ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
************* VÕ BIÊN THÙY QUÁ TRÌNH TRUYỀN THÔNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH
TRÊN BÁO IN ( KHẢO SÁT BÁO: BẮC NINH, VĂN HÓA; TẠP CHÍ: VĂN HÓA
NGHỆ THUẬT, VĂN HÓA DÂN GIAN, HERITAGE
TỪ THÁNG 6/ 2001 ĐẾN THÁNG 6/2011 )
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN THỊ MINH THÁI
HÀ NỘI – 2012
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 4
3. Phương pháp nghiên cứu 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn 5
7. Bố cục luận văn 6
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG VÀ
DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH 7
1.1. Truyền thông và quá trình truyền thông 7
1.2. Di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Quan họ Bắc Ninh 12
Tiểu kết chương 1 27
Chương 2: PHÂN TÍCH QUÁ TRÌNH TRUYỀN THÔNG VỀ DI SẢN
đến tháng 6/2011 64
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3: KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP TRUYỀN THÔNG DI
SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ DÂN CA QUAN HỌ BẮC NINH
TRÊN BÁO IN 66
3.1. Kinh nghiệm truyền thông di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Quan họ Bắc
Ninh trên báo in 66
3.1.1. Thuận lợi trong quá trình truyền thông di sản văn hóa phi vật thể Dân
ca Quan họ Bắc Ninh trên báo in 66
3.1.2. Hạn chế trong quá trình truyền thông di sản văn hóa phi vật thể Dân
ca Quan họ Bắc Ninh trên báo in 67
3.2. Giải pháp truyền thông di sản văn hóa phi vật thể Dân ca Quan họ Bắc
Ninh trên báo in 69
3.2.1. Đối với cấp trung ương 70
3.2.2. Đối với tỉnh Bắc Ninh 71
3.2.3. Đối với báo chí 79
Tiểu kết chương 3 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
PHỤ LỤC CỦA LUẬN VĂN 89
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kể từ khi công ước Di sản thế giới của UNESCO được thông qua
cách đây hơn 30 năm, ngày càng nhiều quốc gia nhận thức được rằng cùng
phát huy di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trên báo chí” – Luận văn tốt
nghiệp của Lê Vũ Điệp – Khoa Báo chí Truyền thông – Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn; “Báo chí với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Hà
Nội” – Luận văn tốt nghiệp của Hoàng Hương Trà – Khoa Báo chí Truyền
thông – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn… Nhưng nghiên cứu đề tài
truyền thông về di sản văn hóa phi vật thể Dân ca quan họ Bắc Ninh trên báo
in thì cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào được công bố.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Tổng hợp các quan điểm liên quan đến đề tài từ các tài liệu khoa học,
sách, báo, tạp chí.
- Sưu tầm, thống kê các dữ liệu về các sự kiện liên quan đến đề tài qua
sự thể hiện trên mặt báo.
- Sưu tầm tin, bài của báo chí viết về “Dân ca Quan họ Bắc Ninh”.
- Dựa trên kết quả nghiên cứu để rút ra kết luận cuối cùng.
- Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp như: Logic lịch sử,
phân tích tổng hợp thống kê, so sánh, quy nạp và diễn dịch.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Chúng tôi đi vào nghiên cứu vấn đề này trên 2 tờ báo là Văn hóa (Bộ
VHTTDL), Bắc Ninh và 3 tờ tạp chí là Văn hóa nghệ thuật (Bộ VHTTDL), 5
Văn hóa dân gian (Viện KHXHVN) và Heritage để có cái nhìn chính xác, cụ
thể về vấn đề.
- Thời gian nghiên cứu được giới hạn cụ thể trong 10 năm từ tháng 6
năm 2001 đến hết tháng 6 năm 2011 trên các báo và tạp chí nêu trên.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về nguồn gốc, đặc điểm, quá trình diễn xướng của Dân ca
Quan họ Bắc Ninh được phản ánh trên báo in.
- Tìm hiểu nội dung tin, bài qua khảo sát để xác định mức độ tham gia
dưới góc nhìn văn hóa Việt Nam để rút ra được những kinh nghiệm thực
tiễn trong quá trình truyền thông cho di sản văn hóa trên loại hình báo in
sao cho hiệu quả và hấp dẫn nhất với công chúng.
7. Bố cục luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính
của luận văn được chia làm 3 chương cơ bản:
- Chương 1: Lý luận chung về báo chí truyền thông và Dân ca Quan
họ Bắc Ninh
- Chương 2: Phân tích quá trình truyền thông Dân ca Quan họ Bắc
Ninh trên báo in
- Chương 3: Kinh nghiệm, giải pháp và mô hình truyền thông di sản
văn hóa phi vật thể Dân ca Quan họ Bắc Ninh trên báo in.
