DCQHBN : Dân ca Quan họ Bắc Ninh
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
NXB : Nhà xuất bản
QĐ : Quyết định
TTVH : Trung tâm văn hóa
TW : Trung ương
UBND : Ủy ban nhân dân
VHTT : Văn hóa thông tin
i
ii
iii
!"#$ %&$!'()*$+%
Dân ca Quan họ Bắc Ninh là một thể loại dân ca phong phú và đặc sắc
về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi một bài dân ca Quan
họ Bắc Ninh đều có giai điệu riêng, ca từ riêng. Quan họ cổ truyền vốn không
phải là nghệ thuật biểu diễn với hai vai: nghệ sỹ - khán giả như Tuồng, Chèo,
Ca trù. Bản chất của nó là thú chơi dân dã, nên người ta mới gọi là “chơi quan
họ”. Quan họ hiện đại vừa là thú chơi tao nhã đồng thời còn là sự trình diễn
của người hát Quan họ cùng với các thiết bị âm thanh điện tử. Dân ca Quan
họ Bắc Ninh ẩn chứa trong mình cả một kho tàng văn hóa cổ. Vẻ đẹp của các
làn điệu dân ca ấn tương và đi vào lòng người không chỉ là những làn điệu
phổ thông quen thuộc mà còn có những ý nghĩa văn hóa và tầm vóc lịch sử
của chúng.
Ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính
phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (
dân ca Quan họ Bắc Ninh được công nhận
là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Dân ca Quan họ Bắc Ninh
lịch. Du lịch đại trà và việc bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể thật khó có
thể song hành với nhau. Du lịch khiến cho các hình thức biểu hiện tính chất,
chức năng v.v… vốn có của văn hóa phi vật thể cơ bản bị biến đổi.
Văn hóa phi vật thể dân ca Dân ca Quan họ Bắc Ninh vừa mang tính
bền chắc, tiềm ẩn trong tâm thức cộng đồng lại vừa mỏng manh dễ bị biến
dạng bởi tính phi vật thể. Đặc biệt trong thời đại hiện nay Việt Nam đã tham
gia hội nhập kinh tế thế giới. Sự mở của nền kinh tế cũng dẫn đến văn hoá
ngoại lai tràn vào làm biến dạng những di sản văn hóa quí giá do cha ông để
lại. Do đó bảo vệ và phát huy giá trị những di sản văn hóa đó nhằm giữ gìn
một môi trường văn hoá - nhân văn lành mạnh là vấn đề cần quan tâm và
2
nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể dân ca Quan
họ Bắc Ninh là cần thiết và cấp bách. Với những lý do như vậy, em lựa chọn
đề tài: “Giải pháp huy động vốn đầu tư nhằm bảo tồn và phát huy giá trị
di sản văn hóa phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh” là vấn đề hết sức có
ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, góp phần bảo tồn và phát triển các di sản
văn hóa của đất nước.
,-!$%./0 %.!1/
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá hiện trạng việc huy động vốn để bảo tồn di sản văn hóa phi
vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh trong giai đoạn vừa qua. Đề xuất giải pháp
huy động vốn nhằm đầu tư bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vât
thể dân ca Quan họ Bắc Ninh trong giai đoạn tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa về cơ sở lý luận và thực tiễn về huy động vốn đầu tư
nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể.
- Đánh giá hiện trạng về huy động vốn đầu tư nhằm bảo tồn và phát
huy giá trị di sản văn hoá dân ca Quan họ Bắc Ninh.
- Đề xuất các giải pháp huy động vốn đầu tư nhằm bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh.
Ninh nói riêng.
6.2. Về mặt thực tiễn
Làm rõ thực trạng về huy động vốn đầu tư cho bảo tồn, phát huy giá trị
di sản dân ca Quan họ Bắc Ninh. Đồng thời đề xuất các giải pháp thu hút vốn
đầu tư nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản dân ca Quan họ Bắc Ninh.
F3!-!!'(A/B:C
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
có 4 chương:
4
/! Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề huy động vốn đầu
tư nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân ca Quan
họ Bắc Ninh.
