Đề tài : Vai trò và vị thế của Việt Nam trên thế giới , ảnh
hưởng của các cường quốc .
I . Vị trí địa lý , chủ quyền lãnh thổ .
Việt Nam ( tọa độ : Kinh tuyến: 102°8′ - 109°27′ Đông; Vĩ tuyến: 8°27′ -
23°23′ Bắc) nằm ở cực Đông Nam của bán đảo Đông Dương . Diện tích phần
đất liền khoảng 331.698 km2 ( đủ điều kiện về diện tích lãnh thổ để trở thành
cường quốc về chính trị, kinh tế ) . Vùng biển của Việt Nam chiếm diện tích
khoảng 1.000.000 km². Biên giới Việt Nam giáp với vịnh Thái Lan ở phía nam,
vịnh Bắc Bộ và Biển Đông ở phía đông, Trung Quốc ở phía bắc, Lào và
Campuchia phía tây. Việt Nam hình chữ S và khoảng cách từ bắc tới nam là
khoảng 1.650 km, vị trí hẹp nhất theo chiều đông sang tây là 50 km. Với đường
bờ biển dài 3.260 km không kể các đảo. Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với
vùng đất, vùng trời và vùng biển, với 12 hải lý ranh giới lãnh hải, thêm 12 hải
lý tiếp giáp nữa theo thông lệ và vùng an ninh, và 200 hải lý làm vùng đặc
quyền kinh tế.
II . Các vấn đề địa chính trị .
Việt Nam là 1 nước Xã Hội Chủ Nghĩa . với tôn chỉ Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lí , nhân dân làm chủ thông qua cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc Hội .
Kinh tế nước ta theo đường lối kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa .
Trong chính trị kinh tế đóng vai trò nền tảng là yếu tố quyết định nên tài
nguyên địa chính trị đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển của 1 quốc gia .
Trong khi cục diện chính trị khu vực có xu hướng phân tán thì cục diện kinh tế
lại có xu hướng hội tụ. Các thế lực kinh tế thị trường đang hoạt động rất mạnh
tại các nước trong khu vực, tạo ra nhu cầu liên kết và giao thương to lớn giữa
các nước, các địa phương.Trong bối cảnh ấy, lợi thế địa lý của Việt Nam do
nằm kề “trục lộ xương sống” của kinh tế khu vực, đặc biệt khu vực miền Nam
và miền Trung ở vị trí “bản lề” giữa biển và đất liền, ngay tâm hình học của
miền Đông Nam châu Á, nếu được phát huy mạnh mẽ sẽ là nguồn tài nguyên
vô giá giúp Việt Nam thịnh vượng .
1) Tây Nguyên .
Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhận định : “ Tây Nguyên nằm ở Nam Trung
1.000.000 km2 ở trung tâm Biển Đông . Vì vậy Biển Đông gắn bó mật thiết với
lịch sự dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam .
Biển Đông còn là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng
cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là
nguồn tài nguyên sinh vật (thuỷ sản), khoáng sản (dầu khí), du lịch và là khu
vực đang chịu sức ép lớn về bảo vệ môi trường sinh thái biển.
Trong khu vực, có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản đứng hàng đầu thế
giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và Philippin, trong đó
Trung Quốc là nước đánh bắt cá lớn nhất thế giới (khoảng 4,38 triệu tấn/năm),
Thái Lan đứng thứ 10 thế giới (với khoảng 1,5 - 2 triệu tấn/năm), cả khu vực
đánh bắt khoảng 7 - 8% tổng sản lượng đánh bắt cá trên toàn thế giới.
Biển Đông được coi là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới.
Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Bruney -
Saba, Sarawak, Malay, Pattani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, Sông Hồng, cửa
sông Châu Giang. Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước
khai thác và sản xuất dầu khí từ biển như Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia,
Brunei, Indonesia, Thái Lan … trong đó Indonesia là thành viên của OPEC.
