Sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử việt nam từ thế kỉ x đến đầu thế kỉ XIX (lớp 10 THPT chương trình chuẩn) ở hà tĩnh - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHTRẦN THỊ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ GIANG
CHUYÊN NGÀNH: LL&PP DẠY HỌC BỘ MÔN LỊCH SỬ
MÃ SỐ: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS. TS. NGUYỄN THỊ CÔI
NGHỆ AN - 2014
4
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa lịch sử, Khoa
đào tạo sau đại học, Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn phương pháp
khoa lịch sử trường Đại học Vinh, Đại học sư phạm Hà Nội, bạn bè, đồng
nghiệp và gia đình… những người đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá
trình nghiên cứu đề tài.
Đặc biệt với tình cảm chân thành và lòng kính trọng, tôi xin bày tỏ lòng
cảm ơn sâu sắc tới GS. TS. Nguyễn Thị Côi - người đã trực tiếp, tận tình
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

7. Đóng góp của luận văn 10
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 10
9. Cấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 11
1.1 Cơ sở lý luận 11
1.1.1. Quan niệm 11
1.1.2. Xuất phát điểm của vấn đề 16
1.1.3. Vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hóa phi vật
thể ở địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường
trung học phổ thông 27
1.2. Thực tiễn việc sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa
phương trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10 THPT (chương trình
chuẩn) ở Hà Tĩnh 33
1.2.1. Đối với giáo viên 34
1.2.2. Đối với học sinh 36
1.2.3. Một số ý kiến nhận xét 39
iii
1.3. Những yêu cầu khi sử dụng di sản văn hóa phi vật thể tại địa
phương trong dạy học lịch sử dân tộc 41
1.3.1 Đảm bảo mục tiêu dạy học bộ môn 41
1.3.2. Đảm bảo tính tư tưởng, khoa học 41
1.3.3 Đảm bảm tính sư phạm 43
CHƯƠNG 2. HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG DI SẢN
VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ TẠI ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỈ XIX
LỚP 10 THPT TỈNH HÀ TĨNH (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 44
2.1. Ví trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X
đến nửa đầu thế kỉ XIX trong khoá trình lịch sử Việt Nam lớp 10 THPT

2.5. Thực nghiệm sư phạm 83
2.5.1. Mục đích thực nghiệm 83
2.5.2. Đối tượng, địa bàn thực nghiệm 84
2.5.3. Nội dung và phương pháp thực nghiệm 84
2.5.4. Kết quả thực nghiệm 85
2.5.5. Những kết luận được rút ra từ kết quả thực nghiệm sư phạm
88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC
v
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, con người
được coi là yếu tố cơ bản. Để phát triển nguồn lực đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá cần đặc biệt chú ý đến phát triển giáo dục. Mục tiêu
của giáo dục nói chung là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện,
có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ tổ quốc [17; 13]. Nhận thức được tầm quan trọng, Đảng và
Nhà nước ta luôn quan tâm, coi trọng giáo dục “Giáo dục là quốc sách hàng
đầu”.
Lịch sử là một trong những môn học cơ bản trong chương trình giáo dục
phổ thông. Trong điều kiện thế giới, khu vực và đất nước hiện nay, Lịch sử
trước hết là lịch sử dân tộc càng giữ vai trò quan trọng trong việc trang bị kiến
thức, bồi dưỡng lòng yêu quê hương xứ sở, chủ nghĩa yêu nước, góp phần
hoàn thiện nhân cách, bản lĩnh con người Việt Nam.
Bộ môn lịch sử nói chung, kiến thức lịch sử nói riêng có vị trí quan trọng
như vậy, nhưng thực trạng dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay, chưa

