LỜI MỞ ĐẦU
Đồng Nai thuộc khu vực miền Đông nam bộ và vùng KTTĐPN. Nằm ở
cửa ngõ phía Bắc đồng thời là một trung tâm công nghiệp và đô thị của vùng,
tỉnh có vị trí, vai trò rất quan trọng về phát triển kinh tế-xã hội, giao lưu
thương mại và an ninh quốc phòng của vùng KTTĐPN. Thời kỳ vừa qua, sự
nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh có những bước tiến mạnh mẽ, tạo
được bước ngoặt trong thực hiện CNH-HĐH nền kinh tế và đóng góp tích cực
vào quá trình phát triển chung của vùng và cả nước.
Điểm nổi bật trong quá trình phát triển kinh tế của tỉnh là sự hình thành
của các KCN. Đây là nhân tố có vai trò rất tích cực, góp phần quan trọng đưa
Đồng Nai từ một tỉnh nông nghiệp thành một tỉnh công nghiệp (tỷ trọng GDP
công nghiệp tăng từ 15,6% năm 1985 lên 57,7% năm 2007). Trong những
năm qua, các KCN Đồng Nai đã thu hút một lượng lớn các nhà đầu tư trong
và ngoài nước, đã tạo việc làm cho một lượng lớn lao động. Hàng năm, rất
nhiều lao động ở các tỉnh khác tìm đến các KCN Đồng Nai như một miền đất
hứa. Tuy nhiên, có một nghịch lý đã và đang diễn ra trong nhiều năm nay, đó
là hiện tượng thiếu lao động ở các KCN. Trong khi tình trạng thất nghiệp vẫn
còn tồn tại thì các doanh nghiệp công nghiệp Đồng Nai lại rất khó khăn trong
việc tìm kiếm lao động đáp ứng được nhu cầu của mình dù cho cơ cấu lao
động cần tuyển không quá phức tạp. Nhân sự có chất lượng đã khó kiếm,
nhưng ngay cả lao động phổ thông vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà cũng
rất khó tuyển. Điều này đã gây ra những khó khăn rất lớn cho các doanh
nghiệp, cản trở sự phát triển của ngành công nghiệp Đồng Nai. Mâu thuẫn
này cần phải được nhanh chóng giải quyết. Chính tính thời sự của vấn đề, sự
cấp thiết phải tìm ra các giải pháp đã đưa em đến quyết định chọn đề tài:
“Một số giải pháp nhằm thu hút và sử dụng lao động trong các KCN của tỉnh
Đồng Nai” làm đề tài nghiên cứu trong giai đoạn thực tập tốt nghiệp của
mình.
Cơ cấu của Chuyên đề thực tập tốt nghiệp này gồm 3 phần chính:
Chương 1: Vai trò của các KCN đối với phát triển kinh tế tỉnh Đồng Nai.
Chương 2: Phân tích thực trạng thu hút và sử dụng lao động trong các KCN
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp của tỉnh Đồng
Nai.
1.2.1. Các nhân tố vĩ mô.
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển của ngành công
nghiệp Đồng Nai. Tuy nhiên, các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến sự phát triển
của ngành công nghiệp Đồng Nai có thể được xem xét trên hai tác động chính
đó là tác động có tính 2 mặt (thuận lợi và khó khăn) của các nhân tố kinh tế
xã hội trong nước và những nhân tố tác động có tính hai chiều (thời cơ và
thách thức) của bối cảnh quốc tế đến phát triển công nghiệp của Đồng Nai
thời gian tới
1.2.1.1. Các nhân tố kinh tế-xã hội trong nước.
• Kinh tế
Nhân tố này thể hiện qua các yếu tố chính sau:
- Tăng trưởng kinh tế: Đây là một nhân tố rất quan trọng vì nó tác động trực
tiếp đến sức mua của xã hội, tạo điều kiện để các ngành có thể mở rộng quy
mô sản xuất. Trong kinh tế thì khi tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại, kéo
theo sức mua giảm sút, hàng hoá ế ẩm, không tiêu thụ được, nhiều mặt hàng
sẽ tồn kho…Điều này sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến mức tăng sản xuất
của các ngành trong những năm tiếp theo. Do vậy duy trì được mức tăng
trưởng kinh tế liên tục và ổn định là nhân tố quan trọng tạo điều kiện cho các
ngành sản xuất tiếp tục phát triển.
