ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI
ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI
ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
XÁC NHẬN CỦA
kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cám ơn Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu
KH, LĐ &XH – Bộ LĐ, TB & XH đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu và
cung cấp thông tin của luận văn.
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong Trường Đại học kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như
trong quá trình hoàn thành luận văn này.
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt
nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn.
Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn không tránh khỏi những
thiếu sót. Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy, quý Cô, đồng
nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Nguyễn Thị Tuyết Mai
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT ................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ........................................................................................... iii
DANH MỤC HÌNH .................................................................................................. iv
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH BHXH .................................. 4
3.2 Thực trạng thực hiện chính sách BHXH cho LĐN ở Việt Nam : ................ 46
3.2.1 Tổ chức thực hiện chính sách BHXH: ................................................... 46
3.2.2. Thực hiện chính sách BHXH cho LĐN ................................................ 52
3.3. Đánh giá các thành tựu và hạn chế của việc thực hiện chính sách
BHXH cho người lao động nữ ở Việt Nam ................................................ 61
3.3.1. Thành tựu: ............................................................................................ 61
3.3.2. Những hạn chế trong việc thực hiện chính sách BHXH cho LĐN: ..... 65
3.4 Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách
BHXH cho lao động nữ ở Việt Nam ........................................................... 68
3.4.1. Các nhân tố từ môi trường bên ngoài: ................................................. 68
3.4.2. Các nhân tố từ môi trường bên trong: ................................................. 71
3.4.3. Các nhân tố khác ảnh hưởng đến quyền lợi của LĐN: ........................ 73
CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH BHXH CHO NLĐ, LĐN ....................................... 75
4.1. Quan điểm và mục tiêu thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ, LĐN: ...... 75
4.1.1 Dự báo tình hình, xu hướng phát triển chính sách BHXH: .................. 75
4.1.2 Mục tiêu thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ, LĐN: ........................ 75
4.2 Phương hướng thực hiện chính sách BHXH cho những năm tiếp theo: ...... 77
4.3 Giải pháp nâng cao việc thực hiện đối với LĐN: ......................................... 80
4.3.1 Các giải pháp chung: ............................................................................ 80
4.3.2 Các giải pháp liên quan đến LĐN trong thực hiện chính sách BHXH: 83
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
STT
KÝ HIỆU
Bệnh nghề nghiệp
6.
CCVC
Công chức, viên chức
7.
Cedaw
8.
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
9.
HLHPN
Hội liên hiệp Phụ nữ
10.
ILO
Tổ chức lao động quốc tê
16.
NN
Nhà nước
17.
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
18.
QLNN
Quản lý Nhà nước
19.
TNLĐ
Tai nạn lao động
20.
UBCV ĐXH
Ủy ban các Vấn đề Xã hội
Bảng 3.1
NSNN chi hỗ trợ các chế độ BHXH từ năm 2011-2014
50
2
Bảng 3.2
Số lượng LĐ tham gia BHXH bắt buộc, 2011–2014
53
3
Bảng 3.3
Số lượng LĐN tham gia BHXH bắt buộc, 2011–2014
54
4
Bảng 3.4
5
Bảng 3.5
LĐN từ 2011-2014
ii
Trang
56
58
59
60
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
Biểu
1
Biểu đồ 3.1
2
Biểu đồ 3.2
3
Biểu đồ 3.3
1
Hình 1.1
Sơ đồ hệ thống BHXH Việt Nam
25
2
Hình 1.2
Sơ đồ trách nhiệm các cơ quan QLNN về BHXH
26
3
Hình 1.3
Mô hình hóa hệ thống chính sách xã hội
30
4
Hình 3.1
Hệ thống văn bản pháp luật liên quan
tượng tham gia BHXH như: theo số liệu “Báo cáo tình hình quản lý và sử dụng quỹ
BHXH năm 2012” của BHXH Việt Nam gửi UBCV ĐXH Quốc hội ngày 20/2/2013
thì Lao đô ̣ng nữ chiếm tỷ lệ cao ở những ngành
/nghề/lĩnh vực không thuộc đối
tượng BHXH bắt buộc (lao động tự tạo việc làm; lao động gia đình không hưởng
lương); (ii) Lao động nữ chiếm tỷ lệ cao hơn ở khối doanh nghiệp tư nhân nhỏ lẻ,
hộ kinh doanh cá thể,… Đây lại là khu vực có tỷ lệ người lao động tham gia BHXH
1
bắt buộc thấp nhất (chỉ đạt 60-70%, so với các khu vực khác 80-90%); Tình hình nợ
đóng, chậm đóng BHXH của nhiều doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến quyền lợi của
người lao động, đặc biệt là lao động nữ sinh đẻ, ốm đau trong hoàn cảnh này sẽ
không được hưởng chế độ thai sản. Bên cạnh đó, đề tài “Định hướng mở rộng độ
bao phủ an sinh xã hội năm 2020” của Viện Khoa học Lao động và Xã hội: năm
2012 có 65% lao động không được tham gia BHXH ngắn hạn, trong đó 52% là lao
động nữ cho thấy tỷ lệ lao động nữ không được tham gia đầy đủ vào BHXH ngắn
hạn ít hơn lao động nam. Như vậy, lao động nữ luôn có nhiều rào cản, khó khăn
trong việc tham gia BHXH đồng nghĩa với việc thu hút, mở rộng quy mô đối tượng
tham gia BHXH đang còn nhiều trở ngại, kéo theo các vấn đề về mục tiêu an sinh
xã hội quốc gia và phát triển hệ thống BHXH .