thống như nghề rèn ở làng Trung Lương, làng gốm Cẩm Trang, tri thức y,
dược của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, các lễ hội truyền thống cùng với
kho tàng ca dao, hò vè, tục ngữ dân gian phong phú. Việc sử dụng những di
sản văn hoá phi vật thể ở Hà Tĩnh trên vào dạy học lịch sử Việt Nam ở trường
THPT có ý nghĩa vô cùng quan trọng sẽ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục
của Đảng. Bên cạnh đó góp phần quan trọng vào công tác giữ gìn, bảo tồn,
tôn tạo những di sản của dân tộc và địa phương.
2
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn vấn đề “Sử dụng di sản văn
hoá phi vật thể tại địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến
nửa đầu thế kỉ XIX (Lớp 10 - THPT - Chương trình chuẩn) ở tỉnh Hà Tĩnh.”
Làm đề tài nghiên cứu
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong quá trình thu thập và tiếp cận các tài liệu nghiên cứu về sử dụng di
sản văn hoá phi vật thể trong dạy học lịch sử, chúng tôi chia làm hai loại: Tài
liệu nghiên cứu về di sản văn hoá phi thể ở Hà Tĩnh và tài liệu tâm lí giáo dục
giáo dục lịch sử về sử dụng tài liệu học tập lịch sử nói chung, sử dụng di sản
văn hoá phi vật thể trong dạy học lịch sử nói riêng.
2.1. Tài liệu nghiên cứu về di sản văn hoá phi vật thể ở Hà Tĩnh
Từ trước tới nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về các di sản văn hoá
ở Hà Tĩnh trong đó chúng ta cần phải tiếp cận các công trình sau:
“Kho tàng ca dao xứ Nghệ” (1996), Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), (NXB
Nghệ An) [11]. Trong tác phẩm này tác giả đã sưu tầm một cách toàn diện và
có hệ thống về kho tàng ca dao, hò, vè ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.
“Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ” (1993), Ninh Viết Giao (chủ
biên) [21], là bộ sách sưu tầm có quy mô và hệ thống đầu tiên về truyện kể
dân gian xứ Nghệ, (NXB Nghệ An).
Nghiên cứu về dân ca ví, giặm phải đề cập đến hai công trình đó là: “Hát
ví Nghệ Tĩnh” (1958), NguyễnVăn Chung, NXB Ban văn sử địa và “Hát giặm
Nghệ Tĩnh” (1962 - 1963) gồm 2 tập, Nguyễn Văn Chung - Ninh Viết Giao sưu

với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử
xã hội, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua
đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của
con người”.
Tại hội nghị Quốc tế các khoa học lịch sử lần thứ XVII ở Madrit (Tây
Ban Nha), từ ngày 26/8 đến ngày 2/9/1990 có báo cáo về vấn đề “Các nhà sử
4
học và việc gìn giữ các di sản văn hóa của nhân loại”. Hội nghị đã khẳng định
“Di tích lịch sử - văn hóa là những di sản văn hóa quý hiếm của nhân loại, cần
được bảo vệ và sử dụng đúng đắn. Di tích lịch sử đã và đang trải qua những
hiểm họa đó là thời gian ngày càng lùi xa, thiên nhiên khắc nghiệt và cả sự vô
ý thức của con người” [24;5]
Trong cuốn “Phát triển tư duy HS” (1976), (NXB Giáo dục, Hà Nội) của
M.Aleexép, [1] và “Tư duy HS” (NXB Giáo dục, Hà Nội) của M.N.Sácđacốp
(1970), [53] đã khẳng định: cơ sở tâm lí của nhận thức trực quan sinh động
trong học tập lịch sử khi tạo biểu tượng trong sáng và muôn màu, muôn vẻ về
sự vật và hiện tượng đang học có thể thực hiện nhiệm vụ này bằng cách tổ chức
cho học sinh tri giác các di tích lịch sử và các di sản văn hoá. Chúng tôi coi đây
là tài liệu tham khảo bổ ích cho việc dạy học lịch sử nói chung và việc xác định
những nguyên tắc, phương pháp, hình thức học tập tại nơi có di sản văn hoá.
Bên cạnh đó còn có các công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục và giáo
dục lịch sử đã nhấn mạnh đến vai trò của các tác phẩm văn học và các lễ hội
truyền thống. NG. Đairi (1973), Chuẩn bị giờ học như thế nào, (NXB Giáo dục,
Hà Nội) khẳng định rằng “ Tác phẩm văn học đóng vai trò to lớn trong việc phản
ánh đời sống xã hội. Không một quyển sách giao khoa nào, không một bài trình
bày nào của giáo viên có khả năng cung cấp cho học sinh cái điều mà các em thu
nhận được khi đọc các cuốn tiểu thuyết về những biến cố lịch sử quan trọng [13;
88] và I.I. Lecne (1977), Dạy học nêu vấn đề (NXB Giáo dục) cho rằng lễ hội
“là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo, đậm đà truyền thống lịch sử -
văn hóa và mang bản sắc văn hóa dân tộc” [29; 37]