Giai đoạn 1991-1995 là thời kỳ nền kinh tế nước ta thực hiện đường lối
đổi mới, sau một thời gian tăng trưởng khá cao, bình quân trong giai đoạn
1991-1995 là 8,1%, của Đồng Nai là 13,9%, từ năm 1996-2000, đã xuất hiện
những dấu hiệu đáng lo ngại cho nền kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của
cả nước liên tục giảm xút do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền
tệ khu vực. Đồng Nai cũng nằm trong bối cảnh chung đó: từ năm 1996 đến
năm 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh giảm từ 17,1% xuống 10,4%;
các ngành kinh tế của Đồng Nai đều có mức tăng giảm dần trong các năm
này, trong đó công nghiệp có tốc độ tăng trưởng giảm sút mạnh từ 33,4% năm
và kích thích các ngành sản xuất phát triển và ngược lại. Xem xét hiệu quả
sản xuất kinh doanh của các ngành công nghiệp Đồng Nai trong năm 2003
cho thấy, chỉ số lợi nhuận/vốn kinh doanh của các ngành và của toàn ngành
công nghiệp đạt 6,1%, thấp hơn cả lãi xuất huy động vốn (7-8%). Với mức lãi
suất còn cao và biến động, đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc đầu tư phát triển
của các doanh nghiệp, đây cũng là một vấn đề ảnh hưởng đến phát triển của
ngành công nghiệp trong thời gian tới.
Sự thay đổi tỷ giá hối đoái cũng là yếu tố quan trọng trong môi trường
kinh tế, sự thay đổi tỷ giá hối đoái sẽ tác dụng trực tiếp đến hoạt động xuất
nhập khẩu, gây ảnh hưởng đến cán cân thanh toán. Thời gian qua, ngân hàng
Nhà nước đã thực hiện cơ chế điều hành tỷ giá mới, theo đó hàng ngày ngân
hàng Nhà nước công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ
liên ngân hàng của đồng Việt Nam so với đồng USD (thay cho việc công bố
tỷ giá chính thức trước đây). Bên cạnh đó hạ thấp tỷ lệ kết hối để tạo thế chủ
động hơn cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh…Những thay đổi này
làm cho tỷ giá ở Việt Nam được hình thành một cách khách quan hơn, phản
ánh đúng hơn cung cầu ngoại tệ trên thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế,
tạo điều kiện để hội nhập tốt hơn với cộng đồng quốc tế và khu vực. Đối với
Đồng Nai, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm khá lớn (khoảng 11,8 tỷ USD
năm 2007) do đó việc thay đổi tỷ giá hối đoái và tỷ lệ kết hối ảnh hưởng rất
lớn đến các doanh nghiệp.
Bên cạnh những yếu tố trên thì yếu tố lạm phát, giảm phát cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến thu nhập, việc làm và tiêu dùng của toàn xã hội. Điều
này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển sản xuất cũng như tiêu thụ
sản phẩm háng hoá, nó đi ngược lại với việc tăng trưởng kinh tế đó là tăng
nhu cầu và sức mua, thúc đẩy sản xuất phát triển. Như vậy, để khuyến khích
sản xuất phát triển, mức độ lạm phát cần phải gia tăng ở mức độ phù hợp và
trong khuôn khổ có thể chấp nhận được.
