đề tài vai trò và cơ sở của đoàn kết xã hội ở việt nam hiện nay - Pdf 12

Tiểu luận
Đề tài: " VAI TRÒ VÀ CƠ SỞ CỦA
ĐOÀN KẾT XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY "
VAI TRÒ VÀ CƠ SỞ CỦA ĐOÀN KẾT XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẠM VĂN ĐỨC (*)
Trong bài viết này, tác giả đã trình bày một cách khái quát những tư
tưởng, quan điểm cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng
sản Việt Nam về đoàn kết xã hội; đồng thời, phân tích và luận giải từ
góc độ triết học vai trò động lực và cơ sở của đoàn kết xã hội ở Việt
Nam hiện nay. Theo tác giả, sự đồng thuận và đoàn kết xã hội là kết
quả của việc giải quyết các mâu thuẫn xã hội. Chính sự kết hợp hài
hoà các lợi ích xã hội, lợi ích cộng đồng và lợi ích cá nhân là cơ sở
quan trọng tạo nên sự đồng thuận và đoàn kết xã hội. Đó cũng là cơ
sở cho sự phát triển bền vững của đất nước trong bối cảnh toàn cầu
hoá và hội nhập quốc tế hiện nay.

Đàn kết xã hội là một truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam.
Truyền thống đó đã được hun đúc và tôi luyện qua hàng ngàn năm
dựng nước và giữ nước, được thử thách qua cuộc đấu tranh với thiên
nhiên và các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc. Nhờ có
truyền thống đó, mỗi khi có giặc, mọi người như một đứng dậy với
quyết tâm sắt đá “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Do được hun đúc và thử

Kế thừa những tư tưởng của ông cha về vai trò của đại đoàn kết dân
tộc, cùng với sự từng trải trong những năm tháng bôn ba tìm đường
cứu nước, Hồ Chí Minh đã nêu ra nhiều tư tưởng về đoàn kết và đại
đoàn kết dân tộc.
Thực tiễn những năm kháng chiến đầy gian khổ cho thấy, nhờ có
tinh thần đoàn kết mà cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này
đến thắng lợi khác, mặc dù lực lượng cách mạng yếu hơn lực lượng
của quân địch rất nhiều. Hồ Chí Minh đã nhận thấy vai trò quan
trọng của đoàn kết trong kháng chiến cũng như trong hòa bình xây
dựng. Người viết: “… trong kháng chiến ta gặp rất nhiều khó khăn,
lực lượng địch mạnh hơn ta nhiều, nhưng nhờ đoàn kết mà ta đã
thắng. Nay trong xây dựng hòa bình, ta cũng biết đoàn kết thì nhất
định thành công”(1). Từ đó, Người đã khái quát thành khẩu hiệu nổi
tiếng làm phương châm hành động cho dân tộc Việt Nam: “Đoàn
kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công”(2).
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “đoàn kết là một chính sách dân tộc,
không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho
thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng
nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và
phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”(3). Người còn nhấn mạnh
rằng, “đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ, đồng thời phải củng cố: Nền có
vững nhà mới chắc chắn, gốc có tốt thì cây mới tốt tươi. Trong chính
sách đoàn kết cần phải chống hai khuynh hướng sai lầm: cô độc hẹp
hòi và đoàn kết vô nguyên tắc…”(4). Trong tư tưởng của Người,
nguyên tắc quan trọng nhất, bất di bất dịch khi thực hiện đại đoàn
kết là nguyên tắc bảo vệ lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi cơ
bản của nhân dân Việt Nam.
Trong quan điểm đoàn kết Hồ Chí Minh, đoàn kết của nhân dân
đóng vai trò hết sức quan trọng. Với ý tưởng “dễ trăm lần không dân

