vấn đề giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên việt nam hiện nay (qua khảo sát thực tế ở hà tĩnh) - Pdf 25

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ THANH HUYỀN

VẤN ĐỀ GIÁO DỤC Ý THỨC PHÁP LUẬT
CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
(QUA KHẢO SÁT THỰC TẾ Ở HÀ TĨNH) Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 80 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN NGỌC UẨN
HÀ NỘI - 2013 LỜI CAM ĐOAN

32
2.1. Thực trạng giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên ở tỉnh Hà
Tĩnh hiện nay 32
2.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục giáo dục, nâng cao ý
thức pháp luật cho sinh viên ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay 66
KẾT LUẬN
89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ý thức pháp luật là một trong những hình thái ý thức xã hội, được hình
thành, tồn tại và phát triển trong những hình thái kinh tế - xã hội đã có giai
cấp, nhà nước và pháp luật. Ý thức pháp luật thể hiện tri thức và sự đánh giá
về tính công bằng của những quy chế được chấp nhận trong một xã hội nhất
định với tính cách là luật pháp, về quyền hạn và nghĩa vụ các thành viên trong
cộng đồng, xã hội về tính hợp pháp hay không hợp pháp của hành vi con
người, nó là một trong những vấn đề cơ bản, đa dạng, phức tạp của đời sống
pháp luật - xã hội.
Ý thức pháp luật phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế của xã hội,
trước hết là các quan hệ sản xuất được thể hiện trong hệ thống pháp luật.
Bằng việc thông qua sự duy trì, điều hành của nhà nước mà ý thức pháp luật
tác động mạnh mẽ đến cơ sở kinh tế và các hình thái ý thức xã hội khác. Mức
độ và hiệu quả sự tác động của ý thức pháp luật đối với đời sống xã hội một
phần phụ thuộc vào sự truyền bá và xâm nhập của ý thức pháp luật cả về bề
rộng và bề sâu của nó vào trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, việc tổ chức

cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Hà Tĩnh là một tỉnh nằm ở miền trung của đất nước, là một tỉnh có
nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội. Trong những năm qua
các trường đại học, cao đẳng ở đây đã đào tạo được số lượng lớn lao động có
chất lượng cao, từng bước đáp ứng nhu cầu phát triển của. Tuy nhiên, nằm
trong bối cảnh chung của đất nước cho đến nay, Hà Tĩnh vẫn là một tỉnh có
kinh tế còn chậm phát triển, đời sống của nhân dân còn thấp, nhiều mặt của
đời sống xã hội còn nhiều hạn chế, sự hiểu biết về Hiến pháp và pháp luật của
nhân dân còn thấp kém, việc giáo dục ý thức pháp luật cho người dân nói
chung và thanh niên, sinh viên nói riêng trong tỉnh còn nhiều khó khăn, bất
cập và chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng vi phạm pháp luật của

3
thanh niên, sinh viên vẫn tiếp tục xẩy ra, tập trung vào một số lĩnh vực như an
toàn giao thông, trộm cắp, ma tuý, hôn nhân, gia đình…
Những mặt hạn chế nêu trên, đã và đang là những yếu tố gây ảnh
hưởng và cản trở không nhỏ đến sự đóng góp của lực lượng thanh niên, sinh
viên cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và tỉnh
Hà Tĩnh nói riêng. Do đó, việc tiếp tục giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật
cho thanh niên, sinh viên nói chung, sinh viên ở tỉnh Hà Tĩnh nói riêng là vấn
đề có ý nghĩa cơ bản, lâu dài và cấp bách. Vì thế, tác giả lựa chọn đề tài:
“Vấn đề giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên Việt Nam hiện nay (qua
khảo sát thực tế ở Hà Tĩnh)” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành
Triết học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ngoài những nội dung cơ bản về ý thức pháp luật được thể hiện trong
các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Chủ tịch Hồ
Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và các chính sách của Nhà nước
Việt Nam, trong các sách giáo khoa triết học Mác - Lênin, các giáo trình
giảng dạy trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp về