Một yếu tố hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường hiện nay đó
là xây dựng đồng bộ các loại hình thị trường, từ thị trường hàng hóa dịch vụ
được sửa đổi; luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật thương mại, luật
doanh nghiệp…ra đời đã đặt nền tảng pháp lý quan trọng cho các quan hệ dân
sự, kinh tế và kinh doanh, tạo nên khí thế mới trong sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, việc ban hành các chủ trương, chính sách, quy định của Nhà
nước còn thiếu đồng bộ, thiếu tính nhất quán, khiến cho các chủ trương, chính
sách mới đi và cuộc sống chậm. Bên cạnh đó hệ thống pháp luật ở Việt Nam
chưa đồng bộ, thiếu các văn bản hướng dẫn kịp thời và thường xuyên phải sửa
đổi do vậy thường gây nên những lúng túng khi thực hiện. Trong khi đó, các
quốc gia có quan hệ ngoại thương với Việt Nam lại có hệ thống luật pháp rất
hoàn chỉnh, chặt chẽ, cụ thể và phức tạp, nhất là Nhật Bản, Mỹ và khối EU.
Đây là những khó khăn không nhỏ đối với các doanh nghiệp Việt Nam khi gia
nhập các thị trường khu vực và thế giới.
Trong nhiều năm qua, ngành công nghiệp Đồng Nai nói chung và các
KCN Đồng Nai nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Đóng góp
vào những thành tựu đó là cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ”. Với quan điểm
“xem khó khăn của nhà đầu tư như khó khăn của chính mình”, Ban Quản lý
KCN đã chủ động, tích cực cải tiến phương thức, lề lối làm việc, tiến hành
đồng bộ các biện pháp, từ việc hình thành và hoạt động của bộ phận tiếp nhận
và trả kết quả cùng với việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn ISO và ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác chuyên môn đã
nâng cao hiệu quả giải quyết hồ sơ, tăng cường hiệu lực chỉ đạo điều hành, rút
ngắn thời gian so với quy định. Cụ thể như: thời gian cấp giấy phép xuất nhập
khẩu từ 15 ngày theo quy định của Bộ Thương mại được rút ngắn còn trung
bình 3 ngày, trong đó 70% số giấy phép được cấp trong 1 ngày, 27% trong 2
ngày; cấp giấy phép đầu tư từ 15 ngày theo quy định, 2/3 hồ sơ được rút ngắn
còn 7 ngày, 50% được giải quyết từ 3 - 5 ngày; cấp chứng chỉ C/O Form
Đồng Nai trong 2 giờ…Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn bộc lộ
một số khó khăn vướng mắc đang được xem xét, nghiên cứu và tìm biện pháp
khắc phục.
• Điều kiện tự nhiên, xã hội.
học, mật độ sử dụng các phương tiện chuyển chở, đi lại cao…nên nảy sinh
nhiều vấn đề xã hội phức tạp như môi trường, nhà ở công nhân và một số tệ
nạn khác.
1.2.1.2. Các nhân tố bối cảnh khu vực và quốc tế.
Xu hướng toàn cầu hóa, quốc tế hoá nền kinh tế thế giới đã làm cho các
nước xích lại gần nhau hơn. Với đường lối đối ngoại rộng mở, tập trung các
nguồn lực trong nước phát triển kinh tế, hiện nay Việt Nam đã có quan hệ với
hơn 160 quốc gia về ngoại giao, với trên 100 quốc gia về quan hệ buôn bán.
