VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU TRANG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ
DI SẢN VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN QUẬN THANH XUÂN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THU TRANG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ
DI SẢN VĂN HÓA TỪ THỰC TIỄN QUẬN THANH XUÂN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Chính sách Công
Mã số: 834.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. BÙI HOÀI SƠN
3.3. Khuyến nghị với các cấp .......................................................................... 70
KẾT LUẬN.......................................................................................................................... 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 74
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DSVH
UBND
HĐND
QHCT
Di sản văn hóa
Ủy ban nhân dân
Hội đồng nhân dân
Quy hoạch chi tiết
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế giao lưu hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, xu thế tất yếu của
nhiều quốc gia trên thế giới là bằng mọi cách khơi dậy sức sống mãnh liệt của dân
tộc để hội nhập quốc tế và phát triển hợp lý, phù hợp với xã hội hiện đại, trong đó
có Việt Nam. Văn hóa là nguồn lực tinh thần to lớn của mỗi dân tộc thể hiện ra ở
những giá trị hàm chứa trong vốn Di sản văn hóa (DSVH), là tất cả những giá trị vật
thể do con người sáng tạo ra trên nền của thế giới tự nhiên và văn hóa, là tất cả
những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia. Như vậy, có thể thấy rằng: Tìm
về cội nguồn và tìm về DSVH là một việc làm có ý nghĩa to lớn, bởi DSVH chính là
cội nguồn sức sống tiềm tàng to lớn của dân tộc, của mỗi quốc gia được tạo ra trong
quá khứ, cần phải được bảo vệ, duy trì và phát huy trong xã hội hiện đại.
hôm nay.
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm cho các làng xã xưa của quận
Thanh Xuân có những thay đổi mạnh mẽ. Quá trình đó đã tác động không nhỏ đến
mọi mặt đời sống của nhân dân địa phương. Địa bàn chuyển biến nhanh nhất phải
kể đến các làng nằm ở phía Đông Bắc của quận như làng Khương Trung (thuộc
phường Khương Trung, một phần phường Khương Mai); làng Phương Liệt (phường
Phương Liệt); làng Thượng Đình (phường Thượng Đình - một phần Hạ Đình). Các
làng nằm ở phía Tây Bắc, Đông Nam của quận như phường Nhân Chính, phường
Khương Đình, Hạ Đình, sự chuyển biến có phần chậm hơn. Tuy vậy, tính chất làng
xã xưa còn bảo lưu khá đậm nét trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân
tại các địa phương này. Phần phía Tây Nam của quận thuộc địa bàn các phường
Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân Nam, một phần của phường
Nhân Chính là nơi hình thành các nhà máy, xí nghiệp, các khu nhà ở tập thể, chung
cư cao tầng, là nơi nhiều luồng cư dân từ nơi khác chuyển về sinh sống, do đó
những vết tích của ruộng vườn ao hồ, làng xã cũ phần nhiều bị khỏa lấp, nếp sinh
hoạt làng xã xưa trên địa bàn này cũng vì thế bị mai một dần.
Khu vực đường vành đai 3, hướng đi cầu Thanh Trì được giải phóng mặt
bằng, hình thành tuyến đường mới Khuất Duy Tiến - Nguyễn Xiển. Những khu dân
2
cư cũ thuộc các làng Nhân Chính, Hạ Đình, Kim Giang nhường chỗ cho các dự án
xây dựng khu chung cư, đường giao thông... phục vụ đời sống dân sinh. Hiện tại
khu dân cư thuộc làng xã xưa đã trở thành những khu vực đan xen, chia hai phần rõ
rệt: khu vực thuộc các làng xã cũ một phần thuộc các phường Phương Liệt, Khương
Đình, Hạ Đình, Khương Trung, Nhân Chính vẫn còn tồn tại những nếp nhà truyền
thống, từ đường các dòng họ, người dân sống quây quần theo dòng họ, theo ngõ
xóm, mối quan hệ trong cộng đồng dân cư khá mật thiết. Khu dân cư mới xây dựng
về sau này trên địa bàn các phường Khương Mai, Kim Giang, Thượng Đình, Thanh
Xuân Bắc, Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân Nam và một phần Nhân Chính, đại bộ
tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá thiếu vắng trong sinh hoạt văn hoá cộng
đồng. Nhiều di sản văn hoá không được trân trọng đúng mức, nhất là những công
trình kiến trúc tôn giáo - tín ngưỡng bị buông lỏng quản lý, sử dụng không đúng
chức năng vốn có của nó, hoặc bị xâm phạm và xem thường dẫn đến sự tự huỷ hoại
chúng theo thời gian.