chính sách và pháp luật của Nhà nước”(10).
Tương tự như vậy, trong tư tưởng đoàn kết, Hồ Chí Minh đặc biệt
chú trọng đến đoàn kết các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt
Nam. Người thường xuyên căn dặn rằng, phải chăm lo đoàn kết các
dân tộc không phân biệt lớn nhỏ, các dân tộc phải thương yêu giúp
đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để cùng
nhau xây dựng Tổ quốc chung, làm cho các dân tộc đều được ấm no
hạnh phúc. Các dân tộc miền núi đoàn kết chặt chẽ với nhau; các dân
tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số, dân tộc nào đông hơn, nhiều
người hơn, tiến bộ hơn thì phải giúp đỡ các dân tộc khác để đều tiến
bộ như nhau, đoàn kết như anh em một nhà(11). Người viết: “Đồng
bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Êđê, Xê Đăng hay
Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều
là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng
nhau, no đói giúp nhau”(12).
Người còn khẳng định thêm rằng, “đối với những đồng bào lạc lối lầm
đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành
đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”(13). Chúng
ta có thể dẫn ra đây rất nhiều tư tưởng khác về đoàn kết và đại đoàn kết
dân tộc của Hồ Chí Minh mà cho đến nay vẫn còn mang đậm ý nghĩa
sâu sắc. Cho đến khi sắp qua đời, Người vẫn lo lắng và căn dặn lại thế
hệ sau phải giữ gìn đoàn kết mà trước hết là đoàn kết trong Đảng như
giữ gìn con ngươi của mắt mình. Người viết: “Đoàn kết là truyền thống
cực kỳ quý báu của Đảng và dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến
các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn
con ngươi của mắt mình”.
Kế thừa những tư tưởng đoàn kết và đại đoàn kết của Hồ Chí Minh,
kể từ Đại hội VI đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ngày càng
quan tâm chú ý đến việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
Ngay từ Đại hội VI, đại hội khởi đầu công cuộc đổi mới toàn diện

Đảng khoá IX với tiêu đề: “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân”. Những tư tưởng cơ bản
về đại đoàn kết dân tộc trong Văn kiện Đại hội X có thể được trình
bày một cách vắn tắt trên một số điểm sau:
Thứ nhất, đại đoàn kết dân tộc dựa trên nền tảng liên minh giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo
của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, đại đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu
và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, lấy mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc làm điểm
tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các tầng
lớp nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Thứ tư, xoá bỏ mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá
khứ, thành phần giai cấp, tôn trọng những ý kiến khác nhau không
trái với lợi ích của dân tộc, đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan
dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định
chính trị và đồng thuận xã hội(16).
Cũng trong Văn kiện này, Đảng ta còn khẳng định đại đoàn kết là sự
nghiệp của toàn dân tộc, cho nên Đảng, Nhà nước và các đoàn thể
nhân dân cần có những giải pháp cụ thể đối với từng giai cấp, tầng
lớp và từng cộng đồng người Việt Nam để xây dựng khối đoàn kết
đó. Chẳng hạn, khi nói về đoàn kết với đồng bào các tôn giáo, Đảng
ta đã khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm
bảo quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công
dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Đoàn kết
đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và
đồng bào không theo tôn giáo”(17); “phát huy những giá trị tốt đẹp
về văn hoá, đạo đức của tôn giáo”(18).

Trên thực tế, có những cái là động lực hoạt động của con người
nhưng chưa chắc đã là động lực của sự phát triển xã hội. Chẳng hạn,
lợi ích cá nhân của con người luôn là động lực thúc đẩy cá nhân đó
hoạt động, hay nói cách khác, luôn là động lực hoạt động của cá
nhân con người, nhưng chưa chắc đã là động lực của sự phát triển xã
hội. Có loại lợi ích cá nhân thúc đẩy hoạt động của cá nhân con
người hành động, nhưng hành động đó không những không thúc đẩy
xã hội phát triển mà trái lại, còn kìm hãm hoặc cản trở sự phát triển
xã hội. Lợi ích thu được do hành vi buôn lậu hoặc buôn bán ma túy
luôn là động lực thúc đẩy cá nhân những người buôn lậu hành động,
nhưng hành động đó lại làm tổn hại cho sự phát triển xã hội. Do đó,
động lực hoạt động của cá nhân cũng có thể trùng và cũng có thể
không trùng với động lực của sự phát triển xã hội. Động lực hoạt
động của cá nhân con người chỉ có thể trở thành động lực của sự
phát triển xã hội khi nó thúc đẩy sự phát triển xã hội. Sự phân biệt
giữa động lực hoạt động của cá nhân con người với động lực của sự
phát triển xã hội là hết sức cần thiết để nghiên cứu và sử dụng các
động lực của sự phát triển xã hội.
Chúng ta hãy trở lại vấn đề mâu thuẫn hay giải quyết mâu thuẫn mới
là động lực của sự phát triển. Vấn đề này đã được đặt ra từ lâu trong
giới những người nghiên cứu, giảng dạy triết học Mác và hiện đang
còn có ý kiến khác nhau. Một số người cho rằng, mâu thuẫn là khách
quan và là một quá trình tự giải quyết; do đó, nó vừa là nguồn gốc,
vừa là động lực của sự phát triển. Trái lại, một số người khác lại cho
rằng, mâu thuẫn chỉ là nguồn gốc của sự vận động, còn giải quyết
mâu thuẫn mới là động lực của sự phát triển.
Trên thực tế, mâu thuẫn hay giải quyết mâu thuẫn đóng vai trò động
lực của sự phát triển xã hội đang là vấn đề được tiếp tục tranh luận
và chưa có lời giải cuối cùng; đồng thời, chưa bên nào có thể đưa ra
lý lẽ đủ sức thuyết phục bên kia. Chúng tôi nghiêng về quan điểm

