Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí khảo sát những di sản văn hóa phi vật thể đã được công nhận và đang được đề cử c - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
o0o

LÊ VŨ ĐIỆP TÓM TẮT
VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ
CỦA VIỆT NAM TRÊN BÁO CHÍ
(Khảo sát những di sản văn hoá phi vật thể đã được công nhận
và đang được đề cử công nhận của UNESCO tại Việt Nam)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ HÀ NỘI, NĂM 2007



Hà Nội- tháng 11 năm 2007
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề………………………………………………………… …01
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu…………………………………………… ………03
3. Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu…………………………………………………………05
4. Phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………………………………… 06
5. Kết cấu luận văn…………………………………………………………………… …06

PHẦN I- DI SẢN VĂN HÓA- NHẬN THỨC VÀ QUAN NIỆM TRONG
HỘI NHẬP TOÀN CẦU…………………………………………………………….07
1. DI SẢN VÀ VĂN HÓA DÂN TỘC…………………………………………… ……07
1. 1. Khái niệm "Di sản văn hóa dân tộc"………………………………… 07
1.2. Cấu trúc, đặc điểm của di sản văn hóa dân tộc…………………………….…08
1.2.1. Cấu trúc ……………………………………………………… 08
1.2.2. Di sản văn hóa dân tộc trong hệ thống Văn hoá………………….…16
1.2.2.1. Văn hóa là gì? ………………………………………… 16
1.2.2.2. Cấu trúc của văn hoá………………………………….…18
1.2.3. Di sản văn hoá phi vật thể……………………………………………… …19
1.2.3.1. Khái niệm Di sản văn hóa phi vật thể……………… …19
1.2.3.2. Đặc điểm của Di sản văn hóa phi vật thể…………… …21
2. DI SẢN VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG HỘI NHẬP TOÀN CẦU 32
2.1. Hội nhập- xu thế tác động mọi mặt của đời sống xã hội 32
2.2. Văn hóa, bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam thời kì toàn cầu hóa 37
3. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN
VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 45
3.1. Khẳng định bản sắc của văn hóa dân tộc Việt Nam 45
3.2. Phƣơng hƣớng bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc của Đảng 48

1.1.3. Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong nƣớc, tăng cƣờng vốn đầu
tƣ, bảo đảm hành lang pháp lý thông thoáng cho công tác bảo tồn và phát
triển văn hóa bền vững………………………………………………… 108
1.2. Chính sách với văn hóa phi vật thể……………………………………… ….108
1.2.1.Cần có cơ chế thống nhất quản lý nhà nƣớc đối với nhiệm vụ nghiên
cứu, sƣu tầm, bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa phi vật
thể…………………………………………………………………… … 108
1.2.2. Cần có những chính sách thích hợp và ƣu đãi đặc biệt cho việc đầu tƣ
khoa học và đầu tƣ kinh phí cho việc sƣu tầm, bảo tồn và phát huy di sản văn
hóa phi vật thể. ………………………………………………………….…109
1.2.3. Phải cập nhật thông tin, mở rộng giao lƣu quốc tế …………………109
1.2.4. Tăng cƣờng việc đề xuất công nhận là di sản văn hóa nhân loại ….109
1.2.5. Nhà nƣớc, Chính phủ cần đƣa ra những văn bản hƣớng dẫn hoạt động
bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tới các cấp, các ngành,
đoàn thể, các địa phƣơng trên toàn quốc…………………………………110
1.2.6. Đề xuất một số phƣơng pháp mới trong việc bảo tồn và phát huy các di
sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, khoa học, hiện đại và gần gũi với đời
sống hơn……………………………………………………………………110
1.2.7. Cho phép ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài; tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài
nghiên cứu, sƣu tầm di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam………….….112
2. BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ- MỘT THỰC TIỄN
TƢƠI SÁNG…………………………………………………………………………… 112
2.1. Đó là việc xây dựng và phát triển đời sống văn hóa thông tin cơ sở……… 114
2.2. Hỗ trợ cho hoạt động điện ảnh 115
2.3. Tổ chức khai thác theo hƣớng du lịch văn hoá và nghỉ ngơi, không thƣơng mại
hoá ……………………………………………………………………………….115
2.4. Chọn lọc những vùng, miền văn hóa thực hiện thí điểm việc bảo tồn và lƣu giữ
văn hóa………………………………………………………………………… 116
2.5. Nơi nào chính quyền quan tâm nơi đó vốn văn hoá cổ đƣợc bảo tồn……….117