Trước thực trạng đó, hàng ngàn di tích được xếp hạng và tu bổ trong mấy
chục năm qua đã thể hiện sự nỗ lực to lớn của toàn xã hội trong việc chăm lo, bảo
vệ di tích. Song do đất nước còn nghèo, nhất là giai đoạn vừa trải qua 2 cuộc chiến
tranh xâm lược, trước mắt tập trung phát triển kinh tế, chúng ta chưa có điều kiện
chăm lo, tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị các DSVH. Trong những năm gần đây
mặc dù đã có nhiều cố gắng song đến nay nhiều di tích bị vi phạm chưa được giải
tỏa do phần lớn các vi phạm này đã diễn ra từ hàng chục năm nay, nhiều di tích bị
xuống cấp trầm trọng. Việc giải quyết cần quyết tâm và sự phối hợp đồng bộ của
nhiều cấp, nhiều ngành.
Phần lớn các di tích sau khi được ghi tên vào danh mục các DSVH và thiên
nhiên thế giới đều trở thành những điểm đến du lịch hấp dẫn, thu hút hàng triệu du
khách trong và ngoài nước đến mỗi năm. Điều này mang lại nguồn thu không nhỏ
cho đất nước, tạo thêm công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động, góp phần thay đổi
cơ cấu kinh tế của địa phương như các chương trình Festival Huế, Đêm hội trăng
rằm phố cổ Hội An…, đã thu hút nhiều khách tham quan và dần trở thành ngày hội
văn hóa lớn của cả nước.
4
Thời gian qua, việc trùng tu mới chỉ tập trung ở những di tích nổi tiếng, song
cũng ít di tích được đầu tư tu bổ hoàn chỉnh từ kiến trúc tới hạ tầng, mới chỉ ưu tiên
trùng tu từng hạng mục hoặc một số hạng mục bị xuống cấp trầm trọng. Bên cạnh
đó chất lượng tu bổ di tích chưa đạt yêu cầu. Việc tăng cường quản lý nhà nước và
xây dựng đội ngũ kiến trúc sư, nghệ nhân, các chuyên gia về sử học, các nghệ nhân,
công nhân lành nghề…, phục vụ tu bổ di tích là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay.
từ đời này qua đời khác. Thanh Xuân còn là nơi sinh sống của các nhà quân sự, trí
thức, văn nghệ sĩ yêu nước trên mọi miền Tổ quốc về chiến đấu, lao động, học tập,
lập nghiệp, tạo cho Thanh Xuân một diện mạo văn hoá đa dạng từ mọi miền đất
nước, vừa phong phú, vừa năng động, luôn luôn tiếp thu cái mới.