Tại vùng biển và thềm lục địa Việt Nam đã xác định nhiều bể trầm tích có triển
vọng dầu khí, trong đó các bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn được đánh
giá có triển vọng dầu khí lớn nhất, điều kiện khai thác tương đối thuận lợi.
Tổng trữ lượng dự báo địa chất về dầu khí của toàn thềm lục địa Việt Nam đạt
xấp xỉ 10 tỷ tấn dầu qui đổi, trữ lượng khai thác khoảng 2 tỷ tấn và trữ lượng
dự báo của khí khoảng 1.000 tỷ mét khối.
Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở
Biển Đông là 7 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Theo đánh
giá của Trung Quốc, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, trong
đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỷ thùng. Với trữ
lượng này và sản lượng khai thác có thể đạt khoảng 18,5 triệu tấn/năm duy trì
được trong vòng 15 - 20 năm tới. Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại
chưa khai thác là khu vực thềm lục địa ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và bờ biển miền
tuy không sống còn đối với Mỹ nhưng có tầm quan trọng chiến lược. Nó án
ngữ con đường ngắn nhất thông từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, cũng
là một “huyết mạch chủ” của kinh tế khu vực, của Trung Quốc, đối thủ chủ yếu
của Mỹ, và Nhật, đồng minh chính của Mỹ, trong khu vực.
Là nước có chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa, đồng thời đóng chốt trên
một số bãi ngầm ngoài khơi thềm lục địa Nam bộ, lại có bờ biển chạy dọc theo
hải trình quốc tế, Việt Nam là nước có lợi thế nhất về mặt địa lý trong việc
khống chế biển Đông.
Ven vịnh Bắc bộ có nhiều trung tâm chính trị-kinh tế- quân sự của đất nước ,
rất gần thủ đô Hà Nội và có mối liên hệ chặt chẽ nhiều mặt có tính chất sống
còn với các tỉnh thành miền Bắc , Bắc Trung Bộ và các khu vực khác của nước
ta .
Các đảo và quần đảo trong Biển Đông có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan
trọng đối với nhiều nước. Nằm ở trung tâm Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường biển nhất trên
thế giới.
Trên các tuyến đường biển đóng vai trò chiến lược của Châu Á có hai điểm
trọng yếu: Thứ nhất là eo biển Malacca (nằm giữa đảo Sumatra của lndonesia
và Malaysia). Vị trí này vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hoá của các nước
Đông Nam Á và Bắc Á phải đi qua. Ba eo biển thuộc chủ quyền của lndonesia
là Sunda, Blombok và Makascha đóng vai trò dự phòng trong tình huống eo
biển Malacca ngừng hoạt động vì lý do gì đó.
Tuy nhiên, nếu phải vận chuyển qua các eo biển này thì hàng hoá giữa Ấn Độ
Dương sang ASEAN và Bắc Á sẽ chịu cước phí cao hơn vì quãng đường dài
hơn. Điểm trọng yếu thứ hai là vùng Biển Đông, nơi có nhiều tuyến đường
hàng hải đi qua, đặc biệt là khu vực xung quanh Hoàng Sa và Trường Sa .
Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là yết hầu cho giao lưu hàng hoá của
nhiều nước Châu Á. Xuất khẩu hàng hoá của Nhật Bản phải đi qua khu vực này
chiếm 42%, các nước Đông Nam Á 55%, các nước công nghiệp mới 26%,
Australia 40% và Trung Quốc 22% (trị giá khoảng 31 tỷ đô la). Nếu khủng
số đảo và cù lao án ngữ, trong đó có điểm cao thuận tiện cho việc xây dựng hệ
thống đèn biển và ra-đa hàng hải, năm 1905 nhiều khu trục hạm của Nga đã
vào Vịnh Cam Ranh để tránh bão
Điều kiện thủy văn, địa chất rất thuận lợi, thủy triều trong vịnh khá đều đặn,
tương đối đúng giờ. Đáy vịnh bằng phẳng, chủ yếu là cát pha bùn khá chắc.
