một số giải pháp nhằm thu hút và phát huy hiệu quả vốn đầu tư mạo hiểm ở việt nam - Pdf 10

Trang1
CHƯƠNG I :
KHÁI QUÁT VỀ VỐN ĐẦU TƯ MẠO HIỂM.

1.1) Khái niệm:

Khi tìm nguồn tài trợ cho bất kỳ một giai đoạn nào trong một chu kì sống của
mình, các doanh nghiệp cũng phải xem xét mức độ rủi ro mà doanh nghiệp phải
gánh chịu. Xét trong giai đoạn khởi sự thì doanh nghiệp phải đối mặt với rủi ro kinh
doanh rất lớn cho nên doanh nghiệp phải tìm một nguồn tài trợ thích hợp nhằm để
hạn chế rủi ro tài chính. Như vậy rỏ ràng, trong giai đoạn này một cấu trúc sử dụng
nợ sẽ không khả thi vì trong giai đoạn mới khởi sự qui mô doanh nghiệp còn nhỏ,
doanh nghiệp chưa có đủ tài sản để thế chấp và uy tín của doanh nghiệp chưa đủ để
đáp ứng nhu cầu vay vốn từ ngân hàng. Và đồng thời nó cũng làm gia tăng chi phí
của doanh nghiệp do gánh nặng chi trả lãi suất tiền vay. Và doanh nghiệp cũng khó
nhận được tài trợ bằng vốn cổ phần bởi trong giai đoạn này doanh nghiệp chưa đủ
các tiêu chuẩn để phát hành chứng khoán ra công chúng.
Vấn đề đặt ra là nguồn tài trợ nào cho doanh nghiệp trong giai đoạn này? Với
những đặc điểm đó thì vốn đầu tư mạo hiểm được xem là đáp án tối ưu cho bài toán
về vốn của các doanh nghiệp mới khởi sự. Ở các doanh nghiệp này có một tiềm
năng tăng trưởng rất lớn nhưng đi theo nó là yếu tố rủi ro cũng rất cao. Vậy vốn đầu
tư mạo hiểm là gì?
- Vốn đầu tư mạo hiểm
:
Vốn đầu tư mạo hiểm là những khoản đầu tư cổ phần vào giai đoạn đầu của
những doanh nghiệp mới khởi sự, các doanh nghiệp này đang cần vốn để tài trợ cho
việc phát triển sản phẩm mới hoặc ý tưởng về khoa học công nghệ, do vậy đây là
những khoản đầu tư hứa hẹn một tiềm năng tăng trưởng rất lớn để bù đắp cho mức
độ rủi ro cao hơn. Các chuyên gia quản lý vốn đầu tư mạo hiểm sẽ tìm kiếm các
khoản thu nhập vốn tiềm năng cao hơn.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng hơn thì vốn đầu tư mạo hiểm là nguồn tài chính

- Các nhà đầu tư mạo hiểm: bất kỳ một các nhân, một tổ chức nào cũng đều
có thể trở thành nhà đầu tư mạo hiểm. Họ có thể là cá nhân giàu có, là các tập đoàn
công nghiệp lớn hoặc các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính như ngân hàng,
quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm,…họ có lượng tiền nhàn rỗi lớn, sẵn sàng đầu tư và