Cùng với xu hướng toàn cầu hoá, tiến trình khu vực hoá ngày càng diễn ra sâu
rộng hơn, chúng ta đã tham gia nhiều tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế :
AFTA, APEC, WTO. Gia nhập vào các tổ chức này, một mặt tạo ra nhiều cơ
hội thuân lợi để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, mở rộng thị trường,
mặt khác cũng đặt nước ta vào những thách thức không nhỏ do xuất phát
điểm của nền kinh tế còn rất thấp, tính cạnh tranh yếu, kinh nghiệm trong
thương trường quốc tế còn nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó, với trình độ công nghệ lạc hậu so với khu vực và quốc tế,
nhưng là nước đi sau nên ngành công nghiệp có thể vận dụng được nhiều
thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến của các nước phát triển đi trước, có
thể mua được công nghệ với giá rẻ hơn, chi phí chuyển giao thấp hơn từ các
nước công nghệ tiên tiến. Trên thực tế, thông qua việc thu hút FDI, Việt Nam
đã phần nào tranh thủ đổi mới và tiếp thu được công nghệ tiên tiến trong các
xí nghiệp liên doanh với nước ngoài, đặc biệt ở một số lĩnh vực như dầu khí,
hóa chất, vật liệu xây dựng, điện tử và viễn thông.
Từ phân tích trên cho thấy bối cảnh quốc tế hiện nay sẽ tác động trực
tiếp đến sự phát triển của ngành công nghiệp Đồng Nai. Với kim ngạch xuất
nhập khẩu trên 5 tỷ USD hàng năm, kim ngạch xuất khẩu chiếm trên 50%
doanh thu sản xuất công nghiệp toàn ngành, do đó những tác động về bối
cảnh quốc tế đối với kinh tế nước ta sẽ có tác động trực tiếp và ảnh hưởng to
lớn đến sự phát triển của ngành công nghiệp Đồng Nai trong thời gian tới.
1.2.2. Các nhân tố vi mô.
1.3. Tổng quan về tình hình kinh tế-xã hội của tỉnh Đồng Nai trong thời
gian qua.
1.3.1. Tốc độ tăng trưởng và quy mô của nền kinh tế.
Trong thời gian qua nền kinh tế của tỉnh có tốc độ tăng trưởng khá
nhanh. Thời kỳ 1996-2005 tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,4% cao gấp
1,5 lần mức bình quân (8,2%) của thời kỳ 1986-2005.
Giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 12,8% cao
gấp 1,14 lần mức tăng bình quân chung (11,2%) của vùng KTTĐPN và gấp
1,7 lần mức tăng bình quân (7,5%) của cả nước. (Xem hình 1.1)
Hình 1.1- TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP BÌNH QUÂN GIAI ĐOẠN 2001-2005
(Nguồn: Cục thống kê Đồng Nai)
ĐVT: %
12.8
11.2
7.5
0
2
4
6
8
10
12
14
Đồng Nai Vùng KT
TĐPN
Cả nước
Tốc độ tăng trưởng GDP
bình quân
Từ 1995 đến nay (2007), qui mô GDP của nền kinh tế tính theo giá so
1.3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế có tốc độ chuyển dịch khá nhanh và đạt được bước tiến
quan trọng theo hướng CNH. Thời kỳ 1996-2005, tốc độ tăng trưởng của khu
vực công nghiệp đạt bình quân 17,6%; nông nghiệp 4,3%; dịch vụ 10,3%.
Riêng trong giai đoạn 2001-2005, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp đạt
16%; nông nghiệp 4,6%; dịch vụ 12,1%.
Năm 2007, tỷ trọng các ngành trong cơ cấu GDP: công nghiệp-xây
dựng 57,7%; dịch vụ 30,2%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 12,1%. Như
vậy, sau 12 năm (1995-2007) tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăng lên
được 19,7% trong cơ cấu GDP, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp giảm từ
31,8% (1995) xuống 12,1%. Tỷ trọng công nghiệp-xây dựng đã chiếm trên 50
% tổng giá trị sản phẩm theo đúng định hướng phát triển của một tỉnh công
nghiệp. Điều này được thể hiện qua 2 biểu đồ sau:
Hình 1.2-Cơ cấu GDP
năm 1995
38.7
31.8
29.5
Hình 1.3-Cơ cấu GDP năm 2007
57.7
30.2
12.1
Công nghiệp Dịch vụ Nông nghiệp
(Nguồn: UBND tỉnh Đồng Nai)
Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế chuyển dịch nhanh đối với khu
vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài do được đẩy mạnh thu hút đầu tư. Từ
1996 đến nay, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng
trưởng cao, giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 20,7%; khu vực kinh tế trong
nước trên địa bàn tăng trưởng chậm hơn, giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân
DN TW: doanh nghiệp trung ương.
