đảng bộ tỉnh phú thọ lãnh đạo bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa hát xoan từ 2000 2011 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


TRẦN THU HẰNG

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO BẢO TỒN,
PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA HÁT XOAN
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2011

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


TRẦN THU HẰNG

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO BẢO TỒN,
PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA HÁT XOAN
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2011

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam
Mã số:

60 22 56

2.1.2. Yêu cầu khách quan cần đẩy mạnh bảo tồn, phát huy giá trị di
sản văn hóa hát Xoan trong điều kiện mới .......................................... 35
2.2. Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn
hóa hát Xoan từ năm 2006 đến năm 2011 ........................................... 39
2.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh ............................................................ 39
2.2.2. Quá trình chỉ đạo thực hiện ............................................................... 42
Chƣơng 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ......................................... 56


3.1. Nhận xét ....................................................................................................... 56
3.1.1. Kết quả............................................................................................... 56
3.1.2. Hạn chế .............................................................................................. 66
3.2. Một số kinh nghiệm ..................................................................................... 69
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 79
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 84


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

DSVHDG

: Di sản văn hóa dân gian

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phú Thọ là vùng đất cổ có bề dày truyền thống lịch sử và văn hiến . Trải
qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước, giữ nước, vùng đất ấy, con người ấ y
đã sản sinh ra mô ̣t nề n văn hóa dân gian vô cùng phong phú như: Văn ho ̣c dân
gian (Ca dao, tục ngữ); Phong tu ̣c, tâ ̣p quán , tín ngưỡng (Tục kết nghĩa , hô ̣i
làng, tín ngưỡng thờ thần , tín ngưỡng phồn thực ); Âm nha ̣c dân gian (hát Ví,
hát Đúm, hát Xoan , hát Xẩm… ), thể loa ̣i nào cũng đâ ̣m đà bản sắ c dân tô ̣c ,
giàu màu sắc địa phương và có giá trị to lớn trong đời sống con người đất Tổ .
Cho đế n nay, trải qua những thăng trầm của lịch sử , với những biế n đổ i
của cuộc sống nhưng các giá trị văn hóa đó không mất đi mà vẫn bả

o lưu

đươ ̣c nhiề u yế u tố nguyên sơ, cổ truyề n, góp phần làm giàu thêm bản sắc vă n
hóa của dân tộc Việt Nam.
Với xu hướng hô ̣i nhâ ̣p hiê ̣n nay, Đảng và Nhà nước chủ trương mở
rô ̣ng quan hê ̣ mo ̣i mă ̣t với tấ t cả các nước trên thế giới , đă ̣c biê ̣t là các nước
trong khu vực . Trong đó , giao lưu, tiế p thu, học hỏi những tinh hoa văn hóa
của nhân loại là cần thiết. Quá trình giao lưu đó sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho sự
giao lưu tiế p biế n văn hóa , song mă ̣t khác cũng đă ̣t ra những thách thức cho
viê ̣c bảo tồ n , phát huy bản sắc văn hóa tốt đe ̣p của dân tô ̣c, nhấ t là những giá
trị văn hóa phi vật thể trong sự phát triển của đất nước.
Để tâ ̣n du ̣ng đươ ̣c những thuâ ̣n lơ ̣i , vươ ̣t qua đươ ̣c những thách thức ,
vấ n đề đă ̣t ra là phải có đươ ̣c đinh
̣ hướng và giải pháp n hằ m tăng cường mố i
tương thić h giữa bảo tồ n và phát triể n di sản văn hóa dân tô ̣c với phát triể n
kinh tế - xã hội. Có thể nói, đây không chỉ là nhiê ̣m vu ̣ cu ̣ thể mà cũng là đinh
̣
hướng, giải pháp trong việc nghiên cứu , xây dựng và phát triể n đời số ng văn