/! Phương pháp nghiên cứu.
/0! Thực trạng thu hút vốn đầu tư nhằm bảo tồn, phát huy giá
trị di sản văn hóa phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh
/1! Các giải pháp thu hút vốn đầu tư nhằm bảo tồn, phát huy giá
trị di sản dân ca Quan họ Bắc Ninh.
5
4G0
H<HIJKLMNOPQ
GRSATA/B:*:3:+ /U)V0:3!W!>. /U)V0:3
1.1.1. Một số khái niệm về vốn, huy động vốn và đầu tư vốn nhằm bảo tồn
phát huy giá trị văn hóa phi vật thể nói chung, dân ca Quan họ nói riêng
22223 4**56*567*5
X Y0Z/(%[9:*:3\
Vốn là một trong những nhân tố quan trọng đối với quá trình tăng
trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát
triển. Nói đến khái niệm vốn, nhiều nhà kinh tế học đã tiếp cận dưới nhiều
góc độ khác nhau nhưng đều thông qua phạm trù tư bản và có kết luận: Vốn
là phạm trù kinh tế.
FGHI. !
- Việc đầu tư vốn bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân ca Quan
họ Bắc Ninh sẽ tạo ra các sản phẩm văn hóa du lịch mới đảm bảo phục vụ
tốt nhất cho du khách, sẽ tạo ấn tượng sâu sắc tới khách thăm quan trong và
ngoài nước. Giải quyết được nhu cầu bảo tồn và phát huy giá trị của dân ca
Quan họ Bắc Ninh, đẩy mạnh tuyên truyền phong trào hát Quan họ tại cộng
đồng, giúp cộng đồng nâng cao nhận thức về giá trị di sản, tạo điều kiện để
cộng đồng trình diễn, giao lưu dân ca Quan họ Bắc Ninh với các cộng đồng
khác trong và ngoài nước. Đặc biệt đây là hình thức ngành Văn hóa - Du
lịch địa phương khai thác và phát huy giá trị di sản dân ca Quan họ một cách
bền vững.
- Làm cơ sở để người dân trước đây chỉ sống bằng nghề nông nâng cao
kiến thức về văn hoá xã hội.
7
- Các dự án đầu tư hoàn thành góp phần thu hút nhân lực của địa
phương, góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động cho
khu vực.
- Giúp cộng đồng nhận diện và kiểm kê dân ca Quan họ Bắc Ninh định
kỳ theo từng năm
- Hỗ trợ cộng đồng phục hồi tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội
liên quan đến dân ca Quan họ Bắc Ninh ở các làng quê, khôi phục việc hát thi
lấy giải của các làng Quan họ.
- Hỗ trợ xây dựng nội dung và tài liệu truyền dạy Quan họ Bắc Ninh
trong trường học, trong các gia đình và tại cộng đồng theo địa bàn làng xã.
- Tạo mọi điều kiện để trình diễn/giao lưu dân ca Quan họ Bắc Ninh
với các cộng đồng khác trong nước và ngoài nước.
1.1.2. Một số khái niệm về văn hóa phi vật thể liên quan đến đề tài
22223 4*+ <=*; *>?
Khái niệm di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO sử dụng trong
Khoản 1 điều 2 mục I - Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể năm 2003:
vùng, thắt chặt mối quan hệ ở trong làng và giữa các làng cùng chia sẻ thực
hành diễn xướng văn hóa này”.
Theo các nhà nghiên cứu, dân ca Quan họ Bắc Ninh có nhiều làn điệu,
nó khác với nhiều loại dân ca khác chỉ có một làn điệu âm nhạc. Trong dân ca
Quan họ Bắc Ninh, mỗi giọng (giai điệu âm nhạc) đều có lời ca riêng phù
hợp, nhạc và lời gắn bó hữu cơ với nhau. Hát dân ca Quan họ Bắc Ninh là ca
đối giọng (tức là đối làn điệu âm nhạc), nếu bên kia ra một giọng thì bên này
cũng phải có một bài đối lại lời khác nhưng cùng giọng với bài kia. Cho tới
nay dân ca Quan họ Bắc Ninh có 213 giọng với khoảng 400 bài ca thuộc ba
hệ thống giọng: lề lối, giọng vặt, giọng giã bạn.