Trang3
chấp nhận rủi ro cao đễ hi vọng đạt được những khoản lợi nhuận cao như mong
muốn trong tương lai.
- Các nhà quản lý quỹ: họ chính là những người quản lý quỹ ĐTMH, tiến
hành ĐTMH chuyên nghiệp, vừa có kiến thức về công nghệ, vừa có tài năng quản
trị, họ hoạt động vốn từ các nhà ĐTMH, họ tìm kiếm và đánh giá các cơ hội đầu tư,
thực hiện công cuộc thoát vốn để thu hồi vốn và lợi nhuận cho quỹ. Quá trình này
được lập đi lập lại với việc hoạt động quỹ mới cho những cơ hội đầu tư mới. Với
đặc điểm trên, ta có thể thấy vốn mạo hiểm mang tính chu kỳ.
- Các doanh nghiệp: chủ yếu là các DN mới khởi sự, họ là những tổ chức,
những cá nhân đang mong muốn biến một phát hiện công nghệ, một ý tưởng độc
đáo, mới mẻ thành một sản phẩm thành công trên thị trường nhưng do tiềm lực tài
chính có hạn, họ cần có sự góp vốn của các quỹ ĐTMH.
Mối quan hệ giữa 3 nhóm đối tượng trên có thể được phối hợp theo những
mô hình tổ chức và hoạt động khác nhau. Một mô hình thành công phải đảm bảo lợi
ích hài hòa của ba nhóm đối tượng trên, nhờ đó đạt được mục tiêu:
¾ Duy trì và khuyến khích sáng tạo công nghệ, tinh thần khởi nghiệp (duy trì
nhu cầu về vốn đầu tư mạo hiểm).
¾ Tạo động lực cho cá nhân, tổ chức có vốn tham gia đầu tư mạo hiểm (phát
triển nguồn cung) .
¾ Phát huy triệt để năng lực của các nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm (đảm
bảo hiệu quả đầu tư).
1.3) Đặc điểm hoạt động của Quỹ ĐTMH :

Theo báo cáo IFC (International Fanance Corporation- Công ty tài chính

.
Hoạt động của các Quỹ ĐTMH phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của nhà quản lý,
đó là việc đánh giá tiềm năng tăng trưởng của một doanh nghiệp mới, và chắc chắn
rằng ý tưởng kinh doanh mới sẽ thành công. Điều này không chỉ yêu cầu nhà quản
lý phải là chuyên gia trong lĩnh vực tài chính để có thể tạo ra một cấu trúc tài chính
linh hoạt mà họ còn phải có kinh nghiệm trong các lĩnh vực quản trị doanh nghiệp,
nghiên cứu thị trường, bán hàng,…
• Quỹ đầu tư mạo hiểm là một quỹ đầu tư tư nhân.

Vì mức độ rủi ro của quỹ là rất cao nên vốn của quỹ đầu tư mạo hiểm huy động
bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một số nhóm các nhà đầu tư, có thể được

Trang5
lựa chọn trước, đó là các cá nhân, thể nhân, các định chế tài chính hoặc các tập đoàn
kinh tế lớn. Các nhà đầu tư thường đầu tư một lượng vốn tương đối lớn và đổi lại họ
yêu cầu về kỹ năng quản lý quỹ rất cao để đảm bảo yếu tố sinh lợi trên số vốn đầu
tư. Vì vậy, quỹ đầu tư mạo hiểm là một quỹ đầu tư tư nhân.
• Cấu trúc hoạt động hai lớp
.
Nhà đầu tư cung cấp tài chính, còn các công ty quản lý quỹ (được thuê) sẽ chịu
trách nhiệm về mọi hoạt động đầu tư và rút vốn.
• Lợi tức dành cho các nhà quản lý quỹ
.
Là sự kết hợp giữa một khoản chi phí cố định (thường là thấp) cùng với một
phần trong khoản lợi nhuận thu được từ các dự án đầu tư mà họ chịu trách nhiệm
quản lý.
• Số lượng dự án nhiều
.
Dòng vào của các dự án phải nhiều, do thường là số dự án được xem xét để có
thể tiến tới một cuộc đàm phán là khá ít, cho nên hoạt động của vốn đầu tư mạo