“Sử dụng di tích lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường
trung học phổ thông tỉnh Hưng Yên”, luận văn thạc sĩ, 2010, Đại học Sư phạm
Hà Nội [25], đã đề cập đến cơ sở lí luận và những hình thức, biện pháp trong
việc sử dụng di tích ở trường THCS và THPT ở Thanh Hóa và Hưng Yên. Ngoài
ra còn có “ Tổ chức hưỡng dẫn HS phổ thông tham gia lễ hội xuân tại các di tích
lịch sử văn hóa” (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 5 năm 1997), giáo dục ý thức
6
tôn trọng, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cho HS qua môn lịch sử”,
(Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 308 năm 2012). Tuy nhiên các công trình
nghiên cứu trên chỉ đề cập đến hình thức và biện pháp sử dụng di tích lịch sử -
văn hóa. Ngoài ra còn có “Hướng dẫn cách tổ chức thăm một làng nghề ở địa
phương” của Nguyễn Văn Hằng trong giáo trình Lịch sử địa phương, NXB Đại
học sư phạm. Trong đó tác giả đã gợi ý một số cách thức tổ chức thăm quan tại
một làng nghề truyền thống ở địa phương.
Đặc biệt, được sự hỗ trợ của UNESSCO, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã biên
soạn cuốn tài liệu “Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông” [5]. Tài
liệu đã đề cập đến khái niệm di sản văn hóa, đặc điểm, phân loại di sản, ý
nghĩa của di sản với hoạt động dạy học, giáo dục phổ thông, một số nội dung
pháp luật di sản, các hình thức tổ chức dạy học và phương pháp sử dụng di
sản trong dạy học, quản lí sử dụng di sản trong dạy học…và một số ví dụ
minh họa là thiết kế các bài học sử dụng di sản trong dạy học theo cấp THCS
và THPT của các môn học trong đó có môn lịch sử. Đây là nguồn tài liệu
tham khảo quan trọng của giáo viên các trường phổ thông hiện nay khi sử
dụng di sản trong dạy học.
Như vậy nhìn chung cho tới nay chưa có một công trình nào mà nghiên
cứu một cách chi tiết, toàn diện và có hệ thống về sử dụng di sản văn hoá phi
vật thể trong trong dạy học lich sử. Kế thừa những thành quả của các công
trình nghiên cứu trên, sử dụng những tài liệu thu thập được chúng tôi cố gắng
khai thác tìm hiểu những kết quả xác đáng, đảm bảo khoa học đưa ra hình
thức, biện pháp phù hợp với tên đề tài để dạy học đạt kết quả cao nhất.

- Tìm hiểu các di sản văn hoá phi vật thể ở Hà Tĩnh có thể sử dụng để
phục vụ dạy học phần lịch sử Việt Nam thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX lớp
10 -THPT (chương trình chuẩn).
8
- Đề xuất hình thức, biện pháp sử dụng di sản văn hoá phi vật thể trong
dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10 từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX (chương
trình chuẩn)
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các biện pháp sư phạm đã đề xuất
trên cơ sở đó rút ra kết luận về tính khả thi của các biện pháp được tiến hành .
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của đề tài: Là lý luận của chủ nghĩa Mác LêNin,
và tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam về giáo
dục và giáo dục lịch sử.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
5.2.1. Nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tác phẩm của các tác giả kinh điển, của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, của Đảng về giáo dục .
- Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu giáo dục học, tâm lý học và các tài
liệu về lý luận dạy học bộ môn Lịch sử và các tài liệu khác liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa lịch sử lớp 10 ở THPT từ thế kỉ X
đến nửa đầu thế kỉ XIX để xác định kiến thức liên quan đến nội dung các di
sản văn hoá phi vật thể ở Hà Tĩnh.
5.2.2. Nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng phiếu đối với giáo viên lịch sử, các em học sinh để tìm
hiểu thực trạng sử dụng các di sản văn hoá phi vật thể tại địa phương trong
dạy học lịch sử ở trường THPT tỉnh Hà Tĩnh.
- Thực nghiệm sư phạm: Soạn bài và tiến hành thực nghiệm sư phạm để
kiểm tra giả thuyết của luận văn và rút ra kết luận khái quát để khẳng định
tính khả thi của đề tài.