PGS
Phó giáo sư
7
TS
Tiến sỹ
8
NXB
Nhà xuất bản
9
TCN
Trước Công nguyên
10
APEC
Asia-Pacific Economic Cooperation
(Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương)
11
WTO
World Trade Organization
(Tổ chức Thương mại thế giới)
12

Nghị định
13
CP
Chính phủ
lĩnh vực, một thuộc thế giới vật chất, một thuộc thế giới tinh thần. Nhƣng dù
là vật chất hay tinh thần thì mỗi nền văn hóa bao giờ cũng mang những bản
sắc riêng. Bản sắc văn hóa là cốt lõi của của nền văn hóa, đƣợc lƣu truyền,

(1)
Vũ Thị Kim Dung, Cách tiếp cận vấn đề văn hóa theo quan điểm triết học Mác- ĐHSP Hà Nội, Tạp chí
Triết học, 2/1998
Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí

2 phát triển, bổ sung qua nhiều thế hệ. Bản sắc văn hóa là sức đề kháng của mỗi
nền văn hóa trong giao lƣu, hội nhập giữa các nền văn hóa trên thế giới để nền
văn hóa ấy luôn là chính mình. Bản sắc văn hóa là nền tảng, là động lực thiết
yếu cho sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc trong bất kì thời đại nào. Tại
Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,
vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội" chính
là vì thế.
Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú
trọng tới việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy bản sắc của nền văn hóa nƣớc
nhà. Vấn đề gìn giữ, bảo tồn và phát huy lại càng trở nên cấp bách hơn khi
Việt Nam giong thuyền ra biển lớn, hội nhập với toàn cầu. Nghị quyết Hội
nghị lần thứ V- Ban chấp hành trung ƣơng Đảng khóa VIII đã nhận định
mục tiêu của chiến lƣợc phát triển văn hóa Việt Nam thời kì mới là "tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc". Hơn bao giờ hết, nhiệm vụ bảo vệ và phát
huy bản sắc dân tộc, bảo vệ các giá trị văn hóa quý giá của ngƣời Việt Nam

Báo chí chiếm một vai trò quan trọng trƣớc nhiệm vụ đó. Báo chí Việt
Nam là sản phẩm từ sự xâm lƣợc của chủ nghĩa thực dân. Nhƣng cũng
không thể phủ nhận việc sự ra đời của báo chí Việt Nam không phải xuất
phát từ nhu cầu khách quan của xã hội Việt Nam, nhất là nhu cầu bảo tồn và
gìn giữ những giá trị văn hóa của cuộc sống hiện đại. Khi hội nhập với thế
giới, bắt tay với bạn bè toàn cầu, Việt Nam vẫn luôn phải là mình, là chính
mình, hòa nhập mà không hòa tan. Những tinh hoa văn hóa Việt Nam là căn
cốt của sự "là mình" ấy.

2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc là đề
tài mà rất nhiều luận văn tốt nghiệp ngành báo chí đã đề cấp tới. Tuy nhiên,
thực tế lại luôn luôn thay đổi và biến chuyển, luôn đặt ra những vấn đề mới
đòi hỏi chúng ta phải trả lời. Không tham vọng nhiều hơn việc sẽ là một tƣ
liệu tham khảo, luận văn thạc sĩ này mong có thể đóng góp một vài ý kiến nhỏ
để các nhà nghiên cứu, những ngƣời quan tâm đến văn hóa Việt Nam có thể
tìm ra những hƣớng đi mới cho mình.

