Quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với nhóm lao động thất nghiệp trên địa bàn thành phố hà nội - Pdf 35

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sỹ “Quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất
nghiệp đối với nhóm lao động thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội”
được hoàn thành sau một thời gian làm việc khẩn trương và nghiêm túc.
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Xã hội học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã
giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ này.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới
thầy giáo PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình
giúp đỡ và cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Xã
hội học, Trường Đại học Khoa học và Xã hội Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà
Nội đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời
gian theo học tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, tập thể cán bộ Trung tâm dịch vụ
việc làm Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian thu thập tài liệu phục vụ
cho luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn các anh chị và các bạn lớp Cao học Công tác xã
hội khóa 2012 đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt tới bạn bè và người thân
trong gia đình tôi, những người đã động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học và khóa luận tốt nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 8 năm 2015
Học viên

Nguyễn Thị Lan



10. Cấu trúc luận văn............................................................................................12
NỘI DUNG..........................................................................................................13
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU. ..................13
1.1. Các khái niệm làm việc .................................................................................13
1.1.1. Thất nghiệp.................................................................................................13
1.1.2. Bảo hiểm thất nghiệp .................................................................................15
1.1.3.Chính sách bảo hiểm thất nghiệp ................................................................15
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu ...........................................................16
1.2.1. Lý thuyết hệ thống ......................................................................................16
1.2.2. Lý thuyết nhu cầu Maslow..........................................................................18
1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về việc thực hiện an sinh xã hội............19
1.4. Khái quát điều kiện kinh tế xã hội của Hà Nội .............................................22
1.4.1.Điều kiện tự nhiên. ......................................................................................22
1.4.2. Điều kiện kinh tế - xã hội. ..........................................................................23

1


CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI...........................26
2.1. Khái quát về chính sách bảo hiểm thất nghiệp..............................................26
2.1.1. Nội dung của chính sách bảo hiểm thất nghiệp .........................................26
2.1.2. Vai trò của chính sách bảo hiểm thất nghiệp.............................................31
2.2. Đặc điểm của người lao động thất nghiệp trên địa bàn nghiên cứu..............33
2.3. Bộ máy và quy trình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp ở Hà
Nội ........................................................................................................................36
2.3.1.Tổ chức bộ máy, nhân sự ............................................................................36
2.3.2. Thủ tục giải quyết chế độ ...........................................................................40
2.3.3. Quy trình thực hiện ....................................................................................43
2.3.4. Công tác phối hợp thực hiện ......................................................................50

thất nghiệp (%) .....................................................................................................53
Biểu đồ 8: Kết quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp (người) .............................56
Biểu đồ 9:Tỷ lệ số người hưởng trợ cấp thất nghiệp được tư vấn giới thiệu
việc làm năm 2014(%).….……………………………………..........………..59
Biểu đồ 10: Số người thất nghiệp được hỗ trợ học nghề (người)....................…60

* BẢNG
Bảng 1: Tỷ lệ sự phối hợp giữa lao động, cán bộ thực hiện, doanh nghiệp trong
quá trình giải quyết bảo hiểm thất nghiệp (%) .....................................................51
Bảng 2: So sánh một số chỉ tiêu thực hiện hiểm thất nghiệp 2 năm trở lại đây
( người) ................................................................................................................58

3


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ngày 01.01.2009 tại Việt Nam một loại hình bảo hiểm mới đã bắt đầu có
hiệu lực nhằm bảo vệ, hỗ trợ những đối tượng lao động thất nghiệp đó là bảo
hiểm thất nghiệp [25]. Sự ra đời của loại hình bảo hiểm này thực sự là một bước
tiến lớn trong con đường phát triển của ngành bảo hiểm Việt Nam nói riêng và
nỗ lực đảm bảo an sinh xã hội của Đảng và nhà nước ta nói chung.
Bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) ra đời gắn với giai đoạn đầy khó khăn của
nền kinh tế nước ta cũng như kinh tế thế giới, giai đoạn mà chúng ta phải chứng
kiến nhiều doanh nghiệp phá sản, hàng nghìn lao động rơi vào cảnh thất
nghiệp[42,tr.66]. Đặc biệt trên địa bàn thủ đô Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
hành chính, dân số tuy lớn nhưng sự mất cân đối giữa cung – cầu khá rõ nét, chất
lượng cung qua đào tạo giảm hơn so với trước[42,tr.66]. Hàng năm, Hà Nội có
khoảng trên dưới 75.000 người bước vào độ tuổi lao động nhưng khả năng thu
hút lao động của nên kinh tế lại có hạn [44]. Trong khi đó tác động của cuộc khủng