7
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG VÀ DÂN CA
QUAN HỌ BẮC NINH
1.1. Truyền thông và quá trình truyền thông
1.1.1. Khái niệm truyền thông
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền
năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và
nhận thức”
1.1.2. Quá trình truyền thông
Muốn truyền thông đạt hiệu quả cao cần phải nắm vững các bước, các
khía cạnh và các yếu tố của quá trình truyền thông.
-Người gửi(sender) là bên gửi thông điệp cho bên còn lại (còn được gọi là
nguồn truyền thông).
-Mã hóa(encoding) là tiến trình chuyển ý tưởng thành các biểu tượng.
-Thông điệp(message) : Tập hợp các biểu tượng mà bên gởi truyền đi.
-Phương tiện truyền thông(media) gồm các kênh truyền thông qua đó thông
điệp truyền đi từ người gửi đến người nhận.
-Giải mã(decoding) là tiến trình người nhận quy ý nghĩa cho các biểu tượng
do người gửi truyền đến.
-Người nhận(receiver) là bên nhận thông điệp do bên kia gửi đến.
-Đáp ứng(response) là tập hợp những phản ứng mà người nhận có được sau
khi tiếp nhận thông điệp. 9
-Phản hồi(feeback) là một phần sự đáp ứng của người nhận được thông tin
trở lại cho người gửi.
-Nhiễu tạp(noise) là những yếu tố làm sai lệch thông tin trong quá trình
truyền thông, dẫn đến kết quả là người nhận nhận được một thông điệp không
giống thông điệp được gửi đi.
Các yếu tố trong quá trình truyền thông
Mô hình này nhấn mạnh những yếu tố then chốt trong hệ thống truyền
thông có hiệu quả. Người gửi phải truyền đạt thông tin đến công chúng mục
tiêu và định rõ xem mình muốn có những phản ứng đáp lại nào từ phía công
chúng. Họ phải mã hóa thông điệp của mình theo cách có tính đến quá trình
những điểm chính đến công chúng.
Đối với sự ghi nhớ có chọn lọcngười truyền đạt phải cố làm cho thông
điệp lưu lại lâu dài trong trí nhớ của người nhận, nơi lưu giữ tất cả những
thông tin đã được xử lý. Khi đi vào trí nhớ lâu dài của người nhận thông điệp
có thể cải biến niềm tin và thái độ của người nhận. Nhưng trước tiên thông
điệp phải lọt vào được trí nhớ ngắn của người nhận, nơi xử lý những thông tin 11
đến với dung lượng lưu trữ có hạn, và từ đó nó được chuyển sang trí nhớ lâu
dài của họ tùy thuộc vào số lần người nhận nhớ lại thông điệp đó và chi tiết
hóa ý nghĩa của thông tin. Nếu thái độ lúc đầu của người nhận đối với sự vật
là tích cực và người đó nhớ lại những luận cứ ủng hộ, thì thông điệp đó sẽ tiếp
nhận và ghi nhớ kỹ. Nếu thái độ lúc đầu của người nhận là tiêu cực và người
đó nhớ lại những lý lẽ phản bác, thì thông điệp bị từ chối, nhưng vẫn lưu lại
trong trí nhớ lâu dài. Lập luận phản bác ức chế việc thuyết phục bằng cách
đưa ra một thông điệp chống lại đã có sẵn. Phần lớn việc thuyết phục đòi hỏi
người nhận phải nhớ lại những suy nghĩ của mình. Phần lớn những trường
hợp gọi là thuyết phục thật ra là tự thuyết phục.
Qua nghiên cứu người ta thấy những đặc điểm của công chúng có mối
tương quan với khả năng bị thuyết phục của họ. Những người có trình độ học
vấn cao hay có tri thức được xem là khó bị thuyết phục, tuy nhiên điều này
chưa có bằng chứng xác đáng. Phụ nữ được xem là dễ bị thuyết phục hơn đàn
ông. Những người phụ nữ coi trọng vai trò giới tính truyền thống dễ bị ảnh
hưởng hơn những phụ nữ không muốn chấp nhận vai trò truyền thống. Những
người lấy chuẩn mực bên ngoài làm định hướng cho hành động và không có
quan điểm riêng của mình thường có vẻ dễ bị thuyết phục hơn. Nhữîng người
thiếu tự tin cũng được xem là dễ bị thuyết phục. Tuy nhiên, kết quả nghiên
cứu của Cox và Bauer đã chứng tỏ rằng giữa lòng tự tin và khả năng bị thuyết
phục có mối liên hệ phi tuyến và những người có lòng tự tin vừa phải lại là
Giống như khái niệm “văn hóa”, không có một định nghĩa duy nhất cho
khái niệm “Di sản văn hóa phi vật thể”. Đây là một khái niệm rất rộng, dùng
để chỉ các hình thức đa dạng, phức tạp của các di sản đang tồn tại và đang
trong quá trình tiến hóa không ngừng 13
Điều 4 – Luật Di sản văn hóa 2003 định nghĩa: “Di sản văn hoá phi vật
thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ
bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình
diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết,
tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng
dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống,
tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền
thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.”
