LUẬN VĂN:
Vai trò và nhiệm vụ của kiểm toán
nhà nước ở Việt Nam
Lời mở đầu
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường và từng bước tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, nền kinh tế thị
trường thường nảy sinh những tiêu cực, lạm dụng chức vụ để mưu cầu và thu lợi cá
nhân, tệ tham nhũng đã trở thành “ quốc nạn ” gây những tổn thất to lớn về tài sản,
I. Cơ sở lý luận.
1. Bản chất và sự cần thiết của kiểm toán nhà nước.
Kiểm toán nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn của Nhà nước thực hiện
các chức năng kiểm toán tài sản công do các kiểm toán viên là công chức của Nhà
nước tiến hành.
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của kiểm toán nhà nước hết sức quan
trọng trong việc kiểm soát việc sử dụng nguồn lực tài chính công, giúp Quốc hội điều
hành, quản lý nền kinh tế có hiệu quả, bởi vì:
Thứ nhất, kiểm toán nhà nước là một trong những nhân tố góp phần đảm bảo,
duy trì tính kinh tế, tính hiệu quả trong hoạt động kinh tế. Thông qua hoạt động của
mình, kiểm toán nhà nước chỉ rõ việc sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước trong từng
ngành, từng lĩnh vực, từng doanh nghiệp và các yếu tố cản trở tính hiệu quả các hoạt
động trong nền kinh tế. Mặt khác, kiểm toán nhà nước còn cung cấp cơ sở dữ liệu
quan trọng tin cậy để thực hiện việc phân bổ và điều hành ngân sách Nhà nước một
cách có hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tiễn của từng ngành, từng lĩnh vực, từng
khu vực, loại trừ những khoản chi phí bất hợp lý, lãng phí gây thất thoát cho ngân
sách Nhà nước.
Thứ hai, kiểm toán nhà nước thực hiện việc kiểm tra tính hợp pháp, tính hợp
lệ trong các hoạt động kinh tế – tài chính, làm lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế –
tài chính trong nền kinh tế. Căn cứ vào các văn bản pháp luật mà Quốc hội và các cơ
quan nhà nước có thẩm quỳên ban hành, kiểm toán xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp
của các tàị liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết toán hàng năm. Mọi sai phạm về các
qui định về quản lý kinh tế – tài chính được xác lập và duy trì.
Thứ ba, cơ quan kiểm toán đề xuất những giải pháp nhằm thực hiện cơ chế
chính sách tài chính, lập và giao kế hoạch ngân sách Nhà nước, kiểm tra việc thực
hiện kế hoạch ngân sách Nhà nước, đồng thời xử lý vi phạm trong thu- chi, điều hành
và quyết toán ngân sách Nhà nước, các vi phạm về hạch toán tài sản, vốn, lãi, và
Ngoài loại hình kiểm toán nêu trên còn có loại hình kiểm toán tập trung vào hoạt
động, hiệu quả và hiệu năng của hành chính công. Loại hình kiểm toán này không chỉ
kiểm toán các khía cạnh cụ thể của công tác quản lý mà cả các hoạt động quản lý bao
trùm, gồm cả khâu tổ chức và hệ thống hành chính.
3. Cơ quan kiểm toán Việt Nam.
3.1 Sự hình thành cơ quan Kiểm toán Nhà nước Việt Nam.
Trước tình hình mới, để góp phần quản lý tốt nền kinh tế quốc dân, cơ quan Kiểm
toán Việt Nam ra đời theo nghị định ngày 11/7/1994 của Thủ tướng Chính phủ. Kiểm
toán nhà nước thành lập để giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra,
xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán
của các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế Nhà nước và các
đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước
cấp.
3.2 Vai trò và nhiệm vụ chủ yếu của kiểm toán Nhà nước Việt Nam.
+ Xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm toán hàng năm trình Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch đó. Định kỳ báo cáo
thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm toán lên Thủ tướng Chính phủ.
+ Cung cấp kết quả kiểm toán cho Chính phủ và cho cơ quan nhà nước khác
theo qui định của Chính phủ.
+ Xác nhận, đánh giá và nhận xét các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo quyết
toán đã được kiểm toán và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những nội dung đã
đánh giá, nhận xét, xác nhận.