nghiên cứu đề tài: “Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị
di sản văn h óa hát Xoan Phú Thọ từ năm 2000 đến năm 2011”, với mong
muố n góp phầ n tìm hiể u , nghiên cứu mô ̣t số vấ n đề về văn hoá của tỉnh Phú
Thọ, đă ̣c biê ̣t nghiên cứu đường lố i của Đảng Cô ̣ng sản Viê ̣t Nam trong thời
kỳ đổi mới được Đảng bô ̣ Phú Tho ̣ quán triê ̣t vâ ̣n du ̣ng trên liñ h vực văn hóa.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hát Xoan là một trong những loại hình nghệ thuật truyền thống địa
phương với nhiề u làn điê ̣u khác nhau , đươ ̣c diễn xướng bở i các yế u tố nghê ̣

2


thuâ ̣t dân gian tổ ng hơ ̣p : Ca, múa, nhạc, sân khấ u . Trước Cách ma ̣ng Tháng
Tám năm 1945, hát Xoan tồn tại nhưng không được giai cấp phong kiến và
thực dân Pháp chú tro ̣ng nghiên cứu để bảo tồ n và phát triể n . Sau cách ma ̣ng,
đă ̣c biê ̣t là từ sau năm 1954 trở la ̣i đây , hát Xoan đã thu hút được nhiều nhà
nghiên cứu và trở thành đề tài hấ p dẫn với nhiề u tổ chức

, cá nhân trong và

ngoài tỉnh nhằm khôi phục, bảo tồn và phát huy những giá trị của dân ca Xoan.
Do tầ m quan tro ̣ng của vấ n đề , trong thời gian qua , có các công trình
nghiên cứu của cá nhân và tâ ̣p thể các nhà nghiên cứu âm nhạc, nhà khoa ho ̣c
liên quan đế n vấ n đề này, cụ thể như sau:
Nhạc sỹ Nguyễn Đ ăng Hòe (1958) đã cho in rônêô tài liê ̣u về “

Hát

Ghẹo”. Nhạc sỹ Tú Ngọc (1958) đã có công triǹ h nghiên cứu “ Hát Xoan, dân

Ghẹo với phương hướng bảo tồn và phát triển các loại hình văn hóa này.
Sau sự kiê ̣n trên , năm 2008, Hô ̣i Văn nghê ̣ dân gian đã giới thiê ̣u cuố n
sách “ Hát Xoan ở Phú Thọ”

do hô ̣i viên Nguyễn Khắ c Xương sưu tầ m

,

nghiên cứu, biên soa ̣n nhằm thiế t thực góp phầ n bảo tồ n , phát huy giá trị văn
hóa của di sản hát Xoan cổ hiện còn được lưu tại xã Kim Đức và làng An Thái
xã Phượng Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Tho ̣.
Những công trình nghiên cứu trên tuy ở nhiề u góc đô ̣ khác nhau , song
nói chung đều khái quát được nguồn gốc , đă ̣c điể m và những giá tri ̣của dân
ca Xoan. Đó là nguồ n tài liê ̣u quí báu gơ ̣i mở , giúp tác giả hiểu t hêm để kế
thừa, tìm được hướng giải quyết nhiệm vụ của luận văn đặt ra . Tuy nhiên, cho
đến nay chưa có công trình khoa học nào tập trung nghiên cứu về

: Đảng bộ

tỉnh Phú Thọ lãnh đạo bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Hát Xoan Phú
Thọ từ năm 2000 đến năm 2011.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cƣ́u
3.1 Mục đích
Đề tài tâ ̣p trung làm sáng tỏ quan điể m

, đường lố i , các chủ truơ ng,

Nghị quyết của Đảng bô ̣ Phú Tho ̣ và quá triǹ h tổ chức, chỉ đạo thực hiện công
tác bảo tồn, phát huy giá trị dân ca Xoan đất Tổ từ năm 2000 đến năm 2011.
Từ đó , rút ra các đánh giá , kinh nghiê ̣m trong quá trình bảo tồ n di sản văn

5. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cƣ́u và nguồn tƣ liệu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luâ ̣n chung của chủ nghiã Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về di sản văn hóa và công tác bảo
tồ n, phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vâ ̣t thể.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic được sử dụng chủ yếu trong
luận văn. Ngoài ra, trong luận văn còn sử du ̣ng các phương pháp phân tích, so
sánh, tổ ng hơ ̣p, thố ng kê, khai thác tài liê ̣u, xử lý thông tin…

5


5.3. Nguồn tư liệu
- Luận văn sử dụng nguồn tư liệu được khai thác từ các cơ quan lưu
trữ, văn kiện, thống kê, bao gồm các Nghị quyết, Chỉ thị, Thông báo của tổ
chức Đảng ở Trung ương và địa phương, số liệu thống kê, điều tra;
- Tài liệu được khai thác từ các công trình nghiên cứu liên quan (báo,
tạp chí, đề tài khoa học, chuyên khảo);
- Ngoài ra nguồn tư liệu được khai thác từ các nhân chứng lịch sử, qua
khảo sát điền dã.
6. Đóng góp của luâ ̣n văn
- Góp phần bổ sung thêm những tư liê ̣u mới về hát Xoan và

khẳng

định giá trị của hát Xoan trong kho tàng văn hóa phi vật thể của dân tộc và
nhân loại;
- Góp phần làm rõ thêm vấ n đề đang nghiên cứu trên hai phương diê ̣n :

phía Bắc giáp Tuyên Quang. Với vị trí “ngã ba sông”, Việt Trì là cửa ngõ của
thủ đô Hà Nội. Phú Thọ nằm ở trung tâm hệ thống giao thông đường bộ,
đường sắt, đường sông từ các tỉnh thuộc Tây Bắc, Đông Bắc đi Hà Nội, là cầu
nối kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với
các tỉnh miền núi Tây Bắc.
Cách đây vài nghìn năm, Phú Thọ thuộc trung tâm của nước Văn Lang
cổ đại thời các vua Hùng dựng nước. Trong quá trình thăng trầm của lịch sử,
tên gọi và địa giới thay đổi nhiều lần. Đến ngày 6/11/1996, Quốc hội khóa IX,
kỳ họp thứ X đã thông qua Nghị quyết về “Việc chia và điều chỉnh địa giới
hành chính một số tỉnh”, trong đó có tái lập tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Từ
ngày 1/1/1997, tỉnh Phú Thọ chính thức đi vào hoạt động độc lập. Hiện nay,
tỉnh Phú Thọ có 3.533,4 km2 diện tích tự nhiên và 1.313.926 nhân khẩu; gồm
13 huyện, thành, thị (thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, 11 huyện: Thanh
sơn, Tân Sơn, Yên lập, Cẩm Khê, Thanh Thủy, Tam Nông, Hạ Hòa, Thanh
Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh) và 277 đơn vị hành chính cấp xã.
Là tỉnh miền núi phía Bắc nhưng địa hình Phú Thọ vừa có tính chất
miền núi, trung du vừa có tính chất đồng bằng. Sự đa dạng về địa giới đã tạo

7


cho vùng đất này một cảnh quan địa mạo đa dạng, là nơi hội tụ nhiều cảnh
quan thiên nhiên phong phú, hấp dẫn, nhiều danh lam thắng cảnh có giá trị
như: Suối Tiên, rừng nguyên sinh Xuân Sơn, khu nước khoáng Thanh Thủy…
Không chỉ vậy, Phú Thọ còn là vùng đất cổ, là nơi nổi tiếng có nhiều di tích
lịch sử văn hóa đặc sắc từ thời đại Hùng Vương. Ở vùng đất này có nhiều tên
làng, tên núi, tên sông đã đi vào lịch sử. Ven theo các con sông Thao, sông
Đà, sông Lô, có thể nhận thấy các loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian, các
sản phẩm và tác phẩm văn hóa dân gian bảo lưu được rất nhiều giá trị cổ xưa.
Từng tấc đất đều in bóng dáng cha ông, mỗi bước đi là một bước gặp di tích