DN ĐP: doanh nghiệp địa phương.
DN có VĐT NN: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là cà phê, cao su, hạt điều nhân, mật
ong, giày dép, hàng mộc tinh chế, gốm thủ công mỹ nghệ, hàng may mặc; thị
trường xuất khẩu chủ yếu tập trung ở một số nước Châu Á, Châu Âu và Hoa
Kỳ. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là hạt điều thô, phân bón, hoá chất công
nghiệp, máy móc thiết bị cho sản xuất, nguyên phụ liệu phục vụ cho sản xuất.
1.3.4. Thu chi ngân sách.
Tổng thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch, tốc độ tăng thu
bình quân trong thời kỳ 1996-2005 đạt 21,6%/năm, trong đó giai đoạn
2001-2005 đạt 22,5%/năm (cả nước tăng 18,3%/năm). Tổng thu ngân sách cả
giai đoạn 2001-2005 là 26.808 tỷ đồng. Năm 2007, Tổng thu ngân sách đạt
9.917,555 tỷ đồng, đạt 100,1% kế hoạch, tăng 10,4% so với năm 2006.
Bảng 1.4- THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN ĐỒNG NAI NĂM 2007
(Nguồn: UBND tỉnh Đồng Nai)
2007
(Tỷ đồng)
So sánh (%)
2007/kế hoạch 2007/2006
Tổng thu ngân sách 9.917,555 100,1 110,4
- Thu nội địa 6.193,304 97,7 112,8
- Thu từ hoạt động Xuất nhập khẩu 3.380,051 105 110,1
- Thu từ xổ số kiến thiết 344,2 100 81,8
Chi Ngân sách hàng năm tăng bình quân 18,6% trong cả thời kỳ
1996-2005, đạt 65.493 tỷ đồng; giai đoạn 2001-2005 mức chi ngân sách hàng
năm tăng bình quân 19,4%. Thu ngân sách hàng năm tăng đều và nhanh tạo
điều kiện để chi phát triển kinh tế-xã hội, trong đó: chi đầu tư xây dựng cơ
bản và chi sự nghiệp giáo dục-y tế-văn hoá-xã hội tăng bình quân 30,2% và
20,5% trong giai đoạn 2001-2005. Năm 2007, tổng chi ngân sách địa phương
63.538,6 103,3 122,4
- Quốc doanh trung ương 7.718,6 103,2 114,1
- Quốc doanh địa phương 2.956,6 108,3 113,3
- Khu vực ngoài quốc doanh 8.032,6 104 121,7
- Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 44.830,7 109 124,8
Phát huy được tiềm năng thế mạnh, sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát
triển nhanh và vững chắc, góp phần tích cực cải thiện đời sống nông dân. Từ
năm 1996 đến nay, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng bình
quân 5,9%/năm; giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha đất thuần nông nghiệp
tăng bình quân 5,7%/năm.
Năm 2007, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt
6.629,3 tỷ đồng (giá 94), đạt 99,5% kế hoạch, tăng 5,4% so với thực hiện năm
2006.