+ Thông qua hoạt động kiểm toán góp ý kiến với đơn vị được kiểm sửa chữa
những sai sót, vi phạm để chấn chỉnh những công tác quản lý tài chính, kế toán của
đơn vị; kiến nghị với cấp có thẩm quyền sử lý những vi phạm chế độ kế toán, tài
chính của Nhà nước; đề xuất với Thủ tướng Chính phủ việc sửa đổi, cải tiến cơ chế
quản lý tài chính, kế toán cần thiết.
Quốc hội không chỉ cho phép đánh giá tình hình tài chính, ngân sách đúng mà còn
cung cấp những thông tin làm căn cứ cho việc hoạch định chính sách, các giải pháp
quản lý ngân sách, khắc phục những yếu kém trong quản lý thu – chi ngân sách Nhà
nước và nâng ớc.
1.2 Vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội tăng cường
năng lực giám sát ngân sách Nhà nước.
Như chúng ta đã biết, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thực
hiện chức năng lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Trong lĩnh vực ngân sách Nhà nước, Quốc hội thực hiện quyền quyết định dự
toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sách Trung ương và phê chuẩn tổng quyết
toán ngân sách Nhà nước. Đồng thời, Quốc hội thực hiện giám sát việc chấp hành dự
toán ngân sách Nhà nước, thực thi các chế độ tiêu chuẩn định mức chi ngân sách và
các chính sách tài chính vĩ mô phục vụ phát triển kinh tế – xã hội đất nước.
Để thực hiện đúng chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của mình, bên cạnh việc
đổi mới cơ cấu tổ chức, tăng cường năng lực đại biểu Quốc hội, cần phải có các công
cụ hỗ trợ hoạt động lập pháp cũng như giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng
của đất nước. Một trong những công cụ hữu hiệu để Quốc hội thực hiện nhiệm vụ
của mình là kiểm toán nhà nước.
Kiểm toán nhà nước, với tư cách là cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập
sẽ có vai trò to lớn giúp Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội trên một số nội dung
cơ bản sau:
Thứ nhất, kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán và cung cấp thông tin cho
Quốc hội, Hội đồng Nhân dân để xem xét, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà
nước. Đây là công việc kiểm toán sau (hậu kiểm) – một chức năng mang tính truyền
thống của cơ quan kiểm toán nhà nước. Tất cả các cơ quan kiểm toán nhà nước trên
thế giới đều thực hiện chức năng này và đây là nhiệm vụ không thể thiếu trong việc
trợ giúp Quốc hội, Hội đồng Nhân dân phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước
dự toán. Cơ quan kiểm toán nhà nước có thể chỉ ra những sai lệch của dự toán ngân
sách Nhà nước so với các nguyên tắc của tính tuân thủ, tính hợp lý, khả thi và tiết
kiệm. Đây là hình thức tiền kiểm của kiểm toán nhà nước, đảm bảo các nguồn lực
được động viên và phân bổ vào những mục tiêu mà quốc gia theo đuổi cũng như tính
kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của các khoản chi ngân sách Nhà nước; tránh được những
sai phạm ngay từ khi lập và phân bổ dự toán Hình thức kiểm toán trước của kiểm
toán nhà nước cũng đã được khẳng định trong tuyên bố Lima: “Kiểm toán trước một
cách có hiệu quả là điều không thể thiếu được đối với một nền kinh tế công cộng lành
mạnh với tư cách là một nền kinh tế thác quản – phân cấp và uỷ quyền”. Kinh
nghiệm cho thấy, nhiều nước trên thế giới đều sử dụng cơ quan kiểm toán nhà nước
trong việc kiểm toán dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm trước khi trình Quốc hội
quyết định. Việc tham gia của cơ quan kiểm toán nhà nước trong việc lập dự toán ở
mỗi nước có hình thức và mức độ khác nhau nhưng nhìn chung đều là đưa ra ý kiến
phản biện về dự toán ngân sách Nhà nước do Chính phủ trình làm cơ sở cho Quốc
hội thảo luận và quyết định.
Thứ ba, Kiểm toán Nhà nước trợ giúp Chính phủ, Quốc hội trong việc xem xét
quyết định các phương án đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm của quốc gia.