Theo Giáo sư Tô Ngọc Thanh: “Trong xã hội Việt Nam hiện nay, cũng
như cách hiểu của UNESCO, khi nói đến giá trị văn hóa phi vật thể là người
ta nghĩ ngay đến các giá trị văn hóa cổ truyền, chứ không phải giá trị văn hóa
đương đại. Có 2 lý do chủ yếu: Thứ nhất: Để hình thành các giá trị văn hóa thì
phải có một quá trình kết tinh, mà người ta gọi quá trình đó là “Độ lùi lịch
sử". Có những cái hôm nay chúng ta cho là tốt nhưng lịch sử sẽ phủ định, có
cái ta cho là phải vứt bỏ thì chính đó lại là giá trị mà lịch sử sau này thừa
nhận. Thứ hai: Là vì khối lượng văn hóa cổ truyền của tất cả các dân tộc trên
thế giới là đồ sộ, được tạo ra trong quá trình hình thành loài người hàng ngàn
năm mà đến nay người ta chưa hiểu biết hết và người ta thấy rằng nó cực kỳ
quý giá bởi tính nhân văn và tính dân tộc. Mặc khác, chúng ta đang có nguy
cơ bị mất, bị lãng quên bởi sự xâm lấn của các kỹ thuật, lối sống đương
đại…Cho nên khái niệm văn hóa phi vật thể tập trung vào các giá trị văn hóa
cổ truyền là đúng”
Khoản 1 điều 2 mục I Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của
Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội, di sản văn hóa phi vật
thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 16/11/2010.
Ca trù là di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, được
công nhận ngày 01/10/2009. 15
Dân ca Quan họ, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được
công nhận ngày 30/9/2009.
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được công nhận là kiệt
tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005,
đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện
của nhân loại.
Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại
Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được
công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được công nhận vào ngày
6/12/2012
Các đề cử mới cho di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam:
Đờn ca tài tử Nam Bộ.
1.2.2. Nguồn gốc Dân ca Quan họ Bắc Ninh
Dân ca Quan họ (còn được gọi là Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Dân ca
Quan họ Bắc Giang hay Dân ca Quan họ Kinh Bắc ) là những làn điệu dân
ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ, Việt Nam; tập trung ở vùng văn hóa Kinh
Bắc - tức Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay. Tên gọi Quan họ Bắc Ninh không
có nghĩa tỉnh Bắc Ninh là chủ thể chính của thể loại dân ca này, Bắc Ninh hay
Kinh Bắc được hiểu là tỉnh Bắc Ninh cũ mà ngày 10/10/1895, tỉnh Bắc Giang
tách khỏi tỉnh này. Tuy nhiên, loại hình dân ca này chủ yếu phát triển mạnh ở
vùng ven sông Cầu, một ranh giới tự nhiên của hai tỉnh.
Ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính
giáo dân mang yếu tố phồn thực chứ không phải Quan họ có nguồn gốc từ âm
nhạc cung đình, hoặc có quan điểm nhận định diễn tiến của hình thức sinh
hoạt văn hóa "chơi Quan họ" bắt nguồn từ nghi lễ tôn giáo dân gian qua cung
đình rồi trở lại với dân gian. 17
Nhận định khác dựa trên phân tích ngữ nghĩa từ ngữ trong các làn điệu
và không gian diễn xướng lại cho rằng Quan họ là "quan hệ" của một nhóm
những người yêu quan họ ở vùng Kinh Bắc.
Tuy vậy vẫn chưa có quan điểm nào được đa số các học giả chấp nhận.
Quan họ ngày nay không chỉ là lối hát giao duyên (hát đối) giữa "liền anh"
(bên nam, người nam giới hát quan họ) và "liền chị" (bên nữ, người phụ nữ
hát quan họ) mà còn là hình thức trao đổi tình cảm giữa liền anh, liền chị với
khán giả. Một trong những hình thức biểu diễn hát quan họ mới là kiểu hát
đối đáp giữa liền anh và liền chị. Kịch bản có thể diễn ra theo nội dung các
câu hát đã được chuẩn bị từ trước hoặc tùy theo khả năng ứng biến của hai
bên hát.
1.2.3. Đặc điểm Dân ca Quan họ Bắc Ninh
Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh có 44 làng quan họ. Các làng quan họ Kinh
Bắc tồn tại nhiều ở các huyện: Yên Phong, Từ Sơn, Tiên Du, thành phố Bắc
Ninh (còn gọi là quan họ bờ nam sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Ninh).
Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho
tàng dân ca Việt Nam. Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng. Cho đến
nay, đã có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký âm. Các bài quan họ được giới
thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá.