tượng thất nghiệp đã bắt đầu xuất hiện và tình trạng thất nghiệp có xu hướng
ngày càng gia tăng, kể cả khu vực nông thôn và thành thị. Chính vì vậy, BHTN
và trợ cấp thất nghiệp đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và
nhiều nhà quản lý. Mỗi một tác giả đi vào tìm hiểu, nghiên cứu ở nhiều khía
cạnh và cấp độ khác nhau như:
Cuốn “Một số vấn đề cơ bản về chính sách xã hội ở Việt Nam hiện nay” do
tác giả Mai Ngọc Cường chủ biên, gồm hai phần phần thứ nhất các tác giả giới
thiệu khái quát về đặc điểm, mục tiêu, nguyên tắc và quá trình chính sách xã hội,
cũng như hệ thống các chính sách xã hội phổ biến ở nước ta, phần thứ hai tác giả
đề cập tới thực trạng và những thành tựu đạt được cũng như hạn chế, vướng mắc
của các chính sách xã hội dưới góc độ các lĩnh vực như: chính sách về thu nhập,
giảm nghèo, an sinh xã hôi, bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm thất

5


nghiệp….Trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra những giải pháp và một số khuyến nghị
về xây dựng hệ thống chính sách xã hội ở Việt Nam trong những năm tới [6].
Năm 1993, trong cuốn “Một số vấn đề về chính sách BHXH ở nước ta hiện
nay” do nhà xuất bản lao động phát hành, tác giả Nguyễn Văn Phần đã có một
bài viết với tiêu đề: “Một số ý kiến về trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp hưu trí”. Nội
dung bài viết chỉ đề cập đến khái niệm về trợ cấp thất nghiệp và sự cần thiết phải
có trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong cơ chế thị trường [22].
Đề tài khoa học cấp bộ mã số B2000: “Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt
Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” của Nguyễn Văn Định và các cộng sự
của bộ môn Kinh tế Bảo hiểm – Trường Đại học kinh tế Quốc Dân được thực
hiện năm 2000. Tuy nhiên, do thời gian và kinh phí có hạn và khi đó luật BHXH
chưa ra đời cho nên nội dung của đề tài này mới chỉ dừng lại ở một số nội dung
chủ yếu mang tính định tính như: sự cần thiết khách quan phải triển khai BHTN
và nêu lên quan điểm chung về BHTN ở nước ta [13].

đại- vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam”. Trong chuyên
đề này, một số nội dung của BHTN đã bước đầu được đề cập, một số quan điểm
khi lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp đã được đưa ra. Vấn đề tổ chức thực
hiện BHTN chưa được làm rõ [2]. Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác như:
“Cơ chế tạo nguồn và tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp” (thực hiện năm
2003) Vụ chính sách Lao động và Việc làm, Bộ lao động thương binh và Xã hội
[47].
Bài viết “Mối quan hệ giữa chế độ Bảo hiểm thất nghiệp với chế độ Bảo
hiểm xã hội và giải quyết việc làm”. Tạp chí Bảo hiểm xã hội, 11/2005, của Lê
Thị Hoài Thu ,Bộ môn Luật Kinh doanh, Khoa Luật – ĐHQGHN đã nêu rõ hai
chế độ có liên quan tới giải quyết viêc làm là rất cần thiết, Tuy nhiên bài viết còn
nhiều hạn chế nặng về phân tích luật [31, tr.27-29].

7


Trong bài viết “Bảo hiểm thất nghiệp – Kết quả bước đầu và những vướng
mắc cần tháo gỡ” tác giả Lê Quang Trung, đã đề cập đến quá trình triển khai bảo
hiểm thất nghiệp tại các địa phương và những khó khăn vướng mắc quá trình
triển khai bảo hiểm thất nghiệp. Bài viết đã nêu ra một số khó khăn trong quá
trình triển khai bảo hiểm thất nghiệp như: Người sử dụng lao động chưa nhận
thức đầy đủ về trách nhiệm của mình và chưa nắm rõ các quy định về hoàn thiện
các thủ tục giấy tờ cho người lao động để đăng ký thất nghiệp và nộp hồ sơ bảo
hiểm thất nghiệp như các giấy tờ chứng minh về việc chấm dứt hợp đồng lao
động, làm các thủ tục chốt sổ bảo hiểm cho người lao động… Các cơ quan tổ
chức chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của chính sách nên công tác thông
tin tuyên truyền phổ biến ở một số địa phương còn chậm, hình thức thông tin
tuyên truyền còn nghèo nàn dẫn đến một bộ phận không nhỏ người lao động,
người sử dụng lao động không nắm bắt được, dẫn đến việc đăng ký thất nghiệp
và hoàn thiện hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp chậm theo quy định, ảnh hưởng