Luận văn giới hạn việc khảo sát tƣ liệu báo chí trong khoảng thời gian
từ năm 2002 đến nay. Cụ thể nhƣ sau:

Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí

4 Tạp chí Di sản văn hóa

Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí

5 - Hội đồng biên tập: GS TS Nguyễn Xuân Kính, PGS Chu Xuân Diên,
PGS.TS Nguyễn Bích Hà, GS.TS Kiều Thu Hoạch, TS Đỗ Hồng Kỳ, PGS.TS
Lê Hồng Lý, GS.TSKH Phan Đăng Nhật…
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 1/2007 đến nay
Báo Văn hóa
- Cơ quan chủ quản: Bộ Văn hóa Thông tin
- Định kì xuất bản: 3 số/ tuần (thứ 4, thứ6, chủ nhật); Số 1: năm 1957
- Tổng biên tập: Trần Đăng Khoa
- Trụ sở tòa soạn: 124 Nguyễn Du, Quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội, Việt Nam
- Thời hạn nghiên cứu: từ tháng 1/2007 đến nay
… Và một số nguồn báo chí khác.

3. Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu
Với chức năng phản ánh hiện thực, báo chí đã ghi nhận khá sinh động
và toàn diện những biến động của đời sống xã hội, những biến động của nền
văn hóa Việt Nam. Khi đƣa ra vấn đề "Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
phi vật thể của Việt Nam trên báo chí", ngƣời viết mong muốn đƣợc tìm
hiểu một cách tƣơng đối sâu về những đóng góp của báo chí trong việc bồi
đắp, vun xới những tinh hoa văn hóa phi vật thể của dân tộc.
Trên cơ sở cụ thể của những tƣ liệu đƣợc khảo cứu, luận văn sẽ đƣa
ra phác họa về xu hƣớng vận động của nhận thức con ngƣời việc trong việc
gìn giữ những di sản mà họ đang có. Từ đây, chúng ta có thể dễ dàng nhìn
nhận con đƣờng phù hợp cho sứ mệnh của báo chí đối với nền văn hóa
nƣớc nhà. Việc này có thể giúp cho báo chí tìm ra những con đƣờng hoạt
động có hiệu quả hơn. Kết quả nghiên cứu từ thực tiễn là cơ sở để ngƣời

- Chƣơng II: BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT
THỂ Ở VIỆT NAM
- Chƣơng III: HƢỚNG ĐI VÀ GIẢI PHÁP CHO BẢO TỒN VÀ PHÁT
TRIỂN DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ Ở VIỆT NAM
- Phần Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục

Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí

7 CHƢƠNG I
DI SẢN VĂN HÓA- NHẬN THỨC VÀ QUAN NIỆM
TRONG HỘI NHẬP TOÀN CẦU

1. DI SẢN VÀ VĂN HÓA DÂN TỘC
1. 1. Khái niệm "Di sản văn hóa dân tộc"
Di sản- trong tiếng Anh có nghĩa là “heritage”, trong tiếng Pháp là “héritage”-
đều có nghĩa là gia tài, của kế thừa.
Theo Từ điển tiếng Việt- NXB Khoa học Xã hội (1996) có nghĩa là: Di
sản là cái của thời đi trước để lại (Chẳng hạn, kế thừa di sản văn hoá; kinh tế,
văn hoá lạc hậu là di sản của chế độ cũ).

8 Di sản văn hóa dân tộc kết tinh trí tuệ, ý chí, tình cảm và công sức của mỗi cá
nhân và tập thể, hình thành nên những chuẩn mực giá trị xã hội, phản ánh
những sắc thái riêng biệt và truyền thống tốt đẹp của từng dân tộc. Di sản văn
hóa dân tộc đóng dấu ấn của mỗi thời đại, là bức thông điệp của các thế hệ đi
trƣớc gửi lại cho các thế hệ hôm nay, là chứng tích phản ánh bƣớc đi của mỗi
dân tộc trải qua những giai đoạn lịch sử nhất định. Khác với các loài động vật
khác- chỉ tồn tại đơn thuần theo ý nghĩa là tồn tại, con ngƣời bằng thực tiễn
sống của mình, bằng những gì đã trải nghiệm lại thƣờng đặt ra những cơ sở
mới cho tƣơng lai. Những sản phẩm do con ngƣời làm ra trong quá khứ, mà
hiện tại vẫn đang đắc dụng, sẽ trở thành di sản văn hoá. Rồi các thế hệ con
ngƣời, thế hệ sau tiếp nối thế hệ trƣớc, học tập, tiếp thu, tiến tới chiếm lĩnh
toàn bộ vốn di sản văn hoá của cộng đồng. Và mỗi sản phẩm văn hoá luôn
đƣợc cộng đồng chấp nhận (tức là không phải mọi thứ con ngƣời sáng tạo ra
đều có thể trở thành văn hoá, di sản văn hoá mà chỉ những giá trị nào đƣợc số
đông thừa nhận mới trở thành văn hoá và đƣợc thừa nhận là di sản khi tiếp tục
đƣợc lƣu truyền lại).