sống nhân dân, toàn tỉnh đã ra sức phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bước
đầu đạt được những kết quả quan trọng.
Về kinh tế: Phú Thọ có nhiều tiềm năng phát triển công nghiệp chế
biến nông - lâm sản. Khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây
dựng, công nghiệp dệt, may vì nơi đây có nguồn nguyên liệu, lực lượng lao
động tại chỗ. Phú Thọ đã xây dựng được một số khu công nghiệp, cụm công
nghiệp và đầu tư với tốc độ nhanh, có sự phát triển tổng hợp của các ngành
kinh tế công nghiệp - nông lâm nghiệp.
Về xã hội: Mặc dù trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng
tình hình giáo dục, y tế của tỉnh đã đạt được những kết quả nhất định. Công
tác giáo dục được duy trì về số lượng và chú trọng về chất lượng. Điểm nổi
bật trong giáo dục của tỉnh là sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và
xã hội; tình hình xã hội hóa giáo dục ngày càng phát triển.
Về văn hóa: Các hoạt động văn hóa của tỉnh cũng được triển khai tích
cực. Thực hiện nếp sống mới theo tinh thần Chỉ thị 211, Chỉ thị 54 Ban Bí thư
của Trung ương Đảng “Về việc tăng cường vận động thực hiện nếp sống mới,
bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, xóa bỏ tệ nạn xã hội, quyét sạch văn hóa phản
động, đồi trụy”. Đến năm 1985, hầu hết các đơn vị xã, phường trong toàn tỉnh
đã xây dựng được quy ước thực hiện nếp sống văn hóa với việc cưới, tang, bài

9


trừ mê tín dị đoan. Trên 70% số gia đình trong toàn tỉnh được cấp giấy chứng
nhận đạt tiêu chuẩn “Gia đình văn hóa”. Phong trào văn nghệ quần chúng tiếp
tục được phát động trong cơ quan, xí nghiệp và địa phương. Hệ thống câu lạc
bộ, nhà văn hóa, hoạt động triển lãm được tổ chức, đáp ứng nhu cầu hưởng
thụ văn hóa của nhân dân. Hệ thống đài phát thanh và truyền thanh được mở
rộng tới từng địa phương trong toàn tỉnh, các thông tin, tuyên truyền được
phát triển mở rộng.

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả chỉ tập trung giới thiệu những
nét khái quát nhất một số loại hình di sản văn hóa dân gian vùng đất Tổ còn
hiện hữu trong đời sống văn hóa của nhân dân Phú Thọ hôm nay.
Các di chỉ cổ vật
Phú Thọ là trung tâm Nhà nước Văn Lang của người Việt cổ, nơi đây
xưa kia từng là điểm hội tụ, tiếp xúc, giao lưu văn hóa với vùng lục địa phía
Bắc, vùng biển phía Đông, vùng Thanh Hóa, Nghệ An, vùng biển Trung Bộ.
Tính thống nhất của nhà nước Văn Lang được thể hiện trong các di tích khảo
cổ. Có thể khẳng định ở Phú Thọ có số lượng di chỉ, cổ vật dày đặc. Với sự
phát triển của khoa học lịch sử, đặc biệt ngành khảo cổ học, chúng ta từng
bước làm sáng tỏ sự ra đời và phát triển của người Việt cổ. Những chứng tích
thám sát ở Thu Cúc (Thanh Sơn), Sơn Vi (Lâm Thao)… đã từng bước cho
xuất lộ những tầng văn hóa thời kỳ đồ đá, tương ứng với thời kỳ con người
nguyên thủy sinh sống trên những vùng đất này. Sau Văn hóa Sơn Vi, ngành
khảo cổ đã từng bước phát hiện Văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun
với những di tích nổi bật như: Làng Cả, Gò De… Đặc biệt, qua những đợt
khai quật, các cổ vật được tìm thấy rất phong phú như: Các đồ trang sức bằng
gốm, đá, xương, sừng, nhất là những chế tác bằng đồng đã phản ánh bức tranh
đời sống con người có sự biến chuyển từ đồ đá, gốm sang đồ đồng và đồ sắt.
Việc phát hiện ra các di chỉ cổ vật đã giúp các nhà nghiên cứu lịch sử Việt
Nam giải đáp được một cách chính xác niên đại lịch sử Việt Nam từ thời
Hùng Vương cách ngày nay khoảng trên 2000 năm. Điều này không chỉ có ý
nghĩa với Việt Nam mà những hiện vật trên còn là tài sản ghi nhận bước tiến