Ngoài cửa vịnh có các đảo và cù lao chắn gió nên vịnh lặng sóng, thuận tiện
cho tàu neo đậu, tàu có trọng tải 100.000 tấn ra vào dễ dàng. Du thuyền trên
vịnh như "đi trên thảm" bởi không có sóng lớn Quanh năm nắng ấm chan
hòa, bầu trời trong xanh . Ngoài ra đây là một Quân cảng cơ động nhất cho các
tàu chiến, máy bay chiến đấu, tàu ngầm và nhiều phương tiện tác chiến khác
cùng hoạt động do Vịnh có ưu điểm là chỉ cách đường hàng hải quốc tế 1 giờ
tàu biển (cảng Hải Phòng cách 18 giờ). Thủy triều trong vịnh khá đều đặn, hằng
ngày hai con nước lên xuống tương đối đúng giờ. Vịnh Cam Ranh có thể hoàn
toàn kiểm soát hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, vì vậy chúng ta cũng có thể
tin tưởng về khả năm dành lại Hoàng Sa Trường Sa bằng quân sự là hoàn toàn
có cơ sở. Thực tế nhờ có quân cảng Cam Ranh mà nước ta vẫn kiểm soát đáng
kể một vùng biển Đông rộng lớn.
Vùng đất nêu trên từ lâu đã được các nhà chính trị, quân sự và kinh tế nhiều
nước trên thế giới quan tâm bởi vị trí chiến lược đặc biệt của nó. Có lẽ bởi thế,
mà Cam Ranh từng bị Chính quyền Sài Gòn “bán” cho Mỹ 99 năm. Rồi một
thời đến lượt lực lượng Hải quân Liên Xô (cũ) bảo vệ…
Vịnh Cam Ranh có đủ 3 yếu tố cơ bản: Chiều rộng, độ sâu và được che chắn
tốt, lại nằm trong vùng rất ít bão.
Vịnh được tạo nên do một nhánh của dãy Hoàng Ngưu, núi Đồng Bò (cao 927
m), chạy từ mũi Cù Huyn theo hướng Bắc - Nam vào đến Mũi Điện dài trên 30
km, với nhấp nhô đồi núi cát trắng, tạo thành bán đảo Cam Ranh.
Một nhánh của dãy núi Chúa từ phía Nam chạy ra theo hướng Nam – Bắc tới
mũi Chà Đà, tạo thành bán đảo Mũi Hời. Giữa hai bán đảo như hai dãy trường
thành thiên nhiên che chắn sóng gió đại dương, lại thêm đảo Bình Ba gồm 2
hòn núi nối liền nhau án ngữ giữa biển, tạo thành 2 cửa vịnh: Cửa Lớn rộng
loại máy bay hiện đại kể cả B-52, 1 sân bay dùng cho trực thăng và hệ thống
đường sá với tổng chiều dài 260km
Tháng 3/1967, chính quyền Thiệu - Kỳ đã ký hiệp định bán đứng vùng bán đảo
và vịnh Cam Ranh cho Mỹ trong 99 năm, bao gồm một vùng rộng lớn với diện
tích 260km2 và Mỹ đã biến Cam Ranh thành căn cứ hải quân lớn nhất Đông
Nam Á. Vịnh Cam Ranh trở thành trung tâm chỉ huy cho các hoạt động tuần tra
trên không của Hải quân Mỹ để giám sát chiến dịch "Market Time", nhằm ngăn
chặn Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Căn cứ Cam Ranh trở thành địa
điểm chính sửa chữa tàu chiến và cung cấp đạn dược, hậu cần cho hải quân,
bao gồm cả cho tàu khu trục và tàu đổ bộ của Hạm đội 7, Mỹ.
Năm 1968, quân số của quân đội Mỹ và các lực lượng chư hầu ở Cam Ranh lên
tới 30.000 quân (20.000 quân Mỹ và 10.000 quân của các nước chư hầu). Ở
khu vực này còn xây dựng hệ thống kho tàng hậu cần hoàn chỉnh, hệ thống
rađa, trận địa pháo và hệ thống tên lửa phòng không. Đặc biệt tại đây, quân đội
Mỹ lần đầu tiên sử dụng cá heo được huấn luyện để bảo vệ cảng Cam Ranh .