9
222023 4*&=7*; ($+ <=*; *>?2
* Bảo tồn: là việc bảo vệ, duy trì giữ gìn những gì tồn tại trong thực tế,
những gì tồn đọng và có giá trị về mặt lịch sử, mang tính chất tiến hóa, mang
tính chất duy trì và tồn tại, phát triển lâu dài.
Di sản phi vật thể vốn rất phong phú và đa dạng, và điều có thể dễ nhận
thấy là, với thực tế đa dạng như vậy, không thể áp dụng một mô hình bảo tồn
cho tất cả các di sản. Có những di sản cần bảo tồn nguyên gốc (và bảo tồn
được), có những di sản chỉ có thể bảo tồn gần với nguyên gốc, có những di
sản phải bảo tồn phát triển…
Đồng thời cần có một quan niệm khác về hướng bảo tồn, đó là, với một
di sản phi vật thể có thể có nhiều phương án bảo tồn khác nhau và đồng thời
được áp dụng. Ví dụ đối với nghệ thuật truyền thống chẳng hạn, một mặt bảo
tồn nguyên trạng những gì còn lại, đồng thời mặt khác có thể phát triển, thay
đổi ở những mức độ sáng tạo khác nhau. Quan điểm này cho rằng một di sản
với càng nhiều hình thái tồn tại khác nhau càng có sức sống trong xã hội
đương đại. Có điều cần lưu ý rằng, khi thay đổi, phát triển di sản thì song
hành với nó, nhiệm vụ lưu giữ nguyên gốc vẫn phải được đặt ra.
* Phát huy các giá trị di sản văn hóa phải biết kế thừa có chọn lọc
những tinh hoa văn hóa của đời trước để lại, làm cho các giá trị của di sản văn
kỳ đổi mới và đặc biệt là trong chiến tranh, công tác quản lý di sản chưa được
quan tâm đúng mức, số di sản mất đi khá nhiều. Nhưng trong giai đoạn hiện
nay, công tác quản lý di sản được quan tâm hơn rất nhiều, điều này được thể
hiện trong nhiều chương trình mục tiêu của ngành văn hoá.
Trong nền văn hóa Việt Nam, văn hóa phi vật thể có vị thế hết sức quan
trọng, qua văn hóa phi vật thể, có thể nắm bắt, hiểu biết lịch sử dựng nước và
giữ nước của ông cha, đồng thời là nơi lưu giữ những nét độc đáo, giá trị tinh
hoa của bản sắc văn hóa dân tộc. Chính vì thế, không ai có thể phủ nhận tầm
11
quan trọng của giá trị văn hóa phi vật thể trong đời sống, xã hội Việt Nam
hôm nay và trong tương lai. Sau nhiều năm nỗ lực nghiên cứu, sưu tầm và lập
hồ sơ đề xuất, đến nay chúng ta đã có những di sản văn hóa được thế giới
công nhận là:
F+ <= M M : !
- Vịnh Hạ Long, được công nhận hai lần, năm 1994, là di sản thiên nhiên
thế giới, và năm 2000, là di sản địa chất thế giới theo tiêu chuẩn N (I) (III).
- Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, năm 2003, là di sản thiên
nhiên thế giới theo tiêu chuẩn N (I).
FN+ <=* : 7!
- Quần thể di tích Cố đô Huế, năm 1993, là di sản văn hóa thế giới theo
tiêu chuẩn C (III) (IV).
- Phố Cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn
C (II) (V).
- Thánh địa Mỹ Sơn, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu
chuẩn C (II) (III).
- Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, năm 2010, là di sản
văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn C (II) (III) và (VI).
- Thành nhà Hồ, năm 2011, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chuẩn C
(I)
F/+ 4OPEQR/S#>-TOH;*+
và phát huy một số di sản thế giới ở Việt Nam
2222EIUV!