11


hóa chung của con người khu vực ở Đông Nam Á, khẳng định một điều có ý
nghĩa quan trọng: Việt Nam là một trong những quê hương của người nguyên
thủy và Phú Thọ là nơi xây dựng nên nhà nước đầu tiên của dân tộc Việt

ghềnh… biểu tượng của các thần nước có khi là rắn, là rồng, là thuồng
luồng… Cho dù các thần thánh trong những câu truyện đó là gì đi chăng nữa,
thì nội dung của các câu truyện đều không đề cập tới cái siêu hình, cái hư vô,
huyền bí mà các nhân vật, thần linh đều tham gia vào các công việc của đất
nước như đánh giặc bảo vệ đất nước, đối phó với thiên nhiên.
Ngoài ra, Phú Thọ còn là nơi hội tụ của nhiều loại hình tự sự dân gian
với sự đa dạng về nội dung và đậm chất địa phương, thể hiện được sắc thái,
đặc điểm cảnh quan, sinh hoạt của vùng trung du Bắc Bộ như: Truyện cổ tích,
truyện làng, truyện kể thế sự, truyện cười… Các câu truyện này đều toát lên
được ước mơ, ý nghĩa tình cảm của tổ tiên ta ngày trước, phản ánh được
những truyền thống dân tộc “Có giá trị lịch sử ở bên trong các vẻ hoang
đường”.
Tục ngữ, ca dao Phú Thọ
Tục ngữ, ca dao Phú Thọ cũng mang sắc thái địa phương rõ rệt. Đa số
tục ngữ thơ ca Phú Thọ thường nói về con người, về đặc điểm địa lý, đề cập
đến cảnh sắc thiên nhiên, vẻ đẹp độc đáo của phong cảnh đất tổ Hùng Vương.
Điểm nổi bật trong ca dao, tục ngữ Phú Thọ là sự phản ánh tâm hồn, tính cách
người dân nơi đây thật hồn hậu, đằm thắm và lạc quan yêu đời.
Những làn điệu dân ca Phú Thọ
Bên cạnh dòng chảy của ca dao nói trên, Phú Thọ còn nổi tiếng với sự
mượt mà, ngọt ngào của các làn điệu dân ca, sản phẩm tinh thần phong phú
của con người đất Tổ.
Trong vốn dân ca Phú Thọ thì hát Xoan, hát Ghẹo là hai làn điệu dân ca
mang nét độc đáo và tiêu biểu nhất cho âm nhạc dân gian vùng đất Tổ. Hát
Xoan là hình thức ca hát có tính chất tôn giáo và phong tục, thường gắn với hội
mùa, thờ thành hoàng. Hát Ghẹo là hình thức hát đối đáp giao duyên của nam,