Trên địa bàn quận có nhiều điểm di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh khi
Người về thăm các Nhà máy trong Khu công nghiệp Thượng Đình hay nơi Người
tuyên bố thành lập Binh chủng Đặc công thuộc phường Thanh Xuân Bắc. Phường
Khương Mai có di tích Sở chỉ huy K18 - Cơ quan đầu não Phòng không Quốc gia,
trực tiếp chỉ huy các phi đội không quân, pháo cao xạ chiến đấu, đập tan cuộc chiến
tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên bầu trời miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Trên địa bàn quận tập trung nhiều loại hình di sản văn hoá như:
- Di sản văn hoá vật thể: Chủ yếu là các di tích lịch sử văn hoá, cách mạng
kháng chiến như mộ chí danh nhân, văn chỉ, bi ký, sắc phong, bằng lưu niệm, đồ
lưu niệm, các đồ thờ tự, tế khí, văn tự thư tịch cổ, nhạc khí và ấn phẩm trong các gia
đình, nhà thờ họ tộc, trong đền, miếu, đình, chùa…
- Di sản văn hoá phi vật thể: Tập trung vào làng nghề truyền thống, lễ hội,
phong tục tập quán, lối sống, nếp sống, truyền thống hiếu học… văn hóa dân gian
truyền miệng như tục ngữ, dân ca, ca dao, ca trù, các bài văn tế, thơ ca và nhạc lễ ở
đền, miếu, đình, chùa, nhà thờ họ, trong các dịp hiếu hỉ, hội làng hay các điệu múa,
rước kiệu…
Luật Di sản văn hoá đã khẳng định: Nhà nước thống nhất quản lý di sản văn
hoá thuộc sở hữu toàn dân và có chính sách bảo vệ, phát huy giá trị của chúng nhằm
nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân, góp phần phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp, tài
trợ cho việc bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hoá dân tộc.
6
Chúng ta phải coi những di sản ấy là vô giá, là tài sản do các thế hệ ông cha
truyền lại, cần được trân trọng giữ gìn và phát huy. Các di sản văn hoá ấy kết tinh
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động triển khai thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
DSVH từ thực tiễn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội thông qua các hoạt động
quản lý Nhà nước đối với các Di tích văn hóa của UBND quận, đồng thời nghiên
cứu hoạt động quản lý, bảo vệ, khai thác và phát huy giá trị các DSVH của các cơ
quan chức năng và nhân dân trên địa bàn quận.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách bảo tồn và phát
huy giá trị DSVH trên địa bàn quận Thanh Xuân từ năm 2012 đến nay.
Phạm vi không gian: Địa bàn quận Thanh Xuân
Phạm vi nội dung: Các chính sách về DSVH gồm Luật DSVH năm 2001, sửa
đổi năm 2009 và các văn bản qui phạm pháp luật của Chính phủ và Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch về DSVH.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp tổng hợp tài liệu: tài liệu khoa học, văn bản quản lý, báo chí liên
quan đến quản lý nhà nước về văn hóa nói chung và quản lý các hoạt động về bảo tồn,
phát huy giá trị các DSVH ở Việt Nam nói chung và quận Thanh Xuân nói riêng.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Đối tượng phỏng vấn là các cán bộ lãnh
đạo chính quyền các cấp, cán bộ làm công tác quản lý văn hóa ở quận, phường và
những người trực tiếp tham gia hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH trên
địa bàn quận.
Ngoài ra sử dụng phương pháp khảo sát; phương pháp thống kê, so sánh,
phân tích đánh giá chính sách…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hóa những lý luận chung về chính sách bảo
tồn, phát huy giá trị các DSVH ở Việt Nam hiện nay.
8
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm Chính sách và Chính sách công
Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về chính sách hay chính sách công, có
thể hiểu đơn giản, chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay
các nhà quản lý đề ra nhằm giải quyết một số vấn đề nào đó trong phạm vi thẩm
quyền của mình.
Trong từ điển Bách khoa Việt Nam đưa ra khái niệm “Chính sách là những
chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong
thời gian nhất định, trên nhiều lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và
phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ
chính trị, kinh tế, văn hóa...” .
Thuật ngữ Chính sách công được sử dụng rất phổ biến ở các quốc gia. Với
nhiều cách tiếp cận ở những góc độ khác nhau, các nhà khoa học đã đưa ra nhiều
định nghĩa khác nhau: “Chính sách công là tất cả những gì Nhà nước chọn làm
hoặc không làm” (Thomas R. Dye, 1984).
“Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề
phát sinh trong đời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau,
nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” (Giáo trình “Hoạch định và phân tích chính sách
công, của Học viện Hành chính Quốc gia, 2013) [40]
“Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng
và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết
các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”. (PGS.TS. Đỗ Phú Hải) [36]
Như vậy, các khái niệm, định nghĩa có khác nhau, song trong chừng mực
nhất định đều có các nội hàm sau:
10
- Chính sách công là chính sách của Nhà nước.
- Là một tập hợp các quyết định chính trị có mối liên hệ với nhau.
- Với những mục tiêu và giải pháp cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề xã hội
tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra
ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh
ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.” [46,
tr.431].
Từ đó, chúng ta thấy văn hóa là toàn bộ những gì con người tạo ra và lao
động sáng tạo là cội nguồn, khởi điểm của văn hóa. Văn hóa chỉ tất cả các khía cạnh
biểu tượng và học thức của xã hội loài người. Văn hóa vật chất bao gồm các đồ vật,
công nghệ và cả một bộ phận nghệ thuật. Văn hóa phi vật chất bao gồm ngôn ngữ,
các kiến thức, kỹ năng, giá trị, tín ngưỡng và tập quán. Như vậy bản chất của văn
hóa là có tính người và tính xã hội. Văn hóa là một thực thể sống của con người.
“Người ta có thể nhìn thấy, nghe thấy, sờ thấy và cảm thấy bằng những cách khác
nhau của một nền văn hóa, một thời đại văn hóa, một giá trị văn hóa do con người
tạo ra”.[45, tr.11].
Theo từ điển triết học “Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do
con người tạo ra trong quá trình thực tiễn và xã hội - lịch sử và tiêu biểu cho trình
độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội”.”.[46, tr.656].
Tính phức tạp của nội hàm khái niệm văn hóa được thể hiện rõ khi bản thân
văn hóa là một yếu tốt mang tính “động”. Tính động ở đây chính là tính chất biến
đổi không ngừng của văn hóa theo tiến trình lịch sử cũng như thay đổi của nó theo
không gian văn hóa. Khi nói đến văn hóa, chúng ta phải xem xét trên cả hai chiều
thời gian và không gian, nếu thiếu đi một trong hai chiều nói trên thành tố văn hóa
sẽ trở nên phiến diện.
Tóm lại, trong luận văn này, tác giả luận văn sử dụng khái niệm văn hóa là
toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tích lũy lại trong
quá trình hoạt động thực tiễn - xã hội. Những giá trị vật chất và tinh thần đó làm nên
12
13
Các loại DSVH Việt Nam được nêu tại điều 1 Luật Di sản (sửa đổi, bổ sung
năm 2009) gồm: DSVH phi vật thể, DSVH vật thể là những sản phẩm tinh thần, vật
chất có giá trị lịch sử, văn hóa , khoa học được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo quan điểm trên con người bao giờ cũng có 2 nhu cầu cơ bản, đó là nhu
cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, hoạt động của con người cũng có 2 loại cơ bản,
đó là sản xuất ra của cải vật chất và sản xuất ra các giá trị tinh thần, tương ứng với
nó là những giá trị của DSVH vật thể và DSVH phi vật thể.
DSVH vật thể bao gồm toàn bộ những sản phẩm do sản xuất vật chất của con
người tạo ra như các công trình kiến trúc, công cụ sản xuất và sinh hoạt, đồ ăn, đồ
mặc, các phương tiện đi lại. DSVH vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ
yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường
nét, màu sắc, kiểm dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định. DSVH vật
thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt.
DSVH vật thể được khách thể hóa và tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con
người, luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác
động của con người thời đại sau. DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng
hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc. Do đó, vấn đề bảo tồn những DSVH vật
thể lâu đời đòi hỏi cần công nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ.