nay.
- Chỉ ra những khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách BHTN mà
người lao động thất nghiệp gặp phải .
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Bộ máy, quy trình thực hiện chính sách BHTN ở Hà Nội như thế nào?
- Thực tế tình hình chính sách BHTN trên địa bàn Hà Nội được thực hiện
như thế nào?
- Quá trình thực hiện chính sách BHTN có những khó khăn gì?

9


7. Giả thuyết nghiên cứu
- Hiện nay, bộ máy và quy trình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm
thất nghiệp được Trung tâm giới thiệu việc làm Hà Nội áp dụng phù hợp đảm
bảo việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp kịp thời, chính
xác, không ảnh hưởng đến thời gian giải quyết chế độ cho người lao động.
- Kết quả thực hiện chính sách BHTN trên địa bàn Hà Nội có tác dụng lớn
trong các lĩnh vực như trợ cấp thất nghiệp hàng tháng, tư vấn giới thiệu việc làm,
hỗ trợ học nghề…
- Quá trình thực hiện chính sách BHTN gặp phải những khó khăn như: có
quy định chưa phù hợp với thực tế, đội ngũ thực thi còn hạn chế về kinh nghiệm
và nghiệp vụ, nhiều doanh nghiệp còn trốn đóng nợ đọng BHXH, nhận thức của
người lao động thất nghiệp còn nhiều hạn chế....
8. Phƣơng pháp nghiên cứu.
8.1.Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu này có các nguồn tài liệu chính được thu thập và phân tích : các
công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài, các tài liệu, thông tin thu thập từ
Internet có liên quan tới đề tài, các tài liệu thông tin kinh tế xã hội do địa phương
cung cấp, tài liệu sẵn có( Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội- cục việc làm, bảo

trong quá trình phỏng vấn người lao động. Những quan sát này góp phần làm
sáng tỏ thêm những kết quả nghiên cứu định lượng mà nhà nghiên cứu thu thập
được. Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu.

11


9. Ý nghĩa của nghiên cứu
9.1. Ý nghĩa khoa học
Đây là đề tài nhằm áp dụng các lý thuyết khoa học để tiến hành tìm hiểu,
thu thập thông tin liên quan đến chính sách BHTN và việc vận dụng vào thực
tiễn. Qua đây có thể kiểm nghiệm được tính thực tế của những lý thuyết này
trong thực hành. Tác giả hy vọng nghiên cứu này góp phần cung cấp thêm một
góc nhìn mới đối với bảo hiểm thất nghiệp - một vấn đề mới ở Việt Nam.
9.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cung cấp những bằng chứng
thực tiễn về quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với nhóm
lao động thất nghiệp trên địa bàn Hà Nội. Từ đó, đề tài đưa ra những giải pháp
để nâng cao chất lượng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
10. Cấu trúc luận văn:
Luận văn này ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội
dung chính chia làm 2 chương . Chương 1: Cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người
lao động thất nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.

12


NỘI DUNG
CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU.