Việc đầu tư xây dựng các chương trình trọng điểm quốc gia không chỉ tiêu tốn một
lượng lớn tiền mà còn liên quan đến chiến lược phát triển quốc gia. Điều đó đòi hỏi
không chỉ được xem xét về mặt kĩ thuật mà còn phải xem xét các khía cạnh về kinh
tế, xã hội Trong điều kiện đó nếu không có một cơ quan độc lập với cơ quan soạn
thảo, có đủ năng lực về chuyên môn, tuân theo các chuẩn mực nghề nghiệp xem xét,
đánh giá trước khi Chính phủ, Quốc hội, Hội đồng Nhân dân thảo luận và quyết định
có thể sẽ gây ra những rủi ro cho các quyết định đầu tư. Kinh nghiệm của nhiều
nước, nhất là những nước có lịch sử phát triển kiểm toán nhà nước lâu đời đều giao
cho cơ quan kiểm toán nhà nước thực hiện nhiệm vụ này.
Thứ tư, kiểm toán nhà nước tham gia với Quốc hội trong việc quyết định
phủ, đây là điều kiện quan trọng để hoàn thiện và phát triển hoạt động kiểm toán nhà
nước ở Việt Nam nhằm quản lý ngân sách Nhà nước một cách hiệu quả, tiết kiệm
hơn.
2. Vai trò của kiểm toán nhà nước đối với việc kiểm tra, kiểm soát hệ thống
hành chính Nhà nước.
2.1 Vai trò của việc kiểm tra, kiểm soát hệ thống hành chính Nhà nước.
Nền hành chính nói chung và bộ máy hành chính nói riêng là bộ phận trọng
yếu trong hệ thống chính trị; trong cơ cấu quyền lực Nhà nước của nhân dân, quyền
lực Nhà nước thống nhất không phân chia, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Kiểm tra,
kiểm soát đối với hành chính Nhà nước do nhiều cơ quan, tổ chức tham gia, với mục
đích, nội dung, phương thức khác nhau: Kiểm tra, kiểm soát đối với hành chính Nhà
nước là một nội dung, một khâu có tầm quan trọng hàng đầu trong lãnh đạo của
Đảng, quản lý của Nhà nước; đặc biệt trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân
dân xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban
chấp hành TW Đảng khoá VIII đã chỉ rõ: “Tăng cường tổ chức và hoạt động thanh
tra, kiểm tra, coi đó là công cụ quan trọng và hữu hiệu để đảm bảo hiệu lực quản lý
Nhà nước, thiết lập kỷ cương xã hội”. Đó cũng là một nội dung của nhiệm vụ tiếp tục
cải cách nền hành chính Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Kiểm tra của Đảng đối với hành chính Nhà nước thực hiện thông qua một hệ
thống cơ quan và tổ chức Đảng từ TW đến cơ sở, trong đó có cả tổ chức Đảng trong
bộ máy hành chính Nhà nước. Mỗi cơ quan và tổ chức thực hiện chức năng kiểm tra
với phạm vi và phương thức khác nhau, nhưng về cơ bản có nội dung thống nhất.
Kiểm tra của Đảng đối với hành chính Nhà nước là kiểm tra việc thực hiện Nghị
quyết của Đảng, từ việc thể chế hoá Nghị quyết đến việc tổ chức thực hiện; Kiểm tra
việc thực hiện nghị quyết của tổ chức Đảng, đảng viên trong cơ quan hành chính;
kiểm tra công tác cán bộ của Đảng trong các cơ quan hành chính; năng lực, phẩm
chất của Đảng viên căn cứ làm cơ sở để đánh giá trong kiểm tra của Đảng chủ yếu
là các Nghị quyết và văn bản của Đảng.
góp phần tham gia xây dựng và quản lý Nhà nước. Trên thực tế, cơ chế kiểm tra, giám
sát chưa được qui định cụ thể, rõ ràng để có khả năng thực hiện có hiệu quả và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân. Những qui định về thẩm quyền và trình tự giải
quyết kiến nghị, yêu cầu, khiếu nại, tố cáo của nhân dân còn nhiều điều bất hợp lý làm
cho nhiều vụ việc giải quyết kéo dài, lòng vòng. Mặt khác, bộ máy hành chính quá
cồng kềnh, nhiều tầng, nhiều nấc quá xa dân, chưa tạo thuận lợi để phát huy quyền
làm chủ của nhân dân. Thậm chí, có lúc thông tin về đời sống thực tế của nhân dân,
về những ý kiến của nhân dân bị cơ quan Nhà nước cấp dưới bưng bít hoặc sửa đổi
Trong hệ thống hành chính Nhà nước, thành viên của các tổ chức xã hội (như
công đoàn, đoàn thanh niên, phụ nữ) vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quản lý
hành chính Nhà nước. Nhu cầu, lợi ích của những thành viên đó gắn liền với hoạt
động của các cơ quan hành chính Nhà nước, mà hoạt động của các cơ quan hành
chính lại tuân theo chế độ thủ trưởng, thứ bậc, mệnh lệnh đơn phương. Do đó, hoạt
động kiểm tra, giám sát của các tổ chức xã hội đối với hành chính Nhà nước là góp
phần thực hiện phương châm “ dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, góp phần
làm trong sạch bộ máy hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước,
thiết lập kỉ cương xã hội.
2.2 Phối hợp kiểm tra của Đảng với kiểm toán Nhà nước trong việc thực hiện
nghị quyết của Đảng.
Với tính chất là cơ quan kiểm tra tài chính công cao nhất của Nhà nước, sự ra
đời của cơ quan kiểm toán nhà nước sẽ đáp ứng yêu cầu cơ bản trong việc giải quyết
các vấn đề bất ổn trong việc kiểm tra, kiểm soát hệ thống hành chính Nhà nước đã
nêu ở trên. Bởi vì sự ra đời của cơ quan này một mặt tạo ra sự hoàn chỉnh đồng bộ
trong hoạt động kiểm tra, đặc biệt là trong kiểm tra tài chính; mặt khác, do tính độc
lập của kiểm tra từ bên ngoài đối với hệ thống hành chính sẽ làm tăng được khả năng
ngăn chặn và loại trừ các tiêu cực trong bộ máy hành chính Nhà nước hiện nay.
Kiểm toán Nhà nước là một công cụ quan trọng thực hiện kiểm tra một cách
nội dung hết sức quan trọng trong việc kiểm tra thực hiện tinh giảm tổ chức và biên
chế.
Thông qua kết quả kiểm toán và thu thập ý kiến phản hồi tại cơ sở, nghiên cứu
để đề xuất kiến nghị với các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước sửa đổi, bổ
xung luật và các cơ chế, chính sách của Nhà nước và các lĩnh vực quản lý kinh tế –
tài chính cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế trong từng thời kì. Ngoài ra,
kiểm toán nhà nước còn tham gia ý kiến với các cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm
pháp luật của Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách, chế độ
phù hợp với điều kiện cụ thể.
3. Vai trò và nhiệm vụ của kiểm toán Nhà nước thể hiện trong một vài lĩnh vực
khác.
3.1 Kiểm toán nhà nước trong quản lý hoạt động của các doanh nghiệp Nhà
nước.
Doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận quan trọng của kinh tế Nhà nước, có
vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Hiện nay, có hàng nghìn doanh nghiệp Nhà nước
đang hoạt động trên các lĩnh vực sản xuất, lưu thông phân phối, cung ứng dịch vụ
trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, bưu điện, tài chính, tín dụng
ngân hàng Hàng năm nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước là từ nguồn thu
của các doanh nghiệp Nhà nước. Vì vậy, doanh nghiệp Nhà nước là một trong những
đối tượng của kiểm toán nhà nước.
Với doanh nghiệp Nhà nước hoạt động kiểm toán nhà nước trước tiên là kiểm
tra, đối chiếu số liệu trên quyết toán với tình hình thực tế của tài sản nguồn vốn; với
tình hình kinh doanh, chi phí thực tế hợp lý, hợp lệ; tính đầy đủ, trung thực, chính
xác về kết quả hoạt động, nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước Trên cơ sở đó xác
nhận toàn bộ hay từng phần những nội dung báo cáo quyết toán hàng năm của doanh
nghiệp. Kiểm toán nhà nước sẽ kiểm tra xác định các báo cáo tài chính và sự tuân
thủ chính sách, chế độ tài chính kế toán của các doanh nghiệp Nhà nước. Qua đó đưa
hơn đó là thực hiện chức năng tư vấn đề xuất với Thủ tướng Chính phủ việc sửa đổi,
bổ sung cải tiến cơ chế quản lý kinh tế tài chính, kế toán cần thiết. Đây chính là một
trong những điểm khác biệt quan trọng giữa kiểm toán nhà nước với kiểm toán độc
lập. Với địa pháp lý của mình, kiểm toán nhà nước không những chỉ xét sự tuân thủ
pháp luật mà còn được tham gia vào tư vấn trong xây dựng pháp luật.
Kiểm toán báo cáo tài chính là sự xác minh tính chính xác, trung thực, hợp lý
của các chỉ tiêu trong báo cáo tài chính. Đánh giá sự tuân thủ các chính sách, cơ chế
tài chính và phù hợp với nguyên tắc kế toán trong quá trình lập báo cáo tài chính và
tính hợp pháp của các biểu mẫu. Ngoài ra, kiểm toán nhà nước còn đưa ra những kiến
nghị, yêu cầu đối tượng được kiểm toán phải có biện pháp cụ thể khắc phục những
tồn tại, yếu kém và kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước sửa đổi, bổ sung,
hoàn thiện các chính sách, cơ chế, chế độ về quản lý kinh tế, tài chính.
Tuỳ theo yêu cầu của, mục đích, tính chất của từng cuộc kiểm toán, nên kiểm
toán nhà nước có thể áp dụng riêng biệt hay kết hợp ba loại hình kiểm toán: kiểm
toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động. Việc áp dụng các
loại hình kiểm toán khác nhau đối với các doanh nghiệp nhà nước sẽ giúp cho nhà
nước thực hiện tốt việc quản lý, sử dụng vốn, nguồn vốn, thu nhập, chi phí, kết quả
kinh doanh, nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước và thực hiện các chính sách, chế độ
của nhà nước trong lĩnh vực kế toán tài chính doanh nghiệp. Giải quyết mối quan hệ
tài chính giữa nhà nước và doanh nghiệp nhà nước; giữa doanh nghiệp với tập thể
người lao động trong quan hệ thanh toán nội bộ doanh nghiệp; giữa doanh nghiệp với
con nợ, chủ nợ, với khách hàng. Nhằm thực hiện thực hiện quan hệ sản xuất, tổ chức
quản lý, tổ chức và vận hành các hoạt động tài chính doanh nghiệp đó vào kỉ cương,
nề nếp. Tức là làm cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả góp phần nâng cao
doanh lợi cho doanh nghiệp và toàn xã hội.
Như vậy, hoạt động kiểm toán vừa là thực hiện chức năng kiểm tra của cơ
quan công quyền, vừa thúc đẩy sự đổi mới, hoàn thiện quản lý doanh nghiệp, đem lại
Nam hiện nay
1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nước
Đứng trước đòi hỏi về sự phát triển của kiểm toán Nhà nước trong thời kì mới
thì với những văn bản pháp lý hiện hành, cơ sở pháp lý là chưa đầy đủ và chưa
ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ và vai trò của kiểm toán nhà nước. Mặt khác,
nó còn chưa phù hợp với thông lệ phổ biến ở các nước trên thế giới, thể hiện trong
Hiến pháp, luật của các nước và hiến chương INTOSAI mà Việt Nam là một thành
viên chính thức. Hoạt động kiểm toán nhà nước chưa thực sự đảm bảo tính độc lập,
khách quan trong hoạt động kiểm tra, kiểm soát việc thu chi ngân sách nhà nước.
Với chức năng kiểm tra tài chính công cao nhất nhưng kiểm toán nhà nước vẫn chưa
có đầy đủ một hành lang pháp lý cao, rõ ràng để hoạt động nên hiệu lực và hiệu quả
hoạt động kiểm toán còn hạn chế. Vì vậy, cần bổ sung vào hiến pháp một số điều,
khoản qui định rõ địa vị pháp lý của kiểm toán nhà nước, trong đó khẳng định kiểm
toán nhà nước là cơ quan kiểm tra tài chính công cao nhất của Việt Nam. Điều này là
hết sức quan trọng vì nó đảm bảo tính đồng bộ và có hệ thống, ở mức độ cao trong
quan hệ với các văn bản hiện hành như Luật ngân sách nhà nước, Luật ngân hàng
nhà nước
Phải sớm xây dựng và ban hành luật kiểm toán nhà nước nói riêng nhằm hoàn
thiện cơ sở pháp lý để hướng dẫn và điều chỉnh các mối quan hệ trong hoạt động
kiểm toán một cách đồng bộ và đầy đủ, trong đó ngoài quy đinh nhiệm vụ, chức năng
cần bao gồm những vấn đề:
- Khẳng định kiểm toán nhà nước là cơ quan kiểm tra tài chính cao nhất của
nhà nước.