XIX lớp 10 THPT tỉnh Hà Tĩnh (chương trình chuẩn).
10
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
DI SẢN VĂN HOÁ PHI VẬT THỂ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1. Quan niệm
1.1.1.1. Một số khái niệm
- Di sản văn hoá
Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của đất nước là chất liệu gắn
kết cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là cở sở để sáng tạo ra những giá trị tinh
thần mới là một bộ phận to lớn của nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Vậy di sản văn hóa là gì?
“Di” có nghĩa là để lại, “Sản” là tài sản. Vậy nên di sản là những tài sản
của con người trong quá khứ để lại cho hậu thế. Những tài sản đó gắn với đời
sống của con người đương thời. Thông qua đó, là phản ánh những hoạt động,
đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của con người qua các thời kì lịch sử.
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về văn hóa. Văn hóa hiểu theo
nghĩa chung nhất là bao gồm tất cả những gì không phải từ thiên nhiên mà
con người sáng tạo ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những
công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của
mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã
sản sinh nhằm thích ứng những nhu cầu của cuộc sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn.” [62;21]. Trong khái niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh, nét đặc trưng của
văn hóa là sự sáng tạo và phát minh, tức là tạo ra những giá trị vật chất và tinh
thần, có ý nghĩa lớn cho khoa học và cho loài người. Cố thủ tướng Phạm Văn

những giá trị di sản văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách
mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [5; 18].
Luật về di sản văn hoá của Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tại khoản 1 điều 1
“di sản văn hoá quy định tại luật này bao gồm di sản văn hoá vật thể và di sản
văn hoá phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá,
khoa học, được lưu tuyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.” [54; 6].
Như vậy, khái niệm về di sản văn hóa Việt Nam được quy định tại
khoản 1. điều 1. của Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001 (sửa đổi, bổ
sung 2009) là cơ sở pháp lí quan trọng cho các hoạt động bảo vệ và phát huy
di sản, tăng cường hiệu lực quản lí của nhà nước, nâng cao trách nhiệm của
người dân tham gia bảo vệ và phát huy di sản văn hóa, góp phần xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
- Di sản văn hoá vật thể
Theo Từ điển tiếng việt, vật là “tiếng chỉ chung các thứ. Các loại hình
thể” [58; 890] còn vật thể là “vật có những thuộc tính vật lí nhất định” [57;
888] Di sản văn hoá vật thể được quy định tại điều 4 luật Quốc hội
nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 28/2001/QH10
“Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị
lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử- văn
hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc
gia.”[54; 7].
+ Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa
điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công
trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học.
13
+ Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên
hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên
với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ khoa

đề phát triển bền vững”[5].
Còn ở Việt Nam, khái niệm di sản văn hoá phi vật thể được
quy định tại khoản 1 điều 4 luật của Quốc hội nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 28/2001/QH10 về di sản
văn hoá và sau đó được sửa đổi và bổ sung tại kỳ họp
thứ 5 của Quốc hội khoá XII như sau:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng
hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và
được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền
nghề, trình diễn và các hình thức khác.” [45; 7].
Tóm lại, di sản văn hoá phi vật thể, vật thể là tài sản
của đất nước, của dân tộc, là sản phẩm vật chất và tinh
thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học. Vì vậy, đòi hỏi
mỗi công dân Việt Nam phải tự ý thức trách nhiệm bảo
vệ, giữ gìn và phát huy di sản văn hoá Việt Nam.
1.1.1.2. Các loại di sản văn hoá phi vật thể
Luật Di sản văn hoá đã quy định di sản văn hoá phi vật thể của Việt
Nam bao gồm:
+ Tiếng nói, chữ viết;
15
+ Tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học có giá trị lịch sử văn hoá
khoa học;
+ Ngữ văn truyền miệng bao gồm thần thoại, tục ngữ, ngạn ngữ, câu đố,
ngụ ngôn, ca dao, truyện thơ dân gian, sử thi, trường ca văn tế, lời khấn và
các hình thức ngữ văn truyền miệng khác;
+ Diễn xướng dân gian bao gồm âm nhạc, múa, sân khấu, trò nhại, giả
trang, diễn thời trang, diễn người đẹp, hát đối, trò chơi và các hình thức diễn
xướng dân gian khác;
+ Lối sống, nếp sống thể hiện qua khuôn phép ứng xử- đối nhân- xử thế:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status