tìm việc làm. Nhìn chung, các tiêu chí này mang tính khái quát cao, đã được
nhiều nước tán thành và lấy làm cơ sở để vận dụng tại quốc gia mình khi đưa ra
những khái niệm về người thất nghiệp [30,tr.14]. Ví dụ như: Trong Luật bảo
hiểm thất nghiệp ở CHLB Đức (1969) định nghĩa: “Người thất nghiệp là người
lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công tác ngắn
hạn”. Ở Trung Quốc người thất nghiệp là: “Người trong độ tuổi lao động, có sức
lao động, mong muốn tìm việc nhưng không có việc”. Ở Pháp, người thất nghiệp
“là người không có việc làm, có điều kiện làm việc và đang tìm việc làm”
[30,tr.14].
Việc đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về “người thất nghiệp” là rất quan
trọng, từ đây sẽ tạo một cơ sở chung giúp cơ quan Nhà nước có những thống kê
chính xác về tình trạng thất nghiệp, và đề ra những chính sách khắc phục tình
trạng thất nghiệp và những hậu quả của nó phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội
của quốc gia. Ở Việt Nam từ khi chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước, thuật ngữ “thất nghiệp” được đề cập đến trong
những văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước ta (khởi đầu là Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII) và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Việt Nam giai đoạn 2001- 2010, giai đoạn 2010 -2020 [30,tr.15].
Tại khoản 4 điều 3 Luật BHXH năm 2006 thì “người thất nghiệp” là:
“người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp
đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm” [25,tr.3].
Như vậy, có thể tham khảo các tiêu chí của ILO để xây dựng khái niệm về
người thất nghiệp theo hướng toàn diện hơn, chẳng hạn: Người thất nghiệp là
người trong độ tuổi lao động và có khả năng làm việc, hiện không có việc làm
đem lại thu nhập, đang tích cực tìm việc và sẵn sàng làm việc.
14


1.1.2. Bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người

trong việc giải quyết và quản lý các vấn đề xã hội. Chính sách xã hội phải hướng
tới sự công bằng xã hội, bảo đảm sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa
các thành phần kinh tế trước pháp luật” [33,tr.106].
Chính sách xã hội thực chất là một hệ thống các chính sách. Mỗi chính
sách xã hội có đối tượng, phạm vi, nội dung điều chỉnh nhất định và nhằm vào
mục tiêu nhất định trong việc giải quyết một vấn đề xã hội đặt ra. Chính sách
BHTN mang đầy đủ những đặc trưng của chính sách xã hội và là một hợp phần
quan trọng của hệ thống chính sách xã hội. Có thể hiểu chính sách BHTN là một
trong những chính sách an sinh xã hội, thực hiện chức năng hỗ trợ phần thu nhập
của NLĐ khi bị mất việc làm.
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1. Lý thuyết hệ thống:
Người có công khởi sướng lý thuyết hệ thống tổng quát là Ludwig von
Bertalanffy(1901-1972) nhà sinh vật học người Áo, một nội dung cơ bản của lý
thuyết tổng quát là sự phát hiện và làm rõ đặc điểm, tính chất của các hệ thống
đóng và các hệ thống mở [29,tr.1].
Bertalanffy định nghĩa: một hệ thống đóng là khi hệ thống không có vật
chất nào xâm nhập vào hay không có vật chất nào thoát ra khỏi nó. Một hệ thống
mở là khi hệ thống có dòng vào và dòng ra và nhờ vậy có sự biến đổi của các vật
chất hợp thành. Với định nghĩa như vậy, hệ thống đóng là đối tượng nghiên cứu
chủ yếu của vật lý học và hóa học vô cơ. Còn hệ thống mở là đối tượng nghiên
cứu chủ yếu của khoa học về các hệ thống sống, của khoa học xã hội và khoa
học nhân văn. Lý thuyết nhấn mạnh các thuộc tính như tính tự điều tiết, tự tổ
chức rất cần được phát huy để đối phó với những rủi ro như sự vô cảm, vô trách
nhiệm có thể xảy ra trong quá trình phân hóa và biến đổi xã hội [29,tr.4].
16


Trong tiến trình thực hiện công tác xã hội, nhân viên công tác xã hội phải
vận dụng rất nhiều kỹ năng. Lý thuyết hệ thống chính là một lý thuyết cơ bản