Nhã nhạc là thể loại nhạc của cung đình thời phong kiến là loại hình âm
nhạc thiêng liêng, chỉ dùng trong các dịp đại lễ trang trọng của triều đình và
những cuộc cúng tế thần linh, tổ tiên của triều đại. Tổ chức UNESCO đã công
13
nhận Âm nhạc cung đình Việt Nam - Nhã nhạc (triều Nguyễn) vào Kiệt tác Di
sản Văn hóa phi vật thể và Truyền khẩu của Nhân loại.
Để bảo tồn và phát triển Nhã nhạc một cách bền vững, cần có chính sách
quản lý bảo tồn đặc thù dành cho Nhã nhạc, có chế độ ưu đãi đặc biệt đối với
các nghệ nhân nhằm khuyến khích họ đóng góp, truyền đạt kinh nghiệm và bí
quyết nghề nghiệp cho thế hệ trẻ. Đội ngũ kế thừa này là các em có năng khiếu
và xuất thân từ gia đình có truyền thống nghệ thuật, am hiểu nhạc cung đình.
Bản thân các em hầu hết đã sử dụng được các nhạc cụ trình diễn. Lo lắng về
đội ngũ kế thừa, giáo sư Trần Văn Khê cảnh báo về xu hướng biểu diễn vô hồn
của nhạc công Nhã nhạc trẻ tuổi, cũng như xu hướng thêm vào các nhạc cụ, bài
bản vốn không phải của Nhã nhạc để tạo sự hoành tráng, phong phú. “Chúng ta
chỉ nên phát triển Nhã nhạc bằng cách sáng tác những bài bản mới trên cơ sở
của giai điệu cũ. Và khi trình diễn, chúng ta cần công khai, minh bạch cho
người nghe biết đâu là nguyên gốc, đâu là những bài bản được làm mới - ông
bày tỏ. Nhiều nghệ nhân cũng rất bất bình khi có nhiều tiết mục bị biến tướng
với lối tấu nhạc ‘cắm đầu mà đánh’, còn các nữ vũ công ‘vừa múa vừa cười’
trong khi Nhã nhạc cần sự trang trọng”. Thách thức đối với những người bảo
tồn di sản văn hoá của dân tộc và nhân loại là không nhỏ.
2222W <=*/7 MJ@EM!
Ngày 25-11-2005, không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của
Việt Nam, di sản thứ hai sau Nhã Nhạc Huế, được UNESCO công nhận là
"Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại". Đây là loại hình
văn hóa âm nhạc đặc sắc, gắn bó mật thiết với cuộc sống của cộng đồng các
dân tộc Tây Nguyên.
chiêng còn thể hiện ở các bài bản nhạc chiêng dần dần bị lãng quên. Các nghệ
nhân trải qua thời gian, do nhiều tác động khác nhau đã quên nhiều bản nhạc
chiêng. Người Mnông trước đây có 40 bản nhạc chiêng, nay các nghệ nhân
chỉ còn nhớ, lưu truyền và trình diễn được 10 bản nhạc chiêng. Mặt khác,
15
những nghệ nhân có đôi tai thẩm âm, có năng khiếu trong việc chỉnh chiêng
cũng thưa vắng dần trong các cộng đồng cư dân.
22202X5 *: + <=*&=*4-L;"/(Y
Ngày 31/9/2009, Ca trù đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá
phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Ban đầu, Ca trù được gọi là hát Ả đào - kiểu
hát nói của người kỹ nữ. Đến thế kỷ XV, Ca trù được ưa chuộng và thịnh
hành như một hình thức giải trí tinh thần cho các bậc vua, chúa. Sau này Ca
trù được biểu diễn ở đình làng, quán trọ, các nhà quyền quý và dần trở thành
hình thức giải trí phổ biến, món ăn tinh thần của tầng lớp trí thức trung lưu.
Thế kỷ thứ XIX đánh dấu sự phát triển rực rỡ nhất của Ca trù với 216 nhà hát
và hơn 2000 cô đầu ở Hà Nội. Cùng với thời gian, Ca trù không còn phổ biến
bị và đang bị mất dần.