- Ngân sách hoạt động của cơ quan kiểm toán nhà nước hàng năm do Quốc
hội quy định.
- Cần quy định để kiểm toán nhà nước được quyền độc lập trong việc xây
dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch kiểm toán, bao gồm cả quyền đình chỉ, gia hạn
hoặc thay đổi kế hoạch kiểm toán. Kiểm toán nhà nước có quyền công khai kết quả
kiểm toán theo quy định của pháp luật góp phần công khai và minh bạch hoá các
quan hệ tài chính.
năm, 10 hay 12 năm theo quy định của luật kiểm toán.
Tuy nhiên, kiểm toán nhà nước dù tổ chức theo mô hình nào thì cũng phải đảm
bảo tính độc lập trong tổ chức và hoạt động của cơ quan kiểm toán nhà nước và phải
đảm bảo thực hiện trách nhiệm báo cáo Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và
Chính phủ về kết quả hoạt động kiểm toán.
3. Tăng cường năng lực của kiểm toán nhà nước.
3.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của bộ máy kiểm toán nhà nước
Phát triển mạng lưới kiểm toán nhà nước khu vực thích hợp theo từng giai đoạn
để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán ngân sách nhà nước và các đối tượng khác trên địa
bàn các địa phương. Dự kiến đến năm 2010 kiểm toán nhà nước sẽ có 9 khu vực.
Củng cố và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nước Trung ương
theo hướng chuyên môn hoá kiểm toán theo ngành thu hẹp; tăng cường năng lực cho
các bộ phận chức năng khối văn phòng theo hướng:
- Tách kiểm toán ngân sách nhà nước thành kiểm toán ngân sách nhà nước I
và kiểm toán ngân sách nhà nước II để chuyên môn hoá và theo dõi liên tục các đối
tượng kiểm toán;
- Tách kiểm toán doanh nghiệp nhà nước thành kiểm toán các tổ chức tài chính
tiền tệ và kiểm toán doanh nghiệp;
- Thành lập vụ tổng hợp pháp chế;
- Phát triển phòng thanh tra kiểm tra nội bộ thành Vụ kiểm tra chất lượng kiểm
toán và đạo đức hành nghề kiểm toán viên.
- Xây dựng và sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới để hoàn thiện hệ thống quy
chế hoạt động của các đơn vị thuộc và trực thuộc kiểm toán nhà nước.
- Nghiên cứu ban hành và thực hiện cơ chế phân cấp quản lý đối với kiểm toán
nhà nước chuyên ngành và khu vực.
những chuẩn mực đó có thể đi theo những phương hướng cơ bản sau:
-Hệ thống chuẩn mực kiểm toán được xây dựng trên cơ sở các chuẩn mực
kiểm toán quốc tế và có xem xét chuẩn mực kiểm toán các quốc gia khác.
- Các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phải phù hợp các đặc điểm của Việt
Nam.
- Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phải hướng về việc nâng cao chất
lượng của các công ty kiểm toán Việt Nam đồng thời kiểm soát được chất lượng của
các công ty kiểm toán quốc tế hoạt động tại Việt Nam.
- Cơ chế ban hành chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phải giải quyết được mối
quan hệ giữa Nhà nước và tổ chức nghề nghiệp trong quá trình lập quy và kiểm soát
chất lượng công việc kiểm toán.
- Hệ thống kiểm toán Việt Nam phải phát triển đồng bộ với hệ thống kế toán
Việt Nam.
- Quy trình xây dựng các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phải chuyển sang
công nghiệp hoá.
Như vậy, các chuẩn mực kiểm toán cần phải được xây dựng một cách chặt chẽ
và khẩn trương để hình thành một cơ sở lý luận đáp ứng được nhu cầu kiểm toán của
các loại hình kiểm toán nói chung cũng như kiểm toán nhà nước nói riêng.
3.4 Xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ chất lượng kiểm
toán
Đổi mới công tác kiểm toán trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước
và cải cách tài chính công (thực hiện khoán chi hành chính ở các cơ quan nhà nước
và thực hiện cơ chế tài chính trong các đơn sự nghiệp có thu ); nghiên cứu và từng
bước áp dụng có kết quả các cuộc kiểm toán chuyên đề và kiểm toán hoạt động.
