đó là quan điểm duy vật duy nhất đối với sự
vật”42, 55.
Ph.Ăngghen còn giải thích rằng giữa tư duy và tồn tại, giữa những quy
luật của tư duy và những quy luật của tồn tại có sự phù hợp nhau, vì tư duy, ý
thức “là sản vật của bộ óc con người và bản thân con người lại là sản vật của
tự nhiên, một sản vật đã phát triển trong một môi trường nhất định và cùng
với môi trường đó. Vì vậy, lẽ tự nhiên những sản vật của bộ óc con người, -
quy đến cùng, cũng là những sản vật của giới tự nhiên, - không mâu thuẫn mà
lại còn phù hợp với mối liên hệ còn lại của giới tự nhiên”42, 56.
Thực vậy, mặc dù chúng ta không nhìn được ý thức, không chụp ảnh
được ý thức, nhưng ý thức không phải là một hiện tượng siêu tự nhiên, tồn tại
độc lập với vật chất. ý thức tách khỏi vật chất, bị tuyệt đối hoá thành “vị thần
sáng tạo ra hiện thực” - đó chỉ là một sự trừu tượng chết, một điều bịa đặt phi
lý kiểu thần học. Trong tác phẩm của mình, Ph.Ăngghen còn mở rộng nguyên
lý của chủ nghĩa duy vật về quan hệ giữa tư duy và tồn tại vào trong lĩnh vực
toán học để phê phán quan điểm duy tâm của Đuyrinh khi cho rằng “có thể
22
trực tiếp rút toàn bộ môn toán học thuần tuý từ đầu óc của con người một
cách tiên nghiệm, nghĩa là không cần đến kinh nghiệm mà từ thế giới bên
ngoài cung cấp cho chúng ta”, “trong toán học thuần túy, lý tính phải đụng
hiện qua nhiều khía cạnh, nhiều mức độ; không chỉ tái hiện nguyên xi mà tiến
hành phân tích, tổng hợp để từ những nguyên liệu có sẵn trong thực tại khách
quan hình dung, tưởng tượng ra những cái chưa có, nhưng cần có cho con
người; không phải chỉ phản ánh cái bề ngoài, những mối liên hệ đơn nhất,
ngẫu nhiên mà cả cái bên trong, những mối liên hệ phổ biến mang tính quy
luật. Đây là sự phản ánh riêng của con người khác hẳn hành vi phản ánh của
động vật.
Một câu hỏi lớn luôn được đặt ra đối với loài người thuộc bao nhiêu thế
hệ là: về nguyên tắc, con người có khả năng nhận thức được thế giới hay
không? Trong lịch sử đã có nhiều cách trả lời khác nhau chung quanh vấn đề
này. Những người theo thuyết hoài nghi không phủ nhận về nguyên tắc tính
có thể nhận thức được thế giới, nhưng họ lại nghi ngờ về tính chất đáng tin
cậy của tri thức thu nhận được. Những người theo thuyết không thể biết thì
cho rằng, cái mà sự vật hiện ra với ta khác về nguyên tắc với cái mà sự vật tồn
tại tự nó. Chúng ta chỉ biết được các hiện tượng của sự vật mà không thể biết
được chúng tồn tại thực sự như thế nào. ở đây, tính phức tạp và tính mâu
thuẫn của quá trình nhận thức đã bị xuyên tạc. Bởi lẽ, những mâu thuẫn đó
không được xem như là sự phản ánh tính phức tạp của bản thân khách thể
cũng như của con đường nhận thức khách thể mà được xem như là biểu hiện
bất lực của nhận thức con người. Những thành tựu, những bước tiến lớn lao
mà con người đạt được trong quá trình nhận thức đã bác bỏ dứt khoát quan
niệm của thuyết không thể biết và chứng minh khả năng của con người mãi
mãi tiến gần đến chân lý khách quan.
Như đã nói ở trên, giới tự nhiên bao giờ cũng tồn tại một cách khách
quan, độc lập với ý thức con người. Nó vận động, biến đổi và phát triển
24
không ngừng theo các quy luật biện chứng nội tại của nó. Nhiệm vụ của khoa
học chính là tìm ra các quy luật ấy. Muốn vậy thì nhà khoa học bao giờ cũng
phải tự giác hay tự phát đứng trên lập trường duy vật, phải có quan điểm duy
thức là thế giới bên ngoài “chứ không phải nảy sinh ra trong đầu óc như một
sự vật của tư duy thuần túy”[42, 59].
1.2.2 Quan niệm về biện chứng của quá trình nhận thức
Khẳng định nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo thế giới
khách quan vào đầu óc của con người, các nhà sáng lập chủ nghĩa cộng sản đã
quán triệt những nguyên tắc căn bản của thế giới quan duy vật biện chứng
trong lý luận nhận thức. Theo đó, thế giới vật chất không ngừng vận động và
phát triển, tồn tại độc lập với con người, bản chất của nhận thức chính là sự
phản ánh trong bộ óc người hiện thực khách quan rộng lớn và muôn vẻ ấy.
Tuy nhiên, sự phản ánh đó không phải là một hành động nhất thời và
thụ động mà là một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực, năng
động và sáng tạo. Trong nhận thức, sự phù hợp giữa tư tưởng (thuộc con
người) với hiện thực khách quan là một quá trình. Nói cách khác, sự phản ánh
đúng đắn thế giới khách quan trong ý thức con người là quá trình vận động
của sự nhận thức vô tận về thế giới với cả một chuỗi những sự trừu tượng,
hình thành khái niệm, quy luật. Những khái niệm này cũng bao quát một cách
tương đối, gần đúng những quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn vận
động và phát triển, tạo nên một bức tranh sinh động, khoa học về thế giới
khách quan.
Lịch sử phát triển của khoa học đã cho thấy nhiều trường hợp những tài
liệu, những sự kiện thu nhận được trong quá trình quan sát và thực nghiệm đã
hoàn toàn bất ngờ và vượt ra ngoài dự kiến của nhà khoa học, trái ngược với
những quan niệm và hiểu biết thông thường. Điều đó không làm cho con
người mất đi lòng tin vào giá trị của những tri thức cũ cũng như khả năng
nhận thức của mình. Trái lại, đó chính là cơ sở, là điểm tựa để con người bổ