sĩ, bảo vệ tại trường Đại học Khoa học Huế; Lương Đình Hải (2006), “Xây
dựng Nhà nước pháp quyền và vấn đề dân chủ hoá xã hội ở nước ta hiện
nay” Tạp chí Triết học, số 1; “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và
các định chế xã hội ở nước ta hiện nay” của Lê Văn Quang và Văn Đức
Thanh đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006); Nguyễn Thế
Kiệt (2006), “Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” Tạp chí Triết học,
số 6; Nguyễn Đình Hoà “Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” Tạp chí Triết
học, số 7, 2006; Nguyễn Thị Nga (2007), “Vấn đề xây dựng ý thức xã hội
mới ở nước ta hiện nay” Tạp chí Triết học, số 4.

5
Những công trình nghiên cứu trên đã đạt được những kết quả nhất định,
và đã giải quyết được một số vấn đề về lý luận, về phương pháp, vấn đề thực
trạng, giải pháp và phương hướng của công tác giáo dục ý thức pháp luật
trong các trường đại học, cao đẳng.v.v Tuy nhiên cho đến nay, chưa có công
trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề giáo dục ý thức pháp luật cho sinh viên ở
Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích ý thức pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật cho sinh
viên Việt Nam hiện nay, qua khảo sát thực tế ở Hà Tĩnh, đưa ra những giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho sinh viên Hà Tĩnh hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên đây, nhiệm vụ của luận văn là:
- Làm rõ tầm quan trọng và nội dung của giáo dục ý thức pháp luật cho
sinh viên Việt Nam hiện nay.
- Phân tích thực trạng và nguyên nhân của việc giáo dục ý thức pháp
luật cho sinh viên ở Hà Tĩnh hiện nay

8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 2 chương, 4 tiết.

7
Chương 1
TẦM QUAN TRỌNG VÀ NỘI DUNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC
PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1. Ý THỨC PHÁP LUẬT - KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CẤU TRÚC
1.1.1. Khái niệm ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp;
nó tồn tại bên cạnh một số hình thái ý thức xã hội khác như: triết học, chính
trị, tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật Theo đó, ý thức pháp luật thể hiện tri thức
và sự đánh giá về tính công bằng của những quy tắc được chấp nhận trong
một xã hội nhất định với tính cách là luật pháp, về quyền hạn và nghĩa vụ các
thành viên trong cộng đồng, xã hội, về tính hợp pháp hay không hợp pháp của
hành vi con người, nó là một trong những vấn đề cơ bản, đa dạng, phức tạp
của đời sống pháp luật.
Đời sống pháp luật đó là nhu cầu cần phải điều chỉnh những hành vi có
tính lặp đi, lặp lại thường xuyên, phổ biến của con người trong đời sống xã
hội nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp nắm quyền lực và duy trì sự ổn định của
cộng đồng xã hội. Nhu cầu cần điều chỉnh đó được con người phản ảnh một
cách tích cực và sáng tạo hình thành ý thức pháp luật.
Pháp luật ra đời cùng với Nhà nước để thực hiện quyền lực công cộng,
nó là công cụ của bộ máy nhà nước nhằm quản lý và điều chỉnh xã hội. Thực
chất của pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được thể chế hoá và được
thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Do vậy, bên cạnh sự phản
ánh sự công bằng xã hội theo những chuẩn mực nhất định, ý thức pháp luật
phản ánh sâu sắc ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội.

độ, sự đánh giá về tính công bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không
đúng đắn của pháp luật, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi
xử sự của con người, trong các hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức

9
chính trị - xã hội và của các chủ thể khác. Nếu xét theo góc độ của người làm
công tác quản lý pháp luật, quan niệm này chưa thể hiện được tính khái quát của
ý thức pháp luật. Vì rằng "tính hợp pháp hay không hợp pháp" còn cần phải
được xem xét dưới giác độ giai cấp, gắn với một thể chế nhà nước nhất định và
sự phục vụ cho giai cấp cầm quyền nào trong xã hội. Mặt khác, quan niệm trên
chỉ hàm ý áp dụng cho thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ
nghĩa, nó chưa phản ánh toàn diện kết cấu nội dung ý thức pháp luật.
Quan điểm thứ ba cho rằng:
Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng hoà những quan điểm,
quan niệm, tình cảm về pháp luật thể hiện thái độ của giai cấp công
nhân và của nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh đạo đối
với pháp luật, đối với các yêu cầu khác của pháp luật, đối với quyền
và nghĩa vụ của công dân [52, tr.196].
Theo quan niệm này, chỉ phản ảnh nội dung cơ bản ý thức pháp luật xã
hội chủ nghĩa theo thể chế chính trị Xô Viết, nhà nước xã hội chủ nghĩa theo
mô hình tập trung, kế hoạch hoá với sự thuần chất và đồng điệu giai cấp, nó
đã đề cao và nhấn mạnh yếu tố giai cấp, thực tế nó được áp dụng trong điều
kiện mô hình xã hội chủ nghĩa Xô Viết trước khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở
Liên Xô và Đông Âu tan rã. Trong điều kiện chế độ dân chủ nhân dân, trong
thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội với sự tồn tại của
nhiều thành phần giai cấp và tầng lớp xã hội thì nó khó tránh khỏi một sự chủ
quan và phiến diện.
Quan niệm thứ tư, lại thu hẹp kết cấu ý thức pháp luật, chỉ mới nhấn
mạnh mặt tri thức pháp luật, yếu tố hợp pháp, yếu tố pháp nhân của ý thức
pháp luật, như:

Vì vậy, khi nghiên cứu ý thức pháp luật không nên nhìn nhận phiến
diện một chiều mà phải đặt nó trong mối quan hệ phức tạp của đời sống xã
11
hội.
Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật phản ánh sâu sắc đời
sống pháp luật, trước hết là sự phản ánh quá trình nhận thức về pháp luật, ý
thức chấp hành pháp luật của nhân dân và việc điều chỉnh hành vi của họ
nhằm duy trì trật tự kỷ cương xã hội theo pháp luật của Nhà nước. Bởi vậy, để
xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân,
vì dân ở Việt Nam, đòi hỏi một mặt phải nâng cao hiệu lực pháp luật xã hội
chủ nghĩa, mặt khác phải đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý thức
pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là đối tượng sinh viên ở nước ta
hiện nay.
1.1.2. Đặc điểm của ý thức pháp luật
Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật tuân thủ quy luật chung
của sự hình thành ý thức xã hội, phản ánh đời sống pháp luật mà trước hết là
nhu cầu pháp lý đặt ra của đời sống xã hội thông qua chuẩn mực pháp luật để
điều chỉnh hành vi con người nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương xã hội theo ý
chí của giai cấp cầm quyền.
Những đặc điểm cơ bản sẽ giúp chúng ta nhận diện một cách rõ hơn về
ý thức pháp luật với tư cách là một hình thái ý thức xã hội như: chịu sự quy
định của tồn tại xã hội; tính độc lập tương đối; tính giai cấp.
Thứ nhất, ý thức pháp luật chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Đây là
đặc điểm cơ bản chỉ rõ nguồn gốc ra đời của ý thức pháp luật. Những nhận
thức, thái độ, tình cảm, quan niệm, mong muốn của con người về pháp luật,
về nhà nước suy cho cùng đều do những điều kiện xã hội khách quan quy
định, chi phối. Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức", C.Mác đã phê phán triết
học Đức trước đó khi họ
tuyên bố rằng ý thức chính trị, ý thức pháp luật, ý thức đạo đức là ý
thức tôn giáo hay ý thức thần học, rằng con người chính trị, con