Bảng 1.7- SẢN XUẤT NÔNG, LÂM, THUỶ SẢN CỦA ĐỒNG NAI NĂM 2007
(Nguồn: UBND tỉnh Đồng Nai)
2007
(Tỷ đồng)
So sánh (%)
2007/kế hoạch 2007/2006
Cơ cấu
Giá trị sản xuất NLTS (giá 94) 6.629,3 99,5 105,4 100
- Giá trị sản xuất nông nghiệp 6.133,3 99,9 105,3 92,5
- Giá trị sản xuất lâm nghiệp 69,7 105,8 106,9 1,1
- Giá trị sản xuất thuỷ sản 426,3 92,6 105,4 6,4
Khu vực dịch vụ có tốc độ phát triển ngày càng tăng, giai đoạn
2001-2005 tốc độ tăng trưởng giá trị sản phẩm dịch vụ gấp 1,5 lần so với giai
đoạn 1996-2000. Trong vòng 10 năm (1996-2005) khu vực dịch vụ đã tạo
thêm được 115,1 nghìn chỗ làm mới, cùng với công nghiệp đẩy nhanh tốc độ
chuyển dịch cơ cấu lao động. Từ 1995 đến nay, tổng mức bán lẻ hàng hoá và
dịch vụ hàng năm tăng lên gấp 5,9 lần với nhịp tăng bình quân 19,3%. Năm
1.3.7. Phát triển các lĩnh vực xã hội.
Sự nghiệp phát triển văn hoá-xã hội đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Mức sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, trong vòng 10 năm (1996-2005)
thu nhập bình quân đầu người/tháng đã tăng lên gấp 3,2 lần, đặc biệt với
nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất chiếm 20% dân số có thu nhập bình quân
đầu người/tháng tăng lên gấp 3,4 lần.
Nhiều chủ trương, chính sách và chương trình quốc gia về lĩnh vực văn
hóa xã hội được thực hiện tốt, một số chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra: tỉnh
được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học năm 1998,
hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2004; đến cuối năm 2007:
tỷ lệ huy động học sinh ra lớp ở các cấp đạt cao (từ 90% trở lên); tỷ lệ xã,
phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập bậc Trung học đạt 56,7% (mục tiêu là
56%); Tỷ lệ xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế đến cuối năm 2007 đạt
70%; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng mở rộng đạt 98%; trạm y tế
có bác sĩ phục vụ ổn định đạt 55%; hạ tỷ lệ hộ nghèo còn 6,83% (theo chuẩn
mực của tỉnh), vượt mục tiêu Nghị Quyết (mục tiêu: 7,5%);…
1.3.8. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng, nâng cấp, mở rộng
ngày càng nhiều. Đến cuối năm 2005, toàn tỉnh có 1.592,3 km đường bê tông
nhựa và láng nhựa; 80,5 km đường bê tông xi măng; 2.121,3 km đường cấp
phối sỏi đỏ; 2.287,3 km đường đất; 121,3 km đường cấp phối đá. Nâng cấp và
mở rộng mạng lưới điện phủ kín toàn tỉnh đến 100% số xã, cuối năm 2007 tỷ
lệ hộ dùng điện đạt 97%, số máy điện thoại đạt 55,1 máy/100 dân, thuê bao
internet đạt 9,66 máy/100 dân…Tiến hành xây dựng một số khu dân cư gắn
liền với các KCN, xây dựng cơ sở hạ tầng các KCN tập trung. Đầu tư xây
dựng, sắp xếp một số chợ; hiện nay có 6 siêu thị đang hoạt động trên địa bàn
tỉnh đáp ứng nhu cầu mua sắm của nhân dân. Ngoài ra đã chú trọng đầu tư
chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp Nhà nước, tăng năng lực sản xuất của các ngành kinh tế.