Sau 50 năm Ca trù vắng bóng ở các cửa đình, người dân không hề biết
Ca trù là âm nhạc của mình. Không còn tư liệu nghe nhìn cụ thể, có chăng là
những tư liệu viết bằng tiếng Hán. Ngay cả các nghệ nhân ở tuổi 80 cũng
không được chứng kiến hát cửa đình mà chỉ là hát ca quán. Những nghệ nhân
thuộc hàng "báu vật" như cụ Nguyễn Phú Đẹ, cụ Nguyễn Thị Chúc mặc dù
đã được công nhận là nghệ nhân dân gian, và với bộ môn ca trù thì họ thật sự
là những "di sản" sống, nhưng cho đến nay, họ vẫn chưa được một chế độ gì
từ phía nhà nước hoặc cơ quan xã hội nào. Những buổi biểu diễn của các cụ
dù thật hiếm hoi, nhưng luôn là miễn phí, và khách nghe cũng chỉ giới hạn
trong một bộ phận nào đó, số nghệ nhân thuộc hàng "báu vật" trong ca trù nói
riêng và các hình thức ca hát truyền thống khác nói chung ngày càng ít đi.
Năm 2006 còn 22 nghệ nhân ca trù nhưng cuối năm ngoái chỉ còn 12 cụ,
Nhiều không gian diễn xướng của ca trù thủa xưa như đình làng, cung đình
việc đúc rút các kinh nghiệm của bạn bè trên thế giới, phát huy những gì có
lợi, hạn chế và né tránh những gì có hại cho các giá trị văn hoá truyền thống
trong quá trình phát triển đất nước Việt Nam hiện nay, còn phải tạo sự bền
vững cho các giá trị văn hoá truyền thống. Qua đó xác định một định hướng
mang tính chiến lược của các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu văn hóa để
17
cùng với cộng đồng tìm ra lời giải là chúng ta sẽ bảo tồn cái gì, bảo tồn thế
nào để giữ lại cho thế hệ mai sau các báu vật di sản văn hoá của dân tộc. Có
thể thấy rằng, Di sản văn hóa là tiềm năng, là động lực khi các chủ thể phát
huy thích hợp với thời buổi kinh tế thị trường hôm nay.
22022X5 *: * 4.*5?&=76; ($+ <=*
*+ <=*; *>? ( M2
Các di sản văn hóa nói cung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng đều
được hình thành từ chính cộng đồng và phục vụ cộng đồng. Chính vì thế cộng
đồng là chủ thể quan trọng để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc. Do đó việc huy động vốn để bảo tồn các giá trị di sản văn
hóa phải có sự tham gia tích cực của cộng đồng.
Để đáp ứng nhu cầu về văn hóa của nhân dân, nhiều năm nay, nhà nước
đều dành kinh phí để bảo tồn, phục dựng các di sản văn hóa. Tuy nhiên, với
lòng ngưỡng vọng, nhiều cá nhân đã có những việc làm công đức nhằm chung
tay bảo tồn các di sản văn hóa. Trong xu thế ấy có những cá nhân đã bỏ ra
hàng tỷ đồng giúp quê hương bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hóa như Đình,
Chùa, Đền, Miếu, v.v… Ngoài ra, vai trò cộng đồng còn thể hiện trong việc
phát hiện, sưu tầm và hiến tặng những tài liệu, hiện vật liên quan đến các di
tích, giúp các giá trị truyền thống được khẳng định.
Tuy sự quan tâm của cộng đồng đã đóng góp to lớn trong việc bảo tồn
di sản văn hóa nhưng hầu như mới chỉ được quan tâm ở lĩnh vực tâm linh
(Đình, Đền, Chùa ) còn những giá trị di sản văn hóa phi vật thể như hát
Quan họ, hát Xoan, Ca trù, Ví giặm, Chèo, Tuồng, Nhã nhạc cung đình
Huế… cũng rất cần nhận được sự quan tâm để bảo tồn và phát huy giá trị thì
nhân loại. Việc bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể di sản dân ca Quan họ Bắc
Ninh đã trở thành trách nhiệm và nhiệm vụ chung của mọi người. Các nghiên
cứu, tuy với cách tiếp cận khác nhau song đều khẳng định công tác bảo tồn
19
phát huy giá trị văn hóa phi vật thể cần phải có tầm chiến lược trong phát triển
kinh tế - xã hội của các quốc gia và cần được xã hội hóa.