Dân ca Quan họ là hát đối đáp nam,nữ. Họ hát Quan họ vào mùa xuân,
mùa thu khi có lễ hội hay khi có bạn bè. Một cặp nữ của làng này hát với một
cặp nam của làng kia với một bài hát cùng giai điệu, khác về ca từ và đối
giọng. Cặp hát phân công người hát dẫn, người hát luồn nhưng giọng hát của
19
Trang phục quan họ của liền anh
Liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới
quá đầu gối. Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo
dài. Riêng áo dài bên ngoài thường màu đen, chất liệu là lương, the, hoặc đối
với người khá giả hơn thì áo ngoài may bằng đoạn mầu đen, cũng có người áo
dài phủ ngoài may hai lần với một lần ngoài bằng lương hoặc the, đoạn, lần
trong bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá mạ non, màu vàng chanh gọi là
áo kép. Quần của liền anh là quần dài trắng, ống rộng, may kiểu có chân què
dài tới mắt cá chân, chất liệu may quần cũng bằng diềm bâu, phin, trúc bâu,
hoặc lụa truội màu mỡ gà. Có thắt lưng nhỏ để thắt chặt cạp quần. Đầu liền
anh đội nhiễu quấn hoặc khăn xếp. Thời trước, đàn ông còn nhiều người búi
tó nên phải vấn tóc bằng khăn nhiễu. Sau này phần nhiều cắt tóc, rẽ đường
ngôi nên chuyển sang dùng loại khăn xếp bán sẵn ở các cửa hàng cho tiện.
Cùng với quần, áo, khăn xếp, dép,… các liền anh thường có thêm nón chóp
với các dạng chóp lá thường hoặc chóp dứa, có quai lụa màu mỡ gà. Ngoài ra 20
cũng thường thấy các liền anh dùng ô đen. Các phụ kiện khác là khăn tay,
lược, những "xa xỉ phẩm" theo quan niệm thời xưa. Khăn tay bằng lụa hoặc
bằng vải trắng rộng, gấp nếp và gài trong vành khăn, thắt lưng hoặc trong túi
trongTrang phục liền chị thường được gọi là "áo mớ ba mớ bảy", nghĩa là
liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào
nhau (mớ bảy). Tuy nhiên trong thực tế, các liền chị thường mặc áo mớ ba.
màu đen. Người biết mặc váy khéo là không để váy hớt trước, không để váy 22
quây tròn lấy người như mặc quần mà phải thu xếp sao cho phía trước rủ hình
lưỡi chai xuống gần tới mu bàn chân, phía sau hơi hớt lên chớm tầm đôi con
khoai phía gót chân.
Liền chị mang dép cong làm bằng da trâu thuộc theo phương pháp thủ
công; có một vòng tròn bằng da trên mặt dép để xỏ ngón chân thứ hai khiến
khi đi lại, không rơi được dép. Mũi dép uốn cong và người thợ làm dép phải
biết nện, thuộc cho mũi dép cứng, như một lá chắn nhỏ, che dấu đầu các ngón
chân. Ngoài áo, quần, thắt lưng, dép, người liền chị còn chít khăn mỏ quạ, đội
nón quai thao, và thắt lưng đeo dây xà tích.
Những thành tố của không gian văn hóa quan họ thể hiện ở hình thức
sinh hoạt, diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ đối
nhau về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian.
Người vùng Kinh Bắc, từ già đến trẻ ai cũng hát được một vài làn điệu
quan họ. Người chơi quan họ sành điệu không chỉ hát hay, hát được nhiều làn
điệu mà phải hát được nhiều bài lời cổ. Người Kinh Bắc hát dân ca quan họ,
chơi quan họ không những trong dịp lễ hội mà cả trong khi lao động, trong các
đám giỗ chạp Mỗi khi lễ hội mùa xuân, các làn điệu quan họ với những câu
hát trữ tình làm say đắm lòng người quan họ và khách thập phương ngân lên
trong không gian văn hoá quan họ. Quá trình hình thành lời ca, làn điệu quan
họ gắn liền với quá trình phát triển của đời sống xã hội nhằm nâng cao và tôn
vinh các mối quan hệ cộng đồng và giao lưu văn hóa. Cũng vì lẽ đó, sinh hoạt
quan họ thường gắn liền với những sinh hoạt hội hè, ca hát, giao lưu; gắn với
đời sống tình cảm, tinh thần của người lao động biết hưởng tới cái đẹp. Dân ca
quan họ mang nhiều nét độc đáo, được chia thành những loại sau:
Quan họ truyền thống : Theo các nhà nghiên cứu văn hóa Quan họ,
vùng Kinh Bắc có tất cả 49 làng duy trì được lối chơi văn hóa Quan họ (44
thống, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa Quan họ