những hệ thống xã hội, hệ thống cơ quan đoàn thể chịu trách nhiệm quản lý, thực
hiện chính sách, hệ thống truyền thông… Vấn đề xã hội này xảy ra khi thân chủ
không tiếp cận được hoặc gặp vấn đề khi tiếp cận với những hệ thống trên.
Vận dụng lý thuyết hệ thống vào đề tài nghiên cứu để tìm hiểu hệ thống
chính sách bảo hiểm thất nghiệp. Hệ thống chính sách bảo hiểm thất nghiệp nằm
trong hệ thống bảo hiểm xã hội, cũng là một trong những hệ thống an sinh xã hội
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, giúp người lao động tiếp cận và sử dụng hệ
thống mà họ đang có được tốt hơn, giúp tăng cường sự thông tin, qua lại giữa
những hệ thống xung quanh.
1.2.2. Lý thuyết nhu cầu Maslow
Abraham Maslow (1908 – 1970), nhà tâm lý học người Mỹ, được thế giới
biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn
(humanistic psychology) bởi hệ thống lý thuyết về thang nhu cầu (Hierachy of
Needs) của con người. Ngay từ sau khi ra đời, lý thuyết có tầm ảnh hưởng khá
rộng rãi và được ứng dụng rất nhiều ở lĩnh vực khoa học [17, tr.83].
Vào thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của
con người theo 5 cấp bậc: Nhu cầu cơ bản (basic needs): ăn uống, hít thở không
khí…Nhu cầu về an toàn (safety needs): tình yêu thương, nhà ở, việc làm…Nhu
cầu về xã hội (social needs): nhu cầu được hòa nhập. Nhu cầu được quý trọng
(esteem needs): được chấp nhận có vị trí trong một nhóm người, cộng đồng, xã
hội…Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing): nhu cầu được hoàn thiện,
phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình...[17,tr.83].
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm
chính sau: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bặc cao (meta needs). Nhu
cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn có đủ
thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ… Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu
18


cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu

Ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn
2012-2020[53]. Qua đó, thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước trong
việc xây dựng nền an sinh xã hội vững bền, thực hiện có hiệu quả các chính
sách, chế độ BHXH, BHYT; tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia
BHXH, nhất là BHXH tự nguyện; thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân. Phấn đấu
đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BH thất nghiệp; trên
80% dân số tham gia BHYT. Sử dụng an toàn và bảo đảm cân đối Quỹ BHXH
trong dài hạn quản lý, sử dụng có hiệu quả và bảo đảm cân đối Quỹ BHYT. Xây
dựng hệ thống BHXH, BHYT hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong hai nhiệm kỳ XI, XII, Quốc hội đã
thông qua 2 bộ Luật quan trọng, đó là Luật BHXH được thông qua tại kỳ họp
thứ 9, Quốc hội Khóa XI ngày 29/6/2006 và Luật BHYT được thông qua tại kỳ
họp thứ 4, Quốc hội Khóa XII ngày 14/11/2008 [53]. Qua đó, đã tăng độ bao
phủ, đáp ứng được nguyện vọng của người lao động và nhân dân cả nước. Tính
đến nay, cả nước đã có 11,66 triệu người tham gia BHXH bắt buộc; 65,2 triệu
người tham gia BHYT; 9,85 triệu người tham gia BH thất nghiệp. Từ năm 1995
đến nay, đã giải quyết cho trên 1,6 triệu người hưởng chế độ BHXH thường
xuyên; gần 70 triệu lượt người hưởng trợ cấp một lần và các chế độ ngắn hạn
khác; chi trả kịp thời lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho trên 2,7 triệu
người. Từ năm 2003 đến 2014, đảm bảo quyền lợi BHYT cho trên 994 triệu lượt
người, trong đó chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2015 đã thanh toán chi phí KCB
BHYT cho trên 10,3 triệu lượt người. trong 7 tháng đầu năm 2015, toàn ngành
giải quyết chế độ BHXH cho 4.372.909 lượt người… [53].
Với việc Quốc hội khóa XIII tại các kỳ họp thứ 7 và thứ 8 thông qua Luật
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT và Luật BHXH (sửa đổi), có thể
khẳng định năm 2014 đã để lại dấu ấn quan trọng trong tiến trình xây dựng sự
nghiệp an sinh xã hội của nước ta [53]. Đây được coi là dấu mốc lớn trong việc
21


một năm mới với niềm tin Hà Nội sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu mới.
Hiện nay, Hà Nội là hai trung tâm kinh tế - xã hội đặc biệt quan trọng của
Việt Nam. Năm 2012, sau khi mở rộng, GDP của thành phố tăng khoảng 8,1%
so với năm 2011 tổng thu ngân sách khoảng 85,5 tỷ đồng. Hà Nội cũng là một
trung tâm văn hóa, giáo dục với các nhà hát, bảo tàng, các làng nghề truyền
thống, những cơ quan truyền thông cấp quốc gia và các trường đại học lớn. Năm
2010 mức độ tăng trưởng gấp 1,5 lần so với 6,7% của năm 2009, xấp xỉ con số
10,9% năm 2008 và 11,2 năm 2007 [44].
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status