13
quen có thể là: thói quen hàng ngày, lâu dài, ổn định, sự thay đổi các quy định
pháp lý làm cho chủ thể không kịp thay đổi theo, hoặc chủ thể có thói quen
phản ứng với những quy định mới. Chẳng hạn, sự phản ứng của người dân về
sự thay thế tiền đồng bằng tiền giấy của triều đại nhà Hồ, mặc dù đây là một
cải cách mà cho đến nay đã chứng minh được tính hiện đại và đúng đắn của
nó. Ngoài nguyên nhân trên, tính lạc hậu của ý thức pháp luật so với tồn tại xã
hội sản sinh ra nó còn thể hiện sự vận động, thay đổi, phát triển không ngừng
của tồn tại xã hội, của thực tiễn. C.Mác từng lưu ý chúng ta: "Tư duy của con
người không theo kịp tiến trình của các sự kiện" [35, tr.41]. Pháp luật phản
ánh các lợi ích xã hội tất nhiên là sau khi có sự thay đổi của các điều kiện
kinh tế - xã hội và nhất là phải sau đó một khoảng thời gian nhất định đủ để
nhận thức, đo lường và cân nhắc các điều kiện thay đổi đó. Độ dài của khoảng
thời gian đó có thể khác nhau, tuỳ thuộc vào tính chất của các quan hệ xã hội,
vào mối quan hệ và sự mong muốn của các giai cấp và vào một số nhân tố
khác như tư tưởng và lý luận tiên tiến, khuynh hướng phát triển chung của
nhà nước và pháp luật v.v
Mặc dù ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội,
nhưng trong những điều kiện nhất định, những tư tưởng pháp luật tiến bộ
mang tính khoa học có thể đi trước so với tồn tại xã hội. Điều đó thể hiện:
xuất phát từ những ý tưởng, do tầm nhìn của chủ thể và nếu tư tưởng pháp
luật đó là của giai cấp thống trị thì nó có thể được ghi nhận, được thể chế hoá
và sẽ thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.
Ý thức pháp luật phản ánh tồn tại xã hội của thời đại sinh ra nó, nhưng
nó có tính kế thừa một số yếu tố nhất định của ý thức pháp luật của các thời
đại trước đó. Các tư tưởng, quan điểm của pháp luật tiến bộ của xã hội này có
thể sử dụng trong một xã hội khác.
Tính tương đối của ý thức pháp luật còn thể hiện ở chỗ: một mặt nó
chịu sự quy định của tồn tại xã hội, nhưng mặt khác nó lại tác động trở lại đối
14

thức pháp luật phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế - xã hội, trước hết là các
quan hệ sản xuất, thể hiện trong các bộ luật, luật của nhà nước. Mỗi chế độ xã
hội có giai cấp, có nhà nước chỉ có một hệ thống pháp luật duy nhất, thể hiện ý
chí của giai cấp cầm quyền. Dù trong xã hội còn có hệ tư tưởng, quan điểm
pháp luật của các giai cấp khác, thể hiện ý chí và phản ánh lợi ích riêng của các
giai cấp đó, nhưng đều bị chi phối bởi ý chí của giai cấp cầm quyền. Như vậy,
trong mối quan hệ với ý thức chính trị, ý thức pháp luật bị chi phối, ảnh hưởng
bởi ý thức chính trị và điều đó quy định tính giai cấp của ý thức pháp luật.
Thứ ba, ý thức pháp luật luôn mang tính giai cấp. C.Mác đã viết:
Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những
tư tưởng thống trị. Điều đó có nghĩa là giai cấp là lực lượng vật chất
thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã
hội. Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất thì cũng chi phối luôn
cả những tư liệu sản xuất tinh thần… những tư tưởng thống trị không
phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ
vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu
hiện dưới hình thức tư tưởng… [31, tr.66-67].
Xét riêng trong mối quan hệ giữa ý thức pháp luật và pháp luật thì ý
thức pháp luật là cái lõi. Pháp luật là quá trình vật chất hoá ý thức pháp luật,
biến ý thức pháp luật thành các quy phạm pháp luật thực định. Trong xã hội có
giai cấp, nhu cầu sử dụng các quy tắc để điều chỉnh hành vi của con người trong
đời sống cộng đồng được giai cấp nhận thức và hình thành nên ý thức pháp luật
của giai cấp mình. Xuất phát từ lợi ích giai cấp, những giai cấp khác nhau sẽ
nhìn nhận nhu cầu điều chỉnh hành vi của con người khác nhau. Trong một xã
hội có nhiều giai cấp thì ý thức pháp luật cũng khác nhau, thậm chí ý thức pháp
luật của một giai cấp cũng không thuần nhất. Trong đó, ý thức pháp luật giữ địa
vị thống trị là ý thức pháp luật của giai cấp nắm quyền lực nhà nước. Các giai
16
cấp bị trị chịu ảnh hưởng và tác động của ý thức pháp luật của giai cấp thống trị,
bắt buộc phải tuân theo ý thức pháp luật của giai cấp thống trị.