13





lưu truyền từ thời Hùng Vương dựng nước thông qua hoạt động trò diễn thể
hiện những nghi lễ, các tín ngưỡng cổ truyền được phản ánh trong nội dung
các lễ hội mang đậm yếu tố dân gian, bản sắc của vùng đất cội nguồn. Đó là
các tục lệ cướp cầu, đánh phết ở Sơn Vi, Hiền Quan, trò diễn cướp kén ở lễ
hội làng Hương Nha, kéo lửa thổi cơm thi ở làng Đào Xá…
Có thể nói, các lễ hội truyền thống vùng đất Tổ là một hình thức ghi chép,
phản ánh trung thực lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và quê
hương Phú Thọ nói riêng. Vai trò và ảnh hưởng của lễ hội trong đời sống văn
hóa cộng đồng cư dân trên địa bàn Phú Thọ là rất to lớn và có những tác dụng
tích cực trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc.
Tóm lại, văn hóa dân gian có những điểm riêng, một vị trí nhất định,
một vai trò quan trọng trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam. Chúng ta
có trách nhiệm trong công cuộc sưu tầm, gìn giữ và phát huy vốn quý dân tộc
mà ông cha tích lũy qua bao đời truyền lại. Đó cũng là để đáp ứng những yêu
cầu xây dựng và phát triển một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
như Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 5 khóa
VIII đã chỉ rõ.
1.1.2. Vài nét khái quát về hát Xoan và khái niệm về di sản văn hóa,
bảo tồn, phát huy di sản văn hóa
a. Khái quát về hát Xoan
Hát Xoan là một di sản văn hóa phi vật thể quý giá của vùng đất Tổ
Vua Hùng. Hát Xoan là lối hát cửa đình, được hát vào mùa Xuân hàng năm.
Để tìm hiểu kỹ về loại hình dân ca đặc sắc này trước tiên chúng ta phải tìm
hiểu lịch sử hình thành dân ca Xoan vùng đất Tổ.
Hát Xoan lúc đầu có tên gọi là hát Xuân, do Xuân là tên húy nên gọi
chệch thành Xoan. Đây là lối hát có từ rất lâu đời. Theo truyền thuyết “Sự tích
Hát Xoan” kể lại rằng: Vợ Vua Hùng mang thai tới ngày sinh nở đau bụng
mãi không đẻ được. Người hầu gái tâu rằng, có nàng Quế Hoa xinh đẹp, múa

Hát Xoan chỉ được hát ở những địa điểm nhất định. Theo sự thống kê
của các nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian Phú Thọ có rất nhiều làng tổ chức

16


lễ hội hát Xoan là: Tử Đà. Phù Ninh, Y Kỳ, Tiên Du (Phù Ninh), Tây Cốc
(Đoan Hùng), Cao Mại, Hữu Hổ, Thanh Mai (Lâm Thao), Hương Nộn (Tam
Nông), Cổ Tích, Cẩm Đội, Nông Trang, Dữu Lâu (Thành phố Việt Trì)… và
4 phường Xoan: làng Phù Đức, làng Kim Đới, làng Thét và An Thái đều
thuộc thành phố Việt Trì khu vực kinh đô của Nhà nước Văn Lang xưa.
Hát Xoan được tổ chức thành phường gọi là phường Xoan, mỗi phường
có từ 12 đến 18 người, có một người đứng tuổi đã là kép hát nhiều năm, nắm
vững lề lối và thuộc nhiều làn điệu, biết chữ Nôm, biết tổ chức huấn luyện,
gọi là ông Trùm cùng với các đào (nữ) kép (nam) tuổi từ 18 - 20 có thanh, có
sắc. Hàng năm, phường luyện tập vào tháng Chạp để tháng Giêng đi hát,
những người đi hát không phải là vì kế sinh nhai mà nghề chính của họ vẫn là
là ruộng, làm nương, họ chỉ đi hát vào lúc nông nhàn.
Địa điểm Hát Xoan
Nơi diễn ra cuộc hát Xoan là khoang giữa cửa đình, trước bàn thờ,
xung quanh có các quan viên (chức sắc), các bô lão ngồi dự cùng các trai làng
tham gia trong cuộc hát cùng các đào, kép phường Xoan và dân làng tới xem.
Mỗi cuộc hát Xoan thường bắt đầu vào buổi sáng hoặc buổi tối do nơi sở tại
ấn định thời gian.
Thời gian tổ chức hát Xoan
Hát Xoan là một di sản văn hóa phi vật thể quý giá của vùng đất tổ Vua
Hùng. Các làn điệu Xoan cổ đều bắt nguồn từ những làng cổ nằm ở địa bàn
trung tâm Văn Lang thời các vua Hùng dựng nước. Hát Xoan là tiếng hát cửa
đình thể hiện những lễ tục diễn xướng tế thần linh và được tổ chức vào mùa
Xuân, tháng Giêng và tháng Hai âm lịch theo tục giữ cửa đình, hát vào các