những mâu thuẫn đó. Giải quyết kịp thời những mâu thuẫn là cơ sở
cho sự đồng thuận và đoàn kết xã hội. Do đó, có thể nói, đồng thuận
và đoàn kết xã hội là kết quả của việc giải quyết những mâu thuẫn
xã hội.
XEM TIẾP >>>
VAI TRÒ VÀ CƠ SỞ CỦA ĐOÀN KẾT XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY (tiếp theo)
PHẠM VĂN ĐỨC (*)

3. Cơ sở của đoàn kết xã hội
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, khác với trong tự nhiên chỉ bao gồm
những lực lượng mù quáng và vô ý thức, trong xã hội nhân tố hoạt động là
những con người có ý thức và mọi hoạt động đều diễn ra một cách tự giác.
Đúng như Ph.Ăngghen đã nhận xét: “… lịch sử phát triển của xã hội, về
căn bản, khác với lịch sử phát triển của tự nhiên ở một điểm. Trong tự
nhiên… chỉ có những nhân tố vô ý thức và mù quáng tác động lẫn nhau, và
chính trong sự tác động lẫn nhau ấy mà quy luật chung biểu hiện ra. Trong
tất cả những điều xảy ra… không có gì xảy ra với tư cách là mục đích tự
giác, mong muốn. Trái lại, trong lịch sử của xã hội, nhân tố hoạt động hoàn
toàn chỉ là những con người có ý thức, hành động có suy nghĩ hay có nhiệt
tình và theo đuổi những mục đích nhất định thì không có gì xảy ra mà lại
không có ý định tự giác, không có mục đích mong muốn”(20).
Mỗi mục đích lại do những điều kiện sinh sống đặc biệt của cá nhân con
người tạo ra. Những mục đích ấy của con người có khi trùng nhau, nhưng
thường thì không ăn khớp với nhau, có khi còn chống đối nhau và do đó,
các hành động của họ nhằm mục đích ấy cũng diễn ra theo hướng như vậy.
Hợp lực của những hành động có khi trùng nhau, nhưng thường thì không

xã hội cũng như trong mỗi con người không chỉ có một, mà còn có vô số
các lợi ích khác nhau. Sự đa dạng của các lợi ích do sự đa dạng và phong
phú của nhu cầu quyết định. Các lợi ích trong xã hội có khi trùng nhau,
nhưng thường thì không trùng nhau, thậm chí còn mâu thuẫn nhau; do đó,
hoạt động của những con người, tập đoàn người khác nhau theo đuổi các
lợi ích ấy sẽ diễn ra theo nhiều xu hướng khác nhau. Kết quả là sự vận
động và phát triển của lịch sử, đúng như Ph.Ăngghen khẳng định, là cái mà
không ai muốn cả, cái khách quan. Xu hướng phát triển của lịch sử được
biểu diễn bằng đường chéo của hình bình hành lực. Nhưng hình chéo của
hình bình hành càng dài khi hành động của con người càng tập trung vào
một hướng; trái lại, đường chéo của hình bình hành lực càng ngắn khi các
hoạt động của con người được tỏa ra các hướng khác nhau.
Vấn đề là làm thế nào để có ý chí hành động và hành động của con người
quy tụ về một hướng? Hay nói cách khác, làm thế nào để có thể thống nhất
ý chí và hành động của con người?
Nếu coi lợi ích là động lực thúc đẩy con người hành động thì việc giải bài
toán làm thế nào để quy tụ hoạt động của con người về cùng một hướng
nằm ở việc xử lý mối quan hệ giữa các lợi ích.
Lợi ích, như chúng ta đã biết, có nhiều loại khác nhau. Tùy theo các tiêu
chí khác nhau, người ta có thể phân chia lợi ích thành các loại khác nhau.
Chẳng hạn, căn cứ vào chủ thể các loại lợi ích, người ta có thể phân lợi ích
thành: lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm (tập thể) và lợi ích xã hội hay lợi ích cá
nhân, lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc. Nhưng ngay trong lợi ích cá nhân,
người ta cũng có thể phân chia thành lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợi ích
văn hóa, v.v
Trong số những lợi ích đó thì khó có thể nói lợi ích nào quan trọng hơn lợi
ích nào; chỉ có thể khẳng định rằng, tùy từng thời điểm lịch sử cụ thể mà
lợi ích này hay lợi ích kia trở nên cấp bách. Chẳng hạn, trong cuộc đấu
tranh bảo vệ chủ quyền dân tộc thì không phải lợi ích cá nhân hay lợi ích
giai cấp, mà chính lợi ích dân tộc mới là cấp bách và là động lực thúc đẩy