Đổi mới quy trình và phương pháp kiểm toán cho phù hợp với tình hình mới,
đáp ứng yêu cầu kiểm toán trước khi Quốc hội, Hội đồng Nhân dân xem xét, phê
chuẩn.
vật chất cho cán bộ, kiểm toán viên (trước đây Bộ Tài chính đề nghị Chính phủ là 2%
trên tổng số thu hồi cho ngân sách nhà nước theo kết quả kiểm toán) nhưng cho đến
nay vẫn chưa được giải quyết. Tiến hành xây dựng, trang bị đầy đủ trụ sở, phương
tiện làm việc cho kiểm toán nhà nước ở Trung ương và các kiểm toán nhà nước các
khu vực. Cơ bản xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin và triển khai tin học hoá các
hoạt động quản lý hành chính của kiểm toán nhà nước trong giai đoạn 2001 –2005.
Phấn đấu đến năm 2010 hoàn thiện và nâng cấp hệ thống thông tin điện tử, củng cố
và nâng cấp mạng diện rộng (WAN), xây dựng và kết nối mạng LAN tại các kiểm
toán nhà nước khu vực; xây dựng và đưa vào sử dụng rộng rãi các cơ sở dữ liệu điện
tử, các phần mềm trợ giúp nghiệp vụ kiểm toán. `
4. Chiến lược hội nhập và hợp tác quốc tế
Duy trì và phát triển các mối quan hệ, hợp tác quốc tế đã có; mở rộng hơn nữa,
đa dạng hoá và nâng cao hiệu quả các mối quan hệ, các hình thức hợp tác song
phương và đa phương với INTOSAI, ASOSAI và cơ quan kiểm toán nhà nước các
nước trong khu vực và trên thế giới. Thực hiện lộ trình hội nhập và hợp tác quốc tế;
giai đoạn 2001 – 2005 sẽ chuẩn bị các tiền đề cơ bản cho hội nhập và hợp tác quốc
tế; giai đoạn 2006 –2010 là giai đoạn hội nhập tích cực và đến 2020, kiểm toán nhà
nước Việt Nam có thể hoàn toàn hội nhập năng động với kiểm toán nhà nước các
nước trên thế giới.
quan, tổ chức có sử dụng ngân sách Nhà nước và công bố kết quả kiểm toán cho dân
biết”
Nói tóm lại, việc nâng cao vai trò và nhiệm vụ của kiểm toán nhà nước ở Việt
Nam hiện nay là một nhu cầu hết sức bức xúc và cần thiết nhằm củng cố vai trò lãnh
đạo của Đảng và Nhà nước ta trong tình hình mới.
Tài liệu tham khảo
I. Văn kiện
- Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII (Nxb chính trị quốc gia 1996).
- Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (Nxb chính trị quốc gia 2001).
II.Sách
1. Lý thuyết kiểm toán (Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội khoa kế toán –
Nhà xuất bản tài chính 1/2003).
2. Kiểm toán (Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh khoa kế toán –
kiểm toán, bộ môn kiểm toán – Nhà xuất bản thống kê 2001).
3. Cẩm nang kiểm toán viên nhà nước (Kiểm toán nhà nước - Nxb chính trị quốc
gia 8-2000).
III. Tạp chí.
1. Tạp chí kiểm toán
- Mối quan hệ giữa Quốc hội và cơ quan kiểm toán nhà nước (Lý Tài Luận –
số 1/1998).
- Vai trò của kiểm toán đối với hoạt động của các doanh nghiệp trong cơ chế
thị trường (Vũ Xuân Hợp – số 1/1998).
- Kiểm toán nhà nước là công cụ sắc bén giúp Quốc hội thực hiện chức năng
trò tương lai của kiểm toán nhà nước Việt Nam (PGS. TS Nguyễn Đình
Hựu – số 1/2004).
- Mối quan hệ giữa Quốc hội và kiểm toán nhà nước, những yêu cầu đặt ra
đối với kiểm toán nhà nước, trong việc hỗ trợ Quốc hội tăng cường năng
lực giám sát ngân sách nhà nước (GS.TSKH Tào Hữu Phùng – số 1/2004).
- Vai trò của kiểm toán nhà nước trong việc hỗ trợ Quốc hội và Hội đồng
nhân dân nâng cao năng lực giám sát ngân sách nhà nước (GS.TS Vương
Đình Huệ phó tổng kiểm toán nhà nước – số 1/2004).
2.Tạp chí kinh tế phát triển