1.2. Cấu trúc, đặc điểm của di sản văn hóa dân tộc
1.2.1. Cấu trúc
Dựa theo quan điểm của UNESCO
(1)
, ngƣời ta phân chia di sản văn hoá
nói chung thành hai loại: Di sản văn hoá vật thể và Di sản văn hoá phi vật thể.
 Di sản văn hoá vật thể: bao gồm những vật thể (hữu hình- Tangible) có giá
trị đặc biệt về các mặt văn hoá, lịch sử và tự nhiên, do một cộng đồng văn
hoá- xã hội nào đó tạo ra. Đó là những di vật, di tích nhƣ đền đài, cung
điện, chùa tháp, lăng mộ, những hiện vật bảo tàng, thƣ tịch, tài liệu lƣu trữ,

Tại sao vậy?
Vì nhận thức và quan niệm của loài ngƣời về đặc trƣng, đặc điểm của
các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có nhiều điểm khác nhau.

Di sản Văn hóa vật thể là văn hóa tồn tại một cách hữu thể, thƣờng
đƣợc nhận thức ở dạng hình khối, tác động trực tiếp vào thị giác con ngƣời.
Các di sản văn hóa vật thể là nghệ thuật của không gian.
DI SẢN VĂN HÓA
DÂN TỘC
DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí

10 Những di sản văn hóa vật thể của nhân loại tồn tại cho đến ngày nay
trên khắp thế giới thƣờng bao giờ cũng tác động trực tiếp vào cảm xúc của con
ngƣời khi đứng trƣớc chúng. “Đến Trung Quốc, điều gây “sốc” đối với du
khách ngay từ phút đầu là quy mô của các công trình. Cố Cung rộng tới
720.000 m2 với 100 cung điện và 9.999 phòng (nay còn 8.600 phòng). Thiên
Đàn được xây dựng trên một diện tích tới 2.730.000 m2, tức là lớn gấp 4 lần
diện tích Cố Cung. Di hoà viên nằm trên cả một vùng đất rộng hơn 290 ha,
trong đó có dãy Trường lang chạy dài tới 728m với những bức tranh tuyệt đẹp
về lịch sử hàng nghìn năm của Trung Quốc”
(1)
. Nếu đến Vạn Lý Trƣờng

11 vậy chỉ bằng những công cụ thô sơ. Quần thể Kim Tự Tháp là mộ của ba vị
pharaon đã cai trị một vƣơng quốc vĩ đại, trong đó cao nhất là Đại kim tự tháp
đƣợc xây dựng cho hoàng đế Kheops- ngƣời đã trị vì vào khoảng 2650 năm
trƣớc công nguyên. Kim tự tháp này cao 147 mét (nay còn 138 m), có đáy
vuông mỗi cạnh là 230 mét, trên một diện tích 5,3 héc ta. Tháp đƣợc xây bằng
2.300.000 khối đá, trung bình mỗi khối từ 2- 3 tấn, có khối nặng đến 15 tấn;
còn những khối đá hoa cƣơng trên phòng mộ nặng đến 50 tấn. Các nhà khoa
học trên thế giới ngày nay vẫn còn đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: “Vì sao tổ
tiên xƣa có thể làm đƣợc và làm tốt đến thế?” Nhƣng dù đáp án cho câu hỏi ấy
có nhƣ thế nào, chúng ta cũng không thể phủ nhận đƣợc sức mạnh sáng tạo
của loài ngƣời qua suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm.
Cảm xúc của con ngƣời trƣớc các di sản văn hóa vật thể bao giờ cũng là
cảm phục.