1.3.9. Đầu tư phát triển.
cho thuê hết đất như: KCN Biên Hòa II, Loteco, KCN Nhơn Trạch III (giai
đoạn 1), KCN Biên Hòa I, KCN Tam Phước, KCN Định Quán. Tổng số vốn
đầu tư hạ tầng lũy kế là 247,9 triệu USD. Sau đây là danh sách các khu công
nghiệp đã được phê duyệt:
1. KCN Biên Hòa 1.
2. KCN Biên Hòa 2
3. KCN Gò Dầu.
4. KCN Amata.
5. KCN Loteco.
6. KCN Hố Nai.
7. KCN Sông Mây.
8. KCN Nhơn Trạch 1.
9. KCN Nhơn Trạch 2.
10. KCN Nhơn Trạch 3.
11. KCN Nhơn Trạch 5.
12. KCN Dệt may.
13. KCN Nhơn Trạch 6.
14. KCN Tam Phước.
15. KCN An Phước.
16. KCN Long Thành.
17. KCN Định Quán.
18. KCN Nhơn Trạch II - Nhơn Phú.
19. KCN Nhơn trạch II - Lộc Khang.
20. KCN Thạnh Phú.
21. KCN Xuân Lộc.
22. KCN Bàu Xéo.
23. KCN Tân Phú.
24. KCN Agtex Long Bình.
1.5. Vai trò của các KCN đối với phát triển kinh tế tỉnh Đồng Nai.
1.5.1. Vai trò của các KCN ở Đồng Nai.
Tính chung, tại 24 KCN của tỉnh Đồng Nai đã tiếp nhận 961 dự án đầu tư, với
tổng số vốn đầu tư đăng ký là 10.423,95 triệu USD. Trong đó 231 dự án trong
nước với vốn đăng ký tương đương 842,74 triệu USD; 44 dự án liên doanh
với vốn đầu tư đăng ký 805,3 triệu USD; 686 dự án 100% vốn nước ngoài với
vốn đầu tư đăng ký 8.775,91 triệu USD. Hiện có 688 dự án đang triển khai
hoạt động với vốn đăng ký 8.381 triệu USD chiếm tỷ lệ 80,4% so với tổng
vốn đăng ký; 66 dự án đang xây dựng với vốn đầu tư đăng ký 458 triệu USD;
chiếm 4,39% tổng vốn đầu tư đăng ký ; 207 dự án chưa triển khai xây dựng
với số vốn đăng ký 1.574,95 triệu USD; chiếm 15,21% tổng vốn đăng ký.
1.5.1.2. Đóng góp quan trọng vào mức tăng trưởng kinh tế cao của tỉnh
Đồng Nai trong thời gian qua.
Trong giai đoạn 1991 - 2000, Đồng Nai vẫn liên tục giữ được tốc độ
phát triển kinh tế bình quân 12,9% năm. Đến giai đoạn 2001 - 2007, tốc độ
tăng trưởng kinh tế (GDP) luôn đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội tỉnh
Đảng bộ đề ra: năm 2001 tăng 11,2%, năm 2002 tăng 12,2%, năm 2003 tăng
12,9%, năm 2004 tăng 13,56%, năm 2005 tăng 14%, năm 2006 tăng 14% và
năm 2007 tăng 15,1%. Trong giai đoạn 2001-2005, công nghiệp duy trì được
tốc độ phát triển nhanh với giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân
18,7%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 tăng 22,4% so với thực
hiện năm 2006.
Đạt được thành tựu phát triển như trên là nhờ có đóng góp rất to lớn
của các KCN. Trong các năm qua, các doanh nghiệp KCN đã tạo ra sản lượng
hàng hóa xuất khẩu rất lớn và đóng góp nguồn thu đáng kể cho tỉnh. Tổng
doanh thu hàng hóa của các doanh nghiệp KCN hàng năm tăng đều đặn: năm
2001 đạt trên 2 tỷ USD đến năm 2005 đạt 4,2 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu
từ năm 1998 đã đạt trên 1 tỷ USD và đến năm 2005 đã vượt lên đạt gần 2 tỷ
USD. Năm 2006, kim ngạch xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp KCN đã
đạt hơn 5 tỷ USD; doanh thu đạt hơn 4,4 tỷ USD, đóng góp vào ngân sách
nhà nước khoảng 135 triệu USD.
1.5.1.3. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đồng Nai theo hướng