các cộng đồng hoặc cá nhân có lợi ích không phù hợp hoặc trái ngược với
lợi ích của xã hội sẽ không phát huy được tính tích cực.
Vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là, làm thế nào để vừa đảm bảo sự phát triển
của xã hội theo định hướng nhất định, vừa phát huy được tính tích cực của
mọi cá nhân và cộng đồng trong xã hội? Nếu xuất phát từ quan điểm cho
rằng mâu thuẫn xã hội, về thực chất, là những mâu thuẫn giữa các lợi ích
và giải quyết mâu thuẫn mới chính là động lực của sự phát triển thì việc kết
hợp hài hòa giữa các lợi ích chính là cơ sở để kích thích lợi ích cá nhân
một cách hợp lý theo hướng vẫn đảm bảo sự phát triển xã hội. Khi lợi ích
cá nhân được kết hợp hài hòa với lợi ích cộng đồng và lợi ích của xã hội thì
bản thân lợi ích cá nhân vẫn trở thành động lực của hoạt động con người,
nhưng hoạt động đó cũng có tác dụng tốt và có lợi cho việc thực hiện lợi
ích của cộng đồng và lợi ích của xã hội. Lợi ích xã hội phải trở thành mẫu
số chung của lợi ích các cộng đồng, còn lợi ích cộng đồng phải trở thành
mẫu số chung cho các lợi ích cá nhân của cộng đồng đó. Kết quả là, bản
thân cá nhân người lao động cũng có lợi, cộng đồng có lợi và xã hội cũng
có lợi. Thành thử, nguyên tắc kết hợp một cách hài hòa giữa các loại lợi
ích biến thành nguyên tắc các bên cùng có lợi. Nguyên tắc các bên cùng có
lợi dựa trên cơ sở thống nhất về lợi ích tạo nên sự quan tâm chung. Đó
chính là cơ sở của sự đồng thuận và đoàn kết xã hội.
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam trong suốt 20 năm qua mang ý nghĩa lịch
sử và đã thu được thành tựu hết sức to lớn trong các lĩnh vực khác nhau, từ
kinh tế đến chính trị, xã hội, văn hóa, đối ngoại, v.v Một trong những
thành tựu quan trọng đó chính là đã tạo ra được sự đồng thuận xã hội, tạo
dựng được khối đại đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết thực sự trở thành động
lực chủ yếu cho sự phát triển của đất nước. Cơ sở của sự đồng thuận xã hội
và đoàn kết xã hội đó chính là sự kết hợp hài hòa giữa các lợi ích khác
nhau.
Ngay trong lĩnh vực đối ngoại, chúng ta đã chủ trương làm bạn với tất cả
các nước và dân tộc trên thế giới trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ

(2) Hồ Chí Minh. Sđd , t.10, tr. 607.
(3) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 7, tr. 438.
(4) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 7, tr. 438.
(5) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 8, tr. 276.
(6) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 10, tr. 605 - 606.
(7) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr. 490.
(8) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 10, tr. 606.
(9) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 11, tr. 575.
(10) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 10, tr. 606.
(11) Xem: Hồ Chí Minh. Sđd., t. 10, tr. 282, 418, 460 - 461.
(12) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr. 217.
(13) Hồ Chí Minh. Sđd., t. 4, tr. 246- 247.
(14) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 123.
(15) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr. 123 - 124.
(16) Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 116.
(17) Đảng Cộng sản Việt Nam. Sđd., tr. 42.
(18) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX. Sđd., tr.128.
(19) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t. 20. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1994, tr. 173 – 174.
(20) C.Mác, Ph.Ăngghen. Tuyển tập gồm 6 tập, t. VI. Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1984, tr. 405 - 406.
(21) C.Mác, Ph.Ăngghen. Sđd., t. VI, tr. 406 - 407.
(22) C.Mác, Ph.Ăngghen. Sđd. t. I., tr. 788.
(23) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập. t.2. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1995, tr. 141.
(24) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập. t. 23. Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1993, tr. 1056.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status