Di sản văn hóa phi vật thể có tính “di động” mạnh hơn do không bị
trói buộc bởi các đặc tính về hình thể, thƣờng gắn liền với các loại hình nghệ
thuật (âm nhạc, văn chƣơng, múa…), có tác động tới xúc cảm, cách cảm của
con ngƣời, có khả năng truyền bá lớn hơn, khó nhận biết, khó nắm bắt hơn.
Văn hóa phi vật thể thƣờng đƣợc coi là thuộc về nghệ thuật của thời gian.
Mỗi quốc gia, dân tộc lại có cách quan niệm riêng về di sản văn hoá phi
vật thể của mình và có những cách ứng xử khác nhau với những di sản đó.
Chẳng hạn, ngƣời Nhật Bản coi tài năng của nghệ nhân dân gian cũng thuộc
về di sản văn hoá vô hình và gọi đó là “kho báu sống” của dân tộc. Ở một số
nƣớc châu Phi, ngƣời ta quan niệm khi một cụ già mất đi, điều đó cũng có
nghĩa là một thƣ viện cổ đã bị cháy.
Ngƣời Việt Nam trong cách quan niệm về thế nào là di sản văn hoá phi vật
thể so với các dân tộc khác không có nhiều khác biệt. Trong cách hiểu của ngƣời

Ông giằng búi tóc.
Ông khóc ông cười.
Mời ông xuống chơi
hay:
Thả đỉa ba ba
Chớ bắt liền bà.
Phải tội liền ông
Cơm trắng như bông.
Gạo tiền như nước
hoặc:

(1)
Trƣờng Lƣu, Văn hoá Việt Nam- truyền thống và hiện đại- tr 14
Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí

13 Chi chi chành chành.
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương.
Ba vương ngũ đế.
Bắt dế đi tìm.
Con chim làm tổ…
“Có lẽ đồng dao thuộc về thời kỳ mà ở đó ý nghĩa của ngôn từ chỉ thấp
thoáng trong một kết hợp nhường chỗ cho vẻ đẹp kỳ lạ của vần điệu. Đây là
dạng những bài ca rất xa xưa của dân gian với tư duy thẩm mỹ hồn nhiên gần
cách con ngƣời ở mỗi vùng, mỗi địa phƣơng. Nó là trạng thái tâm hồn của mỗi
con ngƣời mà cũng là của toàn thể cộng đồng. Nhƣng giá trị của loại hình văn
hóa phi vật thể ấy thực tế còn vƣợt xa cả những gì có thể thống kê đƣợc.
Chúng tồn tại trong trạng thái linh hoạt, sống động trong những hoàn cảnh,
điều kiện hết sức khác nhau.
Nói đến văn hóa, văn nghệ dân gian cũng là nói đến tƣơng quan giữa
nội dung và nghệ thuật biểu hiện trong quá trình phát triển của nó. Những
phức tạp trong các quan hệ xã hội, sự phát triển phong phú về tinh thần đòi
hỏi một nghệ thuật biểu hiện ngày càng tinh vi. Đó không chỉ đơn giản là sự
hình thành và vận dụng thuần thục các công thức truyền thống mà còn phải đi
đến biểu hiện đầy đủ những trải nghiệm phức tạp nhất.
Nếu quan sát chúng ta sẽ thấy nhiều ca từ của nhiều bài quan họ nổi bật
lên bởi phong cách hồn nhiên mộc mạc, đó là những bài ca gắn liền với sinh hoạt
diễn xƣớng dân gian, là những câu hát đối đáp để “giải bài toán tâm trạng” nhƣ:
Người ơi! Người ở đừng về,
Người về em vẫn (í i ì í i í i i) có mấy trông (i ì) theo,
Trông (ì í a a) nước tình (a) chung là như nước chảy,
Mà này cũng có a trông bèo, trông bèo là bèo trôi.
Người ơi người ở đừng về.

Người về em vẫn (í i ì í i í i i) có mấy khóc (i ì) thầm,
Đôi (ì í a a) bên là bên sóng như vạt áo,
Mà này cũng có (a) ướt đầm, ướt đầm như mưa,
Người ơi người ở đừng về.

Người về em dặn (í i ì í i í i i) có mấy lời này rằng,
Sông (ì í a a) sâu là sâu sông nên chớ lội,
Mà này cũng có (a) đò đầy, đò đầy người chớ qua,

Hai tin đợi, ba bốn tin chờ
Sao chẳng thấy đâu
Một mình trăng treo, suốt đêm thâu
Em ơi, trăng đã ngả ngang đầu
Thương nhớ ai, sương rơi
Đêm sắp tàn trăng tàn
Nghềnh tre đưa truớc ngõ
Là gió la đà em vẫn mong chờ
Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí

16 Sao chẳng thấy đâu
Ngày ngay, ra trông, chốn xa xăm
Em ơi anh vẫn đợi, mỏi mòn
Ra trông, sao xa, tang tính tình cá vờn
Người đi xa có nhớ, là nhớ ai ngồi
Trông cánh chim trời, sao chẳng thấy đâu
Trong câu hát xuất hiện những trạng thái tâm tình riêng tƣ. Phải chăng
đó là con đƣờng của thứ nghệ thuật bằng ngôn từ này, con đƣờng đi từ ngôn
ngữ của những bài ca hồn nhiên, mộc mạc đến ngôn ngữ của những bài thơ
giàu tính trải nghiệm, giàu suy tƣ và nhiều xúc cảm?
Cảm xúc con ngƣời trƣớc những tinh hoa nghệ thuật phi vật thể thƣờng
bao giờ cũng là niềm say mê.

1.2.2. Di sản văn hóa dân tộc trong hệ thống Văn hoá


17 * Phan Ngọc: “Không có cái vật gì gọi là văn hoá cả và ngược lại bất kì vật
gì cũng có cái mặt văn hoá. Văn hoá là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa
thế giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu
lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một
cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau,
tạo thành những nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc
người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh
vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác”
(1)
.
* Trần Ngọc Thêm- Cơ sở văn hoá Việt Nam: “Văn hoá là một hệ thống hữu
cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá
trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự
nhiên và xã hội”
(2)
.
* UNESCO: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt
tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội
hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn
chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống
các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hoá đem lại cho con
người khả năng suy xét bản thân. Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành
những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một
cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được
bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét
những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ

- Tiểu hệ Văn hoá ứng xử với môi trƣờng tự nhiên: Văn hoá tận dụng
môi trƣờng tự nhiên, Văn hoá ứng phó với môi trƣờng tự nhiên.
- Tiểu hệ Văn hoá ứng xử với môi trƣờng xã hội: Văn hoá tận dụng môi
trƣờng xã hội, Văn hoá ứng phó với môi trƣờng xã hội.
Cả 4 thành tố này đều bị quy định bởi một gốc chung là loại hình văn
hoá. Loại hình văn hoá cho thấy cái khác biệt trong tính hệ thống của văn hoá.
* Nguyễn Tất Đắc lại chia văn hoá thành hoạt động sinh tồn, hoạt động xã hội,
hoạt động tinh thần, hoạt động nghệ thuật…
* Đào Duy Anh trong cuốn Việt Nam văn hoá sử cƣơng lại căn cứ vào giới
thuyết của Félix Sartiaux (“Văn hoá, về phương diện động, là cuộc phát triển
tiến bộ mà không ngừng của những tác dụng xã hội về kỹ thuật, kinh tế, tư
tưởng, nghệ thuật, xã hội tổ chức, những tác dụng ấy tuy liên lạc mà vẫn riêng
nhau. Về phương diện tĩnh thì văn hoá là trạng thái tiến bộ của những tác
dụng ấy ở một thời gian nhất định, và tất cả những tính chất mà tác dụng ấy
bày ra ở các xã hội loài người”
(1)
) để chia văn hoá ra thành 3 bộ phận:
- Kinh tế sinh hoạt
- Xã hội sinh hoạt
- Trí thức sinh hoạt
* L.White thì chia văn hoá thành ba tiểu hệ: công nghệ, xã hội và tƣ tƣởng
(2)
.

(1)
Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, tr 10, NXB Đồng Tháp- 1999
(2)
Trần Ngọc Thêm, Tạp chí Người đưa tin UNESCO, tr.5, 11/1989


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status