- Giai đoạn hình thành quỹ
:
Đây là giai đoạn để có thể hình thành nên một quỹ ĐTMH, các nhà tư bản
mạo hiểm nghiên cứu tìm kiếm các nguồn cấp vốn cho quỹ, đồng thời trong thời
gian này các nhà quản lý quỹ tiến hành nghiên cứu, tìm kiếm các cơ hội đầu tư tốt,
song song đó họ cũng tiến hành các thủ tục chuẩn bị về mặt pháp lý cho sự hình
thành và hoạt động của quỹ.
• Các thành viên tổng quát cảm nhận và phát hiện các cơ hội đầu tư có
tiềm năng phát triển tốt đẹp, có mức tăng trường nhanh và triển vọng lợi nhuận cao.
Thông thường thì các thành viên tổng quát phải bỏ ra nhiều công sức, thời gian, chi
phí để xây dựng hồ sơ dự án, chuẩn bị nền tảng cho triển khai dự án, và phát hiện
các nguồn vốn tương lai khả thi.
• Các thành viên tự thẩm định dự án để lựa chọn sản phẩm, thị trường,
các chiến lược phát triển cũng như lựa chọn hình thức tổ chức doanh nghiệp phù
hợp và cách tổ chức tiếp cận các nguồn tài chính để đi đến quyết định thực hiện.
• Xây dựng mô hình tổ chức và tính pháp lý của quỹ đầu tư mạo hiểm:
công ty đầu tư, quỹ hỗ tương, quỹ đầu tư dạng đóng, mở.
• Sau đó, các thành viên xem xét và ra quyết định về mức vốn, số lần gọi
vốn, mô hình, chi tiết thể thức đầu tư, cơ cấu thành phần quỹ, hội đồng quản trị, hội
đồng điều hành,…Vì phần lớn các thành viên là những định chế tài chính, những

Trang7
tập đoàn công nghiệp đầu tư nên họ trở thành những người tham gia xem xét thận
trọng các chi tiết thành lập để góp phần đảm bảo cho thành công của quỹ.
• Các thành viên ra quyết định vế các chiến lược thực hiện và chiến lược
chiếm lĩnh thị trường,…
- Giai đoạn gọi vốn
:
• Tổ chức huy động vốn, ấn định ngày đóng quỹ.
• Hợp đồng với các đối tác cung cấp vốn.

- Giai đoạn thoát vốn
:
Sau thời gian tăng cao giá trị, giá trị của các dự án đầu tư đã đạt đến mức
mong muốn, các quỹ ĐTMH sẽ thực hiện việc thoát vốn, thoát vốn là một khâu vô
cùng quan trọng trong quá trình hoạt động của quỹ ĐTMH và nó phản ánh kết quả
đầu tư của quỹ, cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của quỹ, các quỹ thoát vốn
bằng cách:
• Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng – IPO (Initial Public Offerings).
• Bán toàn bộ doanh nghiệp: là việc bán hoặc sáp nhập 1 công ty cho một công
ty khác lớn hơn hoặc bán công ty cho một cá nhân, tổ chức nào đó.
• Nhượng lại cổ phiếu cho doanh nghiệp nhận đầu tư.
• Bán số cổ phiếu đã đầu tư cho 1 cá nhân, hoặc tổ chức nào đó.
Kết quả thu được qua việc thoát vốn của nhà đầu tư có thể được thể hiện bằng
tiền mặt hoặc các cổ phiếu có khả năng thanh khoản cao trên thị trường vốn.
Toàn bộ thời gian từ giai đoạn hình thành quỹ, gọi vốn, đầu tư đến thu hoạch
của một quỹ có thể khác nhau vì số lượng và thời gian đầu tư của các dự án của một
quỹ có thể biến thiên khác nhau. Tuy nhiên, thời gian để hình thành mục tiêu đầu tư
và thu hoạch của các dự án tối thiểu là 5 năm, có khi có thể dài hơn (5-10 năm) để
các dự án của họ có thể đạt được lợi nhuận.

Trang9

Sơ đồ1: Qui trình hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm.


• Đánh giá hoạt động và kiểm tra
• Tuyển cán bộ quản lý
• Hỗ trợ quan hệ với bên ngoài
• Hỗ trợ dàn xếp bổ sung tài chính
THU HOẠCH KẾT QUẢ ĐẦU TƯ
• IPO
• Bán thương mại
• …
Xúc tác các thỏa thuận Củng cố các cam kết đầu tư
ĐÓNG QUỸ GỌI VỐN LẦN ĐẦU
PHÁT TRIỂN KHÁI NIỆM QUỸ
Chọn lọc
DAĐT

Thẩm
định các
DAĐT

Thương
thuyết các
thương vụ
và các
giai đoạn
đầu tư

Tiếp tục
các lần
gọi vốn

Đầu tư

hành,…
Trang11

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức của quỹ ĐTMH theo mơ hình hợp danh hữu hạn.

THÀNH VIÊN TỔNG QUÁT
-Huy động vốn
-Tìm kiếm, thẩm đònh, chọn lọc DT
-Đàm phán đầu tư
-Giám sát, tư vấn
-Thu hoạch đầu tư
Thành
lập
công ty
quản lý
quỹ
đầu tư
mạo
hiểm
Đóng
góp công
sức và
vốn
Phí quản
lý và chia

ï

Trang12
+Mô hình công ty con:
Ngoài hình thức hợp danh hữu hạn, còn có một hình thức tổ chức khác của
quỹ đầu tư mạo hiểm, đó là hình thức quỹ là công ty con của các tập đoàn công
nghiệp hay các tổ chức tài chính lớn (mô hình này là nét đặc trưng của các quỹ đầu
tư mạo hiểm ở Nhật). Trong hình thức này, công ty mẹ thực hiện tài trợ vốn đầu tư
mạo hiểm cho doanh nghiệp là nhằm tạo mối quan hệ với những doanh nghiệp mới
để cung cấp những dịch vụ khác hoặc hi vọng vào những khoản lợi nhuận trong
tương lai.
So với hình thức hợp danh hữu hạn, loại hình này có những khuyết điểm như sau:
• Hội đồng quản trị của công ty con sẽ đưa ra quyết định phê chuẩn các
khoản đầu tư, trong đó việc quản lý các khoản đầu tư của quỹ lại do một công ty
quản lý vốn mạo hiểm được thuê đảm trách. Như vậy, hình thức này sẽ không tạo ra
được các nhà đầu tư chuyên nghiệp, mà nếu có thì năng lực của họ cũng bị lãng phí
và họ không có quyền đưa ra các quyết định đầu tư.
• Thù lao cho những người quản lý quỹ là một khoản tiền lương và một
khoản thưởng nào đó, không gắn liền với thành quả đầu tư, vì thế tính chất khuyến
khích không mạnh.
• Công ty phải trung thành với lợi ích của công ty mẹ chứ không phải vì lợi
ích của công ty được nhận đầu tư. Điều này đôi khi dẫn đến xung đột lợi ích giữa
nguồn tài trợ và người khởi nghiệp, giữa quỹ của công ty với nhà đầu tư mạo hiểm
khác.
• Đội ngũ nhân viên quản lý của công ty con là do công ty mẹ cử tới, sau một
thời gian hoạt động, họ trở về làm việc cho công ty mẹ, tốc độ luân chuyển công
việc cao, vì thế khó hình thành một đội ngũ chuyên gia đầu tư vốn mạo hiểm
chuyên nghiệp.
+Mô hình tín thác (dạng hợp đồng):
Trong mô hình này quỹ đầu tư mạo hiểm không có tư cách pháp nhân nhân
mà chỉ là một lượng tiền nhất định do các nhà đầu tư đóng góp. Mô hình này thể
hiện rõ ở vai trò của ba bên tham gia vào hoạt động của quỹ: công ty quản lý quỹ,

• Rủi ro tỉ giá trong chuyển vốn và chuyển lợi nhuận.

Trang14
Quỹ nội địa: Yếu tố then chốt của quỹ nội địa là sẽ huy động vốn trong nước để
đầu tư vào các công ty trong nước, công ty quản lý quỹ đăng ký thành lập trong
nước và những quỹ này sẽ do các chuyên gia trong nước quản lý là chính. Cổ phiếu
của quỹ được niêm yết ở thị trường trong nước.
+ Quỹ nội địa có những điểm mạnh như sau:
• Huy động nguồn vốn từ trong nước nên tránh được rủi ro về tỉ giá.
• Huy động được nguồn tài chính đa dạng trong nước.
• Không bị hạn chế vốn và ngành nghề đầu tư.
• Quỹ có thể duy trì lâu bền hơn với sự tham gia của nguồn nhân lực ổn
định trong nước.
• Hoạt động của quỹ nội địa sẽ góp phần tạo niềm tin cho các quỹ hải ngoại
mới đi vào thị trường trong nước, làm cho thị trường vốn mạo hiểm ngày
càng phát triển hơn.
+ Một số điểm yếu của Quỹ nội địa
• Nguồn vốn không lớn mạnh như quỹ đầu tư hải ngoại.
• Cần nhiều thời gian để thành lập và đi vào hoạt động.
• Ít kinh nghiệm và tính chuyên nghiệp thấp hơn.
1.5.3) Nếu dựa vào cách thức huy động: chúng ta có thể chia thành 2 loại là quỹ
đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở.
+ Quỹ đầu tư dạng đóng:
Quỹ chỉ phát hành cổ phiếu, chứng chỉ đầu tư ra công chúng tại những thời
điểm định sẵn với số lượng nhất định và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu,
chứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại. Sau khi phát hành lần đầu ra
công chúng, cổ phiếu đầu tư được giao dịch như các chứng khoán niêm yết khác
trên thị trường tập trung (sở giao dịch chứng khoán). Các nhà đầu tư có thể mua
hoặc bán để thu hồi vốn cổ phần hoặc chứng chỉ đầu tư của họ trên thị trường thứ
cấp thông qua các nhà môi giới, giá cổ phần được xác định bởi lượng cung, cầu trên

tiêu là tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp.
• Hỗ trợ cho doanh nghiệp rất nhiều về mặt phi tài chính.
• Thời gian hoạt động tích cực của quỹ là khoản 5 năm. Trang16
1.7) Vai trò của vốn đầu tư mạo hiểm:
1.7.1) Khuyến khích sự phát triển của khoa học công nghệ.
Với sự ra đời của nguồn vốn đầu tư mạo hiểm, nó thúc đẩy khoa học kỹ thuật
và công nghệ ngày càng phát triển. Với việc đầu tư vốn mạo hiểm các nhà đầu tư đã
đóng góp rất lớn vào sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp, điện toán
hiện nay, tạo điều kiện thúc đẩy ngành công nghệ cao phát triển như: điện tử, viễn
thông, công nghệ thông tin,…
Theo nghiên cứu của Đại Học Havard, 1 USD vốn mạo hiểm sẽ tạo ra được
một lượng bằng phát minh, sáng chế nhiều gấp từ 3 đến 5 lần so với chi cho công
tác nghiên cứu triển khai (chủ yếu trong lĩnh vực công nghệ cao). Nước Mỹ đã mất
85 năm để có được 1 triệu bằng phát minh, sáng chế đầu tiên, nhưng từ bằng sáng
chế thứ 5 triệu cho đến 6 triệu thì chỉ mất trong 8 năm.
Nguyên tắc hoạt động của vốn đầu tư mạo hiểm là đầu tư vào những dự án
tiền năng, có rủi ro cao hơn mức bình quân để thu được mức lợi nhuận vượt trội kỳ
vọng. Do đó, các công ty quản lý quỹ luôn luôn phải nâng cao trình độ, năng lực
quản lý của mình, đồng thời quỹ cũng hỗ trợ, tư vấn nhiều cho các doanh nghiệp
tiếp nhận đầu tư. Chính sự hỗ trợ, tư vấn về mặt tài chính lẫn phi tài chính đã biến
quá trình nghiên cứu, tìm kiếm, thử nghiệm, phát triển một ý tưởng khoa học công
nghệ thành phát minh và từ đó thương mại hóa thành sản phẩm. Quá trình biến một
ý tưởng thành một sản phẩm đòi hỏi một lượng vốn tài trợ rất lớn. Nếu không đủ
nguồn vốn tài trợ thì nhiều khả năng các ý tưởng, phát minh này sẽ bỏ ngỏ, chỉ mãi
mãi là ý tưởng mà thôi. Khi càng nhiều ý tưởng, phát minh sáng chế được tài trợ để
phát triển thì các quỹ ĐTMH càng có nhiều khả năng thu được những khoản lợi
nhuận lớn. Và cứ theo qui luật này thì kết quả của việc gia tăng vốn đầu tư mạo

¾ Bổ sung thêm một kênh tài trợ vốn mới.
Với sự hoạt động của quỹ đầu tư mạo hiểm tạo sẽ tận dụng được nguồn lực tài
chính trong lẫn ngoài nước. Quỹ thu hút vốn nhàn rỗi từ các công ty lớn, các tổ
chức tài chính và phi tài chính (ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ bảo
hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm nhân thọ ) để đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh
nghiệp nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

Trang18
¾ Tạo thêm hàng hóa cho thị trường chứng khoán.
Thông qua việc thoát vốn tốt nhất và phổ biến nhất của các quỹ đầu tư mạo hiểm
là bán chứng khoán của doanh nghiệp nhận đầu tư ra công chúng thông qua thị
trường chứng khoán (IPO), quỹ sẽ góp phần làm phong phú và đa dạng hàng hoá
cho thị trường chứng khoán cả về số lượng lẫn chất lượng, quỹ đầu tư vào càng
nhiều công ty, khi đến giai đoạn IPO sẽ tạo thêm nhiều hàng hóa mới, giúp các nhà
đầu có nhiều cơ hội lựa chọn cho danh mục đầu tư của mình, thu hút thêm nhà đầu
tư mới, đặc biệt là làm tăng tính thanh khoản cho thị trường, làm cho thị trường
chứng khoán ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn. Như vậy, có một sự hỗ trợ qua lại
giữa thị trường chứng khoán và hoạt động của vốn mạo hiểm.
¾ Tác dụng ổn định thị trường tài chính của quỹ còn thể hiện ở vai trò chia sẽ
áp lực vay vốn đối với hệ thống ngân hàng.
Với một khối lượng doanh nghiệp ngày càng tăng nhanh và hoạt động sản xuất,
kinh doanh, phát triển khoa học kỹ thuật ngày càng lớn mạnh thì nguồn vốn từ ngân
hàng sẽ khó đáp ứng hết nhu cầu vốn ngày càng cao. Quỹ đầu tư mạo hiểm với
nguồn vốn và chiến lược đầu tư dài hạn góp phần tăng cường khả năng huy động
những nguồn vốn dài hạn và ổn định, giảm mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào
nguồn vốn tín dụng ngắn hạn do hệ thống ngân hàng cung cấp góp phần làm cân đối
về vốn trong nền kinh tế.
1.7.4) Hỗ trợ cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Các quỹ đầu tư mạo hiểm ngoài việc cung cấp vốn còn là sự hỗ trợ phi tài
chính hiệu quả cho các doanh nghiệp. Nó là một quá trình đóng vai trò chất xúc tác

đầu tư, tận dụng được lợi thế về qui mô các ngành kinh tế, tạo lập được một mạng
lưới các nguồn thông tin tham khảo, các nhà cung cấp dịch vụ và các mối liên hệ
với các ngành nghề,… thông tin thu được từ một dự án thường hữu ích cho một dự
án tiếp theo.
 Uy tín
:
Với tính chuyên nghiệp của mình việc quỹ đầu tư vào các doanh nghiệp
sẽ góp phần tích cực làm gia tăng uy tín cũng như danh tiếng của doanh nghiệp. Vì
để có thể nhận đầu tư từ các quỹ, các doanh nghiệp sẽ phải trãi qua một quá trình
kiểm tra toàn diện, đáp ứng được các tiêu chuẩn cao của quỹ về quản trị doanh
nghiệp, tính minh bạch, khả năng sinh lời,… sự tham gia của quỹ đầu tư mạo hiểm
vào các doanh nghiệp sẽ cung cấp một tín hiệu đáng tin cậy về khả năng thành công

Trang20
của doanh nghiệp, nâng cao tính hấp dẫn của doanh nghiệp đối với các nhà quản trị
tài năng, các nhà cung cấp, các khách hàng và các nhà đầu tư khác.
 Tập trung vào việc tối đa hóa giá trị doanh nghiệp
:
Quỹ là một cổ đông của doanh nghiệp, lợi ích của quỹ gắn liền với sự
thành công của doanh nghiệp. Do đó, quỹ có động lực rất mạnh mẽ trong việc hỗ
trợ, tư vấn giúp cho các doanh nghiệp tối đa hóa giá trị của mình.
1.8 ) Hoạt động vốn đầu tư mạo hiểm trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam.
1.8.1) Hoạt động vốn đầu tư mạo hiểm trên thế giới.
Loại hình đầu tư vốn mạo hiểm đã ra đời từ khá lâu và hoạt động rộng khắp
trên phạm vi toàn thế giới. Ở các nước phát triển hình thức đầu tư vốn mạo hiểm đã
trở nên quen thuộc.
- Mỹ là quốc gia tiên phong trên thế giới về đầu tư vốn mạo hiểm, với ý
tưởng hỗ trợ vốn để hình thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ có ý tưởng sáng tạo và
có tiềm năng trên thị trường, công ty đầu tư vốn mạo hiểm đầu tiên ở Mỹ do hiệu

Luật Uỷ thác Đầu tư mạo hiểm, trong đó ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân đầu tư vào
Quỹ uỷ thác để Quỹ tiến hành đầu tư mạo hiểm.
- Ở Đức, tổng số vốn đầu tư mạo hiểm năm 1998 chỉ là 1,1 tỷ USD, nhưng
đến 2001 đã đạt 5,6 tỷ USD. Chính phủ Đức thành lập Quỹ Đầu tư mạo hiểm nước
Đức. Chính phủ Đức bảo hiểm đến 75% các khoản lỗ và lợi nhuận của Quỹ từ các
doanh nghiệp bị giới hạn trần nên Quỹ thiếu động cơ và hoạt động không thành
công.

Trang22
- Tình hình đầu tư tại các nước có nền kinh tế chuyển đổi ở Trung và Đông
Âu có phần khác so với các nước đang phát triển Châu Á. Vào cuối năm 1995,
nguồn vốn khoản 3tỉ USD và đang gia tăng một cách nhanh chóng khi các nền kinh
tế ở các quốc gia này đi vào ổn định. Ba nước Ba lan, Hungary, CH Sec chiếm gần
2/3 tổng số cổ phiếu của các quỹ trong vùng. Ba lan chiếm 40%, Rumani và
Ukraina mỗi nước chiếm khoản 10%, sau đó là Nga 4%. Điều này cho thấy, nếu nền
kinh tế lớn nhưng quá trình chuyển đổi nền kinh tế diễn ra chậm và ít thành công thì
cũng thu hút vốn mạo hiểm ít hơn.
- Vào năm 1992, sự gia tăng nhanh chóng luồng vốn đẩu tư mạo hiểm mới ở
Châu Á diễn ra một cách nhanh chóng, đặc biệt là các quốc gia Châu Á đang phát
triển do luồng vốn đổ vào Trung Quốc rất lớn. Nếu vào năm 1991 chỉ tăng 15,4triệu
USD so với năm 1990, thì năm 1992 tăng đến 542,8 triệu USD, tức khoản 35 lần.
Luồng vốn này tiếp tục tăng cao những năm sau đó, riêng chỉ có năm 1993 là tốc độ
giảm nhưng vẫn cao hơn so với tốc độ tăng của năm 1992. Trên toàn Châu Á, bao
gồm cả Nhật Bản và các con rồng Châu Á, sự gia tăng nguồn vốn từ các quỹ đầu tư
mạo hiểm mới ở năm 1995 là 6,3tỉ USD so với 4,9tỉ USD năm 1994. Tuy nhiên, có
sự gia tăng không đồng đều giữa các quốc gia. Ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore
và Đài Loan gia tăng rất cao trong khi ở Hồng Kông lại giảm, tuy nhiên, tổng vốn
vẫn ở mức gần 1,7tỷ USD.
- Ở Nhật Bản: ngành đầu tư vốn mạo hiểm ở Nhật Bản bắt đầu vào năm
1963. Những thể chế, biện pháp, chính sách và những luật lệ về vốn mạo hiểm đều

hiểm để tạo mối quan hệ với những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ và nhằm
cung cấp những dịch vụ khác. Từ năm 1982 đến 1984 đã có 37 công ty vốn mạo
hiểm được thành lập, phần lớn trong đó thuộc quyền sở hữu của những ngân hàng
hoặc những công ty chứng khoán lớn. Những nhà tư bản mạo hiểm Nhật Bản
không tìm kiếm lãi vốn, họ có một động lực khác, họ muốn phát triển những mối
quan hệ ngân hàng dài hạn với những doanh nghiệp mà họ tài trợ. Tuy nhiên, sự
bùng nổ vốn mạo hiểm lần hai cũng giảm sút vì sự suy thoái gây ra bởi sự tăng giá
đồng yên trong năm 1986 và 1987.
Sự bùng nổ vốn mạo hiểm lần 3 (1994 đến 2000): lần này Chính phủ Nhật

Trang24
Bản đã áp dụng những biện pháp mới nhằm tạo điều kiện cho việc hỗ trợ những
doanh nghiệp mới khởi sự. Năm 1995, sự sửa đổi của luật về những biện pháp
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho những doanh nghiệp mới và việc ban hành luật
thành lập những doanh nghiệp vừa và nhỏ đã làm cho những doanh nghiệp này có
thể dễ dàng nhận được sự hỗ trợ về tài chính cũng như về thông tin. Những điều
luật mới này đã khuyến khích sự hình thành của nhiều công ty vốn mạo hiểm hơn.
Hiện nay, những công ty con vốn mạo hiểm thuộc những định chế tài chính
lớn như ngân hàng, các công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm chiếm khoảng 70%
toàn bộ ngành công nghiệp vốn mạo hiểm ở Nhật Bản. Phần còn lại là những công
ty vốn mạo hiểm độc lập với quy mô nhỏ và một số công ty vốn mạo hiểm nước
ngoài hoạt động ở Nhật Bản. Những công ty vốn mạo hiểm lớn chiếm ưu thế trong
việc đầu tư và phần lớn là chúng thuộc những định chế tài chính.
Với những biện pháp tích cực trên, Chính phủ Nhật Bản đã góp phần tích cực
vào việc thúc đẩy thị trường vốn mạo hiểm phát triển ngày càng năng động với
quy mô ngày càng lớn.
- Trung Quốc là một điển hình cho sự thành thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm
từ nguồn vốn của chính phủ tài trợ. Có 4 hình thức vốn mạo hiểm ở Trung Quốc là:
Vốn mạo hiểm được Chính phủ tài trợ, Công ty vốn mạo hiểm trách nhiệm hữu hạn,
các Liên doanh, Quỹ phát triển khoa học. Hiện tại, phần lớn các công ty mạo hiểm

Để ngành vốn mạo hiểm lớn mạnh, điều cốt yếu là phải có nhiều doanh
nghiệp có tiềm năng, đang cần vốn để đầu tư, đổi mới, và có nhiều nguồn cung cấp
các ý tưởng đổi mới. Do đó, khu vực kinh tế tư nhân cần được hỗ trợ phát triển
mạnh mẽ, lĩnh vực công nghệ cao, trọng điểm đặc biệt phải được chú trọng, tập
trung phát triển.
Những nước có ngành công nghiệp vốn mạo hiểm phát triển đều là những
nước có thị trường chứng khoán tồn tại khá lâu trước khi có sự ra đời của các quỹ
đầu tư mạo hiểm. Bên cạnh đó họ còn thành lập thị trường riêng dành cho các công
ty vừa và nhỏ, công ty mới thành lập có tiềm năng (chẳng hạn ở Nhật Bản).
Cần có một cơ chế hiệu quả để dẫn vốn từ các nhà đầu tư mạo hiểm
đến các doanh nghiệp. Hình thức câu lạc bộ những nhà đầu tư đã xuất hiện từ rất

Trích đoạn Những hạn chế từ mơi trường chính sách và pháp lý: Những hạn chế từ phía các quỹ đầu tư mạo hiểm. Một số quỹ đầu tư mạo hiểm tiêu biểu tại Việt Nam 2.3.1)Mekong Capital: IDG Venture VietNam (IDGVV) Triển vọng và nhu cầu vốn cho hoạt động cơng nghệ cao tại Việt Nam:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status