một số tiết mục còn có sự tham gia biểu diễn của các trai gái làng sở tại. Khi
hát trai, gái có thể quay mặt vào nhau, hoặc cùng vui, múa, diễn với khán giả
xung quanh.

18


Phong tục, tập quán của các làng Xoan
Các làng Xoan hoạt động dựa trên những phong tục, tập quán được lưu
truyền từ đời này sang đời khác, tạo thành một nét đẹp riêng biệt của văn hóa
truyền thống vùng đất Tổ.
Phong tục, tập quán riêng biệt của các làng Xoan là lệ giữ cửa đình và
tục kết nghĩa. Ở Phú Thọ có 21 làng có tục hát Xoan, nhưng chỉ có 4 làng có
người đi hát: Kim Đới (Kẻ Đới), Phù Đức, Thét (3 làng này đều thuộc xã Kim
Đức) và làng An Thái (xã Phượng Lâu). Bởi vậy, vào mùa lễ hội, 4 phường
Xoan của 4 làng sau khi khai Xuân bằng múa hát ở đình làng mình từ ngày
mùng một đến ngày mùng bốn Tết âm lịch, từ ngày mùng 5 Tết âm lịch các
phường Xoan phải chia nhau đến hát ở các cửa đình ở làng bạn. Cuộc lưu
diễn mùa Xuân của các làng Xoan kéo dài 3 tháng. Lưu giữ cửa đình quy ước
mỗi phường Xoan có một cửa đình chính để hàng năm đến hát thờ. Phường
Kim Đới giữ các cửa đình như: Hữu Hổ, Thanh Mai, Nha Môn… Phường Phù
Đức giữ các cửa đình như: Phù Ninh, Đức Bác, Y Kỳ, Tây Cốc; Phường An
Thái giữ các cửa đình như: Hương Nộn, Dữu Lâu, Cao Mại; Phường Xoan
làng Thét giữ các cửa đình Tử Du, Nông Trang, Xậu… Mặc dù có quy ước
trong lệ giữ cửa đình nhưng cũng không quá khắt khe, các phường Xoan vẫn
có thể đến hát chung với nhau ở một số cửa đình.
Phường Xoan và các làng mời Xoan đến hát gắn bó với nhau bằng tục
kết nghĩa (nước nghĩa) anh em. Phường Xoan là em, làng sở tại là anh, tình
anh em này rất được trân trọng. Tục kết nghĩa cũng quy định đào, kép của
phường Xoan không được kết hôn với trai, gái của làng mình kết nghĩa. Quy

Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII, Luật di sản văn hóa Việt Nam thông
qua ngày18/6/2009 có sửa đổi, bổ sung một số điều, trong đó quan niệm về di
sản văn hóa phi vật thể được diễn giải ngắn gọn hơn: “Di sản văn hóa phi vật
thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không
gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc
của cộng đồng, không ngừng được tái tạo, lưu truyền từ thế hệ này sang thế

20


Trích đoạn Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn Một số kinh nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status