Trong quân sự, vấn đề cự ly và thời gian rất quan trọng , có thể ảnh hưởng đến
cục diện của cuộc chiến . Ở Cam Ranh ta có đầy đủ 2 yếu tố đấy để trở thành
nước tiến ra Biển Đông nhanh nhất và có thể tiến hành phong tỏa đường biển
khống chế các nước . Từ Hải Phòng và Cảng Sài Gòn có thể chi viện được cho
Cam Ranh nếu Cam Ranh trở thành tuyến đầu . Đó cũng là yếu tố thuận lợi .
3) Vấn đề An ninh lương thực
Theo nhận định của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), nạn thiếu lương thực
trên thế giới đang đe dọa cuộc sống của hơn 100 triệu người, thế giới cần thêm
50 triệu tấn gạo vào năm 2015 mới đáp ứng được nhu cầu. Do vậy, vấn đề liên
kết, phát triển sản xuất lúa gạo giữa các quốc gia đóng vai trò rất quan trọng.
Việc bảo đảm an ninh lương thực của các nước đã không còn nằm trong khuôn
khổ của từng quốc gia mà trở thành mối quan tâm chung của cộng đồng quốc
tế, hướng tới bảo đảm "lúa cho thế hệ tương lai".
Hiện xuất khẩu gạo của Việt Nam chiếm 1/5 lượng gạo xuất khẩu của thế giới.
thông đỏ mọc ở vùng rừng Việt Nam được chứng minh là có giá trị cao hơn
thông đỏ ở các vùng khác vì chỉ số tích lũy hoạt chất cao hơn . Ở nước ta hàm
lượng hoạt chất tích lũy trong cây thông đỏ tại Việt Nam tương đương với cây
thông đỏ ở Pháp – loại đang được Sanofi Aventis dùng để bào chế Taxotere
gấp 4 lần thông đỏ ở Trung Quốc, gấp 40 lần thông Mỹ và gấp 100 lần thông
đỏ Mexico. Thật có lý khi chúng ta nghĩ đến việc phát triển các trang trại trồng
thông đỏ theo mô hình nông nghiệp để chiết xuất các phân tử hoạt hóa để bào
chế thuốc generic Taxol và Taxotere.
Ngoài ra lá cây còn được sử dụng chữa nhiều bệnh như hen , viêm phế quản ,
cành và vỏ chữa giun hay đau đầu . Tuy nhiên phải qua bào chế nếu không sẽ
bị ngộ độc .
Các nhà khoa học nhận định: quần thể thông đỏ nguyên thủy trên cao nguyên
Lang Bian đang đứng trước nguy cơ diệt vong vì đặc tính tái sinh kém ( 2000-
5000 năm mới sinh trưởng được 1.5 đến 2m và không hề có thế hệ trung
gian ) . Thông đỏ có nguy cơ xâm hại vì nạn lâm tặc nên cần phải có biện pháp
mạnh tay để xử lí .
III . Kết luận
Là người Việt Nam phải hiểu rõ thêm về dân tộc mình , hiểu hơn về Tổ Quốc
mình để mà trau dồi thêm cái lòng yêu nước .
Nước ta có 1 vị trí chiến lược vô cùng đặc biệt và quan trọng trên thế giới và
trong khu vực. Rất trọng yếu trong chiến lược toàn cầu của các cường quốc . Ta
phải nhận thức đúng đắn , kịp thời và xử lí mọi tình huống 1 cách sáng suốt ,
không để bị mắc mưu của các thế lực thù địch , các tổ chức phản động và Chủ
nghĩa Đế Quốc .
Tận dụng thời cơ và nguồn lực sẵn có để xây dựng đất nước đàng hoàng hơn ,
tươi đẹp hơn , bước lên đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc 5 châu ,
xứng đáng với những gì Bác Hồ kính yêu đã gửi gắm .
Kí tên