Ý thức pháp luật cá nhân là những tư tưởng và tâm lý pháp luật của
mỗi con người cụ thể, hình thành dưới ảnh hưởng của các quan hệ pháp luật
mà cá nhân sinh sống. Do có sự khác biệt về điều kiện sống, môi trường giáo
dục, hoàn cảnh gia đình, trình độ học vấn, kinh nghiệm, v.v mà ý thức pháp
luật của mỗi cá nhân cũng khác nhau, đa dạng và phong phú, đặc biệt là về
trình độ ý thức pháp luật.
Ý thức pháp luật nhóm phản ánh những đặc điểm của từng nhóm xã hội
nhất định. Sự tồn tại của các nhóm xã hội khác nhau được liên kết lại vì
những mục tiêu, lợi ích nhất định, nghề nghiệp và trong những điều kiện sống
có nhiều nét tương đồng. Do vậy, mỗi nhóm xã hội có những quan niệm, tư
duy, thái độ, tình cảm, cách đánh giá tương đối giống nhau đối với các quy
phạm pháp luật hiện hành.
Ý thức pháp luật xã hội phản ánh quan hệ đối với pháp luật của một xã
hội. Là tổng thể những tư tưởng và tâm lý pháp luật phản ánh đời sống pháp
luật. Ý thức pháp luật xã hội xuất phát từ ý thức pháp luật cá nhân nhưng
không phải là tổng số giản đơn các ý thức pháp luật cá nhân, mà là một hệ
thống hoàn chỉnh, hình thành từ sự tác động lẫn nhau giữa ý thức pháp luật cá
nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể. Ý thức pháp luật xã hội luôn vận động
theo xu hướng phát triển của xã hội và chịu sự quy định bởi ý thức pháp luật
của bộ phận giai cấp cầm quyền (giai cấp thống trị). Ý thức pháp luật xã hội
còn được thể hiện trong quan điểm mang tính nguyên tắc là pháp luật phải vì
con người, vì những lợi ích chính đáng của con người.
Ý thức pháp luật cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, xét về cấp
độ, nó bao gồm tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật.
Tâm lý pháp luật được hình thành trong hoạt động thực tiễn của con
người trên bình diện cá nhân và các nhóm xã hội. Tâm lý pháp luật gắn liền
với các hiện tượng tâm lý con người, đó chính là các cảm xúc, tâm trạng, tình
18
cảm, thói quen,tập quán, truyền thống, niềm tin, thái độ đối với pháp luật và
các hiện tượng pháp lý khác.