DSVH phi vật thể bao gồm những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần
của con người sáng tạo ra như phong tục, tập quán thể hiện trong lối sống, trong các
mối quan hệ xã hội của con người, các quy ước thể hiện mối quan hệ giữa các cá
nhân và cộng đồng, giữa con người với tổ tiên, với lực lượng siêu nhiên mà con
người luôn tin tưởng. Đó là toàn bộ tri thức liên quan đến việc sản xuất ra của cải
vật chất để duy trì sự sống và phát triển của con người như sản xuất lương thực, y
học dân gian, văn hóa ẩm thực, nghề thủ công,.. đó còn là các loại hình nghệ thuật
biểu diễn như âm nhạc, múa rối, sân khấu, các loại hình trình diễn cho đến kiến
Cách thức phát huy của mỗi di sản, mỗi thời điểm có khác nhau, điều đó tùy
thuộc vào văn hóa của mỗi vùng, vào nhận thức của từng người. Nhưng tất thảy các
hoạt động này đều phải dựa vào giá trị sẵn có của di sản, làm tôn vinh vẻ đẹp và
phát triển các giá trị văn hóa đó. Hình thức chủ đạo của phát huy DSVH là quảng bá
15
hình ảnh của di sản trên mọi phương diện nhằm khai thác, thu hút khách đến tham
quan, đầu tư. Qua đó giúp việc phục hồi tối đa các giá trị văn hóa truyền thống, tạo
cơ hội giao lưu giữa các nền văn hóa khác nhau góp phần hiểu biết lẫn nhau và tăng
cường mối quan hệ quốc tế vì hòa bình, vì sự phát triển của xã hội. Mặt khác, nếu
biết phát huy lợi thế của DSVH thì đây còn được xem như là một tiềm lực kinh tế
để phát triển xã hội.
Hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều cho rằng DSVH tồn tại trong đời
sống kinh tế - xã hội như một tất yếu khách quan, minh chứng cho quá trình hình
thành và phát triển của quốc gia, dân tộc. Vì thế, DSVH là vấn đề được nhiều tổ
chức quốc tế quan tâm và được chú trọng trong quan điểm đường lối, chính sách
của Đảng và Nhà nước ta.
1.1.2. Chính sách bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay
1.1.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong quá trình lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đề cao giá
trị của DSVH trong sự phát triển văn hóa của dân tộc. Quan điểm chỉ đạo của Đảng
ta trong suốt 88 năm qua là: Trân trọng, bảo vệ, kế thừa và phát huy những giá trị
văn hóa của dân tộc vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì tiến bộ của nhân dân.
Đặc biệt, từ năm 1986 đến nay, khi tiến hành đổi mới đất nước, Đảng ta
không chỉ đổi mới về kinh tế mà còn đổi mới về nhận thức và tư duy “Phát triển
kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, gắn chặt với phát triển văn hóa”. Đảng ta
nhận thức một cách đúng đắn và sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa trong phát triển
kinh tế- xã hội. Trên nền tảng đó, các DSVH được tôn tạo phát triển, góp phần làm
cho cuộc sống tinh thần của xã hội ngày càng phong phú.
hóa cùng với việc tập trung xây dựng những giá trị của văn hóa Việt Nam đương
đại, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị tốt đẹp
của truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh hóa văn hóa thế giới,
bắt kịp sự phát triển của thời đại. [27,tr.243]
Đại hội X, Đảng ta xác định tiếp tục phát triển sâu rộng nâng cao chất lượng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Gắn kết chặt chẽ hơn giữa
văn hóa với phát triển kinh tế -xã hội. Làm cho văn hóa thấm sâu vào mỗi lĩnh vực
đời sống xã hội. Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam.