Xác định rõ tầm quan trọng các nghiên cứu đều tập trung vào sự phân
tích trên các khía cạnh bảo tồn và phát triển của các di sản văn hóa với các nội
dung hạng mục. Ở Việt Nam, đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan
tâm, như:
Trần Đình Luyện, Giám đốc sở VHTT Bắc Ninh (2006) ZABCD
E [(* = ;;&=7 ” Công trình đã nêu rõ đặc điểm của dân
ca Quan họ Bắc Ninh và đánh giá khai quát kết quả bảo tồn, phát huy văn hóa
Quan họ. Đề xuất một số gải pháp nhằm tiếp tục bảo tồn và phát huy văn hóa
Quan họ, đặc biệt nhấn rõ yêu cầu sưu tầm, nghiên cứu bổ sung làm phong
phú văn hóa Quan họ.
Nguyễn Trí Nguyên, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa - Thông tin (2009)
ZC=7-# *ABCDE "\ = ;;*#U]2
Công trình nghiên cứu đã nêu rõ về không gian văn hóa Quan họ, với nhưng
giá trị về phong tục, tập quán,về đức tin tín ngưỡng, về thế và lối ứng xử của
người dân Quan họ Do vậy tác giả đã đề xuất chính sách và quản lý của nhà
nước va đầu tư tài chính về bảo tồn không gian văn hóa Quan họ Bắc Ninh.
Lê Danh Khiêm, Trưởng ban sưu tầm nghiên cứu Quan họ (2011)
Z3# *AB&=. 6[(*^*
G((#&=7]2 Tác giả đã phân tích các làm rõ các đặc điểm
văn hóa Quan họ và mối quan hệ trong nền văn hóa dân gian Việt Nam trên
các khía cạnh: Dân ca Quan họ; văn hóa tín ngưỡng lễ hội; tục kết bạn Quan
họ; văn hóa hành vi Quan họ Qua đó, khái quát nêu lên bức tranh khá đậm
nét về thực trạng và những vấn đề đặt ra trong bảo tồn không gian văn hóa
Quan họ Bắc Ninh.
em sẽ vận dụng và kế thừa những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học
nêu trên. Đồng thời tham khảo các bài viết có liên quan, những quan điểm
21
mới, chủ trương mới về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân ca
Quan họ trong thời gian tới.
4G0,
7g77PQ
,W!!h/ i%0 %.!1/
- Tại sao phải bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân
ca Quan họ Bắc Ninh?
- Thực trạng về huy động các nguồn vốn và việc đầu tư vốn để bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh trong
thời gian qua?
- Giải pháp nào để huy động được các nguồn vốn đầu tư nhằm bảo tồn
và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh trong
thời gian tới?
,,7 4G0# W#0 %.!1/
2.2.1. Các phương pháp tiếp cận
- Tiếp cận hệ thống: có nghĩa là khi tiếp cận một đối tượng nghiên cứu
cụ thể phải xem xét và đặt nó trong mối quan hệ tác động qua lại với các đối
tượng khác một cách có hệ thống. Trong tiếp cận hệ thống về vấn đề huy
động vốn đầu tư bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể dân ca Quan
họ Bắc Ninh được tiếp cận theo 2 cách, đó là:
(i). Tiếp cận theo chiều dọc, ở đây chủ yếu theo quản lý đơn vị hành
chính và quản lý xã hội từ huyện, xã, thôn trong các nội dung theo qui định,
hoặc theo hệ thống chính sách liên quan đến hệ thống quản lý điều hành nhằm
thu hút huy động mọi nguồn vốn (bao gồm cả vốn ngân sách).
(ii). Tiếp cận theo chiều ngang chủ yếu là các quan hệ trong công tác
quản lý điều hành trên địa bàn thu hút, huy động mọi nguồn vốn nhằm đầu tư
bảo tồn phát huy giá trị văn hóa phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh.