ĐỀ TÀI " VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA QUỐC HỘI ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ CÔNG " pot - Pdf 15

1

VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA QUỐC HỘI ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ CÔNG

TS. Trần Văn,
Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội

Quy định của pháp luật về vai trò và trách nhiệm của Quốc hội đối với
đầu tư công
Giám sát đầu tư công bao gồm giám sát việc sử dụng các nguồn vốn của nhà
nước đầu tư vào các công trình, dự án kinh tế - xã hội. Hàng năm, đầu tư công
được thực hiện bằng nguồn vốn ngân sách chiếm tỷ lệ khoảng trên 20% tổng vốn
đầu tư toàn xã hội. Vấn đề quan trọng là làm thế nào để tăng cường hoạt động giám
sát nhằm quản lý, chống thất thoát và lãng phí trong đầu tư công. Quy định của
pháp luật về vai trò, trách nhiệm giám sát của Quốc hội trong đầu tư công được thể
hiện trong Hiến pháp và các luật có liên quan đến NSNN và đầu tư công.
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), khoản 4 Điều 84 quy định “Quốc hội quyết
định ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương”.
Luật tổ chức Quốc hội (2001), Điều 1 của Luật tổ chức Quốc hội quy định
“Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có
quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội
và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những
nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội
và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ
hoạt động của Nhà nước”. Điều 2 của Luật quy định Quốc hội “quyết định kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc
gia; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê
chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế”.
Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội (2003) quy định chức năng giám sát
của Quốc hội. Theo đó, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ

theo các lĩnh vực chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ và viện trợ, chi
bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách; quyết định các dự án, các công
trình quan trọng quốc gia được đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước; giám sát việc
thực hiện ngân sách nhà nước, chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, nghị quyết của
Quốc hội về ngân sách nhà nước, các dự án và công trình quan trọng quốc gia, các
chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các dự án và công trình xây dựng cơ bản
quan trọng khác… Bên cạnh đó, việc giám sát của Quốc hội còn được thực hiện
dựa trên quy định của một số luật chuyên ngành như Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu,
Luật Xây dựng…
Tóm lại, theo các quy định hiện hành thì cơ sở pháp lý về vai trò, trách
nhiệm giám sát đầu tư công của Quốc hội rất rõ ràng. Căn cứ các quy định của
pháp luật như đã trình bày ở trên, Quốc hội có toàn quyền thực hiện giám sát đầu
tư công.
Quốc hội thể hiện vai trò và trách nhiệm giám sát đầu tư công
Tại các diễn đàn của Quốc hội, vấn đề hiệu quả đầu tư công nói riêng và kết
quả chi ngân sách nói chung, các vi phạm quy định của pháp luật trong đầu tư công
đang đặt ra yêu cầu tăng cường vai trò và trách nhiệm của Quốc hội trong việc giám
sát đầu tư công. Từ những quy định khung như đã trình bày ở trên, khi thực hiện
giám sát đầu tư công, Quốc hội cần chú ý tới toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư, từ
việc lập và giao kế hoạch đầu tư công, phê duyệt chương trình, dự án đầu tư công
và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án đó. Trong thực tế, thông qua các cơ
quan chuyên môn của mình, Quốc hội mới chỉ thực hiện giám sát đầu tư công ở
cấp độ vĩ mô, chưa vào sâu được tới được các công trình, dự án cụ thể. Ngay cả
các công trình quan trọng quốc gia thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội,
việc giám sát định kỳ hàng năm cũng chỉ tập trung vào một số mục tiêu nhất định.
Ví dụ, từ khía cạnh giám sát chấp hành chi NSNN, Quốc hội có thể thấy rõ
tình trạng bố trí vốn đầu tư cho nhiều dự án chưa đúng với quy hoạch, kế hoạch
3

được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chưa đủ thủ tục, chưa căn cứ vào nguồn lực và

định của pháp luật chưa đồng nhất cần được khắc phục.Việc xử lý các sai phạm
trong quá trình tổng hợp quyết toán và xử lý kết quả kiểm toán các dự án, công
trình đầu tư công cũng như biện pháp chế tài cụ thể đối với các tổ chức, cá nhân,
cơ quan đơn vị không thực hiện nghiêm các kiến nghị của Kiểm toán nhà nước
cũng như chưa có quy định cụ thể cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với
tình hình thực tiễn. Tất cả đang đặt ra nhiều vấn đề cần xem xét, sửa đổi, bổ sung,
hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý đầu tư công một cách căn bản,
toàn diện và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới, trọng tâm là Luật đầu tư công.
Bên cạnh đó, công tác giám sát đầu tư công cũng như chấp hành dự toán
NSNN ở các bộ, ngành trung ương và địa phương, được Quốc hội giao cho Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, các Đoàn đại
4

biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội, nhưng việc tiến hành giám sát còn chưa
được thường xuyên, chưa đồng đều giữa các vùng lãnh thổ; phạm vi giám sát rộng
và lồng ghép với nhiều mục tiêu, nên chưa có điều kiện đi sâu vào giám sát đầu tư
công ở từng dự án, công trình cụ thể; chất lượng giám sát chưa cao.
Khi Quốc hội tiến hành giám sát tổng thể về đầu tư công cần lưu ý đến việc
tập trung nguồn vốn đầu tư nhà nước vào các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế
tạo, công nghiệp phụ trợ có sử dụng nhiều lao động, tăng vốn đầu tư của nhà nước
cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, ưu tiên vốn đầu tư cho những công trình sẽ
mang lại hiệu quả kinh tế xã hội lớn, công trình sắp hoàn thành Làm sao vừa tăng
chi đầu tư công vừa đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế, vừa thực hiện tái cơ cấu lại
nền kinh tế, đảm bảo cho kinh tế phát triển bền vững.
Ví dụ, từ thực tiễn giám sát việc triển khai, phân bổ vốn trái phiếu chính
phủ, Quốc hội đã chỉ ra những yếu kém làm giảm hiệu quả đầu tư công như:
chất lượng công tác quy hoạch còn thấp làm hạn chế hiệu quả sử dụng vốn; chất
lượng một số chương trình, dự án còn thấp, thiếu tầm nhìn dài hạn trong quyết định
đầu tư; việc điều hành, phân bổ và sử dụng nguồn vốn còn nhiều bất cập chậm
được khắc phục đã phần nào làm giảm hiệu quả nguồn vốn vay; thời gian thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status