17
Bảo vệ và phát huy văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, sinh
viên, học sinh, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống nâng cao năng lực trí tuệ, đạo đức
và bản lĩnh văn hóa Việt Nam. Đặc biệt, chú trọng đến đầu tư trong việc bảo tồn,
tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, di tích văn hóa vật thể, phi vật
thể. Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn, phát huy với kế thừa và phát triển bảo tồn di tích
lịch sử với phát triển kinh tế du lịch, tinh thần tự nguyện, tính tự quản của nhân dân
trong xây dựng văn hóa. Đồng thời tăng cường quản lý Nhà nước về văn hóa. Xây
dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn định. Tăng cường mở rộng giao lưu, hợp tác
quốc tế về văn hóa. Chống sự xâm nhập văn hóa độc hại, lai căng, phản động. Xây
dựng, nâng cao đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa.
Tiếp tục phát triển các quan điểm của Đại hội trước, Đại hội XI của Đảng đã đưa
ra nhiệm vụ chăm lo phát triển văn hóa tập trung vào 4 nội dung quan trọng:
Một là, củng cố và tiếp tục xây dựng môi trưởng văn hóa lành mạnh, phong
phú, đa dạng; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc
tang, lễ hội,…
Hai là, phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các
DSVH truyền thống, cách mạng.
Ba là, chú trọng phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin giáo dục, tổ chức và
văn hóa; làm cho văn hóa tham gia tích cực vào thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Xây dựng những giá trị văn hóa mới đi đôi
với việc mở rộng giao lưu quốc tế. Nâng cao mức hưởng thụ, tham gia hoạt động,
sáng tạo văn hóa của nhân dân; từng bước thu hẹp sự chênh lệch về hưởng thụ văn
hóa, nghệ thuật giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng
đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Tăng cường đầu tư của Nhà nước,
nâng cao tỷ lệ ngân sách cho văn hóa, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa,
huy động mọi nguồn lực cho phát triển văn hóa; coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư
cho con người, đầu tư cho phát triển bền vững. Xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ
thống thiết chế văn hóa, chú trọng các công trình văn hóa lớn, tiêu biểu; nâng cao
hiệu quả hoạt động của hệ thống các thiết chế văn hóa cơ sở, v.v. Mục tiêu lâu
19
dài là, tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc; gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho
văn hóa thấm sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ba là, quán triệt, thực hiện tốt nhiệm vụ, giải pháp phát triển văn hóa. Nền
văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các
phương tiện chuyển tải. Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những
tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng
ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước.
Bốn là, tích cực đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái thù địch trên
lĩnh vực văn hóa. Phát triển nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là mục
tiêu xuyên suốt quá trình phát triển của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát
triển văn hóa là cơ sở rất quan trọng để biến mục tiêu thành hiện thực, góp phần xây
dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng tinh thần xã hội vững
mạnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Đó là sự tiếp biến các giá trị văn hóa nhân loại một cách tự nhiên trong quá
Tại Quyết định số 62/QĐ-TTg ngày 03/02/1994, Thủ tướng Chính phủ đã
giao cho Bộ Văn hóa –Thông tin quản lý điều hành ba chương trình có mục tiêu cấp
nhà nước; trong đó có chương trình chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử
văn hóa Việt Nam. Thời gian thực hiện tập trung từ 1994 đến 2000 với những nội
dung chủ yếu tập trung bảo vệ, nâng cấp tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng và
kháng chiến đặc biệt quan trọng, các di tích kiến trúc nghệ thuật có giá trị lớn đang
có nguy cơ sụp đổ cần tu bổ gấp; xây dựng mới một số khu di tích lịch sử và cách
mạng quan trọng.
Tại văn bản số 4739/KG-TW ngày 26/8/1994, Thủ tướng Chính phủ đã cho
phép Bộ Văn hóa –Thông tin triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia về văn hóa.
Hoạt động này đã thể hiện sự đầu tư đúng hướng, trên cơ sở các chính sách đúng
đắn của Đảng và Nhà nước đối với sự nghiệp bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hóa.
Đặc biệt, Luật DSVH đã được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua
ngày 14/6/2001 được xem là văn bản hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay về vấn đề
21