pháp luật.
Trong xã hội có lợi ích đối kháng, thái độ cố tình vi phạm pháp luật của
quần chúng lao động, cách mạng là để phản đối lại các đạo luật bất công đi
ngược lại lợi ích của nhân dân.
Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, lại có những cá nhân, nhóm xã hội
cố tình vi phạm pháp luật là để làm ăn phi pháp, trục lợi cho cá nhân làm thiệt
hại cho xã hội, đó là điều chúng ta cần lên án.
Vì vậy, thái độ coi thường pháp luật cũng có thể là tích cực hoặc tiêu
cực, điều này phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh lịch sử.
Hệ tư tưởng pháp luật là tổng thể các tư tưởng, học thuyết về pháp luật, phản
ánh đời sống pháp luật một cách sâu sắc và được hình thành một cách tự giác.
Hệ tư tưởng pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội
có giai cấp một cách sâu sắc. Mỗi một chế độ chính trị - xã hội ở mỗi quốc gia
dân tộc, ở mỗi thời đại khác nhau, hệ tư tưởng pháp luật chính thống bao giờ
cũng là hệ tư tưởng thống trị. Nó sẽ là tiến bộ, dân chủ, khoa học, cách mạng
khi giai cấp cầm quyền là lực lượng tiến bộ, có lợi ích kinh tế - xã hội phù
hợp với lợi ích của số đông quần chúng và đại diện cho những lợi ích đó.
Ngược lại, hệ tư tưởng pháp luật sẽ trở nên lạc hậu khi nó đối lập với sự phát
triển của xã hội. Tuy nhiên, điều đó chỉ xảy ra khi giai cấp cầm quyền trở
thành lực lượng bảo thủ, phản động.
Những quan điểm, tư tưởng, học thuyết pháp luật chủ yếu đề cập đến
vai trò, bản chất giai cấp, các thuộc tính, giá trị của pháp luật cũng như mối
quan hệ giữa pháp luật với dân chủ, công bằng, tự do, quyền con người, mối
quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ pháp lý trong tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước, về nhận thức, sáng tạo và thực hiện pháp luật.
20
So với tâm lý pháp luật thì hệ tưởng pháp luật mang tính lý luận khoa
học, tính hệ thống hơn. Tư tưởng pháp luật thể hiện sự nhận thức khoa học về
pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh quan hệ xã hội, nó có tính chiều sâu
hơn tâm lý pháp luật trong nhận thức pháp luật. Nhưng điều đó không có nghĩa

thức, họ là những người nhạy cảm với cái mới, năng động và sáng tạo, là chủ
nhân tương lai của đất nước. Sinh viên là một tầng lớp xã hội luôn được gia
đình, nhà trường và xã hội hết sức quan tâm. Bởi lẽ, ngay từ khi đất nước còn
chiến tranh, sinh viên Việt Nam đã từng gắn bó và có những đóng góp lớn lao
vào sự nghiệp cách mạng và thắng lợi của dân tộc ta. Ngày nay, trong sự phát
triển của đất nước, sinh viên Việt Nam có vai trò hết sức to lớn. Tại Đại hội
sinh viên toàn quốc lần thứ V, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã khẳng định:
Sự nghiệp đổi mới của đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công hay
không thành công, đất nước ta bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong
cộng đồng thế giới hay không, chủ yếu do thế hệ thanh niên hiện nay quyết
định, trong đó sinh viên là một bộ phận có vai trò hết sức quan trọng.
Độ tuổi chủ yếu của họ trong khoảng 18 đến 25, lứa tuổi này ở con người
đã có sự trưởng thành nhất định về mặt sinh học lẫn quan hệ xã hội.
Về mặt sinh học, sinh viên ở giai đoạn thanh niên của đời người, cơ thể
đang dần đi đến hoàn thiện về mọi mặt: cơ bắp, chiều cao, trọng lượng tăng
nhanh, các đặc điểm sinh lý, giới tính phát triển đến độ chín muồi, đặc biệt là
sự phát triển của bộ não. Có thể nói, đây là độ tuổi cơ thể con người đang ở
thời kỳ hài hoà, đẹp đẽ với sinh lực dồi dào nhất.
Về đời sống tâm lý, xã hội, ở sinh viên có sự phong phú, phức tạp, bộc lộ
nhiều mối quan hệ khác nhau, phản ánh tồn tại xã hội nhiều vẻ, đa dạng. Với
tâm lý nhạy cảm, thích cái mới lạ, ưa tìm tòi, khám phá, sáng tạo, sinh viên là
những người giàu ước mơ, hoài bảo, giàu trí tưởng tượng, luôn mong muốn tự
khẳng định mình, không lệ thuộc vào người khác, có nhu cầu cao về học vấn,
22
về tình bạn, tình yêu nam nữ, thích công bằng, ghét bất công, thích giao lưu
và các hoạt động xã hội. Vì vậy, về mặt xã hội, sinh viên đã biết quan tâm đến
tương lai của bản thân và suy nghĩ đến sự phát triển của dân tộc. Ở họ, bước
đầu đã ý thức được trách nhiệm của người công dân cũng như nghĩa vụ của
mình đối với tổ quốc.
Về hoạt động, sinh viên khi nhập học, với tư cách là một cộng đồng xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status