Xuất phát từ cơ sở và thực trạng đặt ra, tác giả lựa chọn chủ đề “Thực hiện
chính sách Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ ở Việt Nam” làm luận văn thạc
sỹ, chuyên ngành quản lý kinh tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá viê ̣c thực hiê ̣n chin
́ h sách
BHXH Việt Nam từ 2011 đến nay dưới góc độ quyền của người lao động và lao
về BHXH.
Chƣơng 2:
Phương pháp nghiên cứu
Chƣơng 3:
Thực trạng thực hiện chính sách BHXH cho LĐN
Chƣơng 4:
Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện
chính sách BHXH cho LĐN
3
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH BHXH
1.1. Tình hình nghiên cứu về chính sách BHXH cho NLĐ
Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách BHXH
cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng như:
- Cuốn sách “Đổi mới và phát triển BHXH ở Việt Nam” của Tiến sĩ Dương
Văn Thắng chủ biên, xuất bản năm 2014 đã khái quát lịch sử hình thành và phát
triển của BHXH Việt Nam từ những năm trước cách mạng tháng 8 cho đến thời
điểm hiện nay. Tác giả đã phân tích rõ nguồn gốc sự ra đời của BHXH trong lịch
sử, trong đó dấu ấn là các chính sách và hoạt động BHXH trong các thời kỳ, cải
cách chính sách phù hợp với đường lối phát triển KT-XH của Đảng, thí điểm mô
cho chế độ BHXH cho người lao động nữ theo pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó,
tác giả cũng đề cập đến thực tế thực hiện, kết quả đạt được và những tồn tại trong
việc thực hiện BHXH cho lao động nữ, đưa ra đề xuất để hoàn thiện các quy định
về chế độ BHXH cho lao động nữ ở Việt Nam dựa trên việc nghiên cứu pháp luật
quốc tế và pháp luật của một số nước về BHXH. Nghiên cứu này được đặt trong
bối cảnh nghiên cứu luật pháp quốc tế và pháp luật của một số nước để chỉ ra được
những điều mà Việt Nam chưa làm được. Điều quan trọng thực trạng luật pháp về
thực hiện BHXH đối với lao động nữ cần phải được đặt trong bối cảnh chung về
người lao động, Đề tài nghiên cứu cũng chỉ dừng ở nghiên cứu lý luận là chính,
chưa đưa ra được thực tiễn thực hiện pháp luật BHXH cho LĐN như thế nào.
- Bài viết“ Nội luật hóa Cedaw về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ khi
dự thảo luật bảo hiểm xã hội” viết của thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Phụng đăng trên
mục pháp luật lao động Việt Nam với việc thực hiện CEDAW, Tạp chí luật học số
3/2006. Trong bài viết này, tác giả tập trung đánh giá các quy định riêng của BHXH
đối với lao động nữ theo pháp luật hiện hành, trên cơ sở các nguyên tắc chung trong
Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (Cedaw)
để đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện Dự thảo Luật BHXH 2006. Bên cạnh đó, tác
giả nhấn mạnh trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải hứơng
5
đến sự bình đẳng giữa nam và nữ, lao động nam và lao động nữ trong quyền lợi và
nghĩa vụ thực hiện BHXH. Bài viết đã phân tích rõ các quy định riêng cho LĐN và
so sánh, đối chiếu với quy định của CEDAW để áp dụng sửa đổi trong dự thảo luật
BHXH năm 2006. Tác giả không phân tích các chế độ BHXH này đã phù hợp với
LĐN ở Việt Nam chưa, hiện trạng đối tượng LĐN này thực hiện chính sách này ra
sao và gặp những khó khăn gì để từ đó cần phải nội luật hóa CEDAW đảm bảo
quyền lợi NLĐ nhưng vẫn phù hợp với bối cảnh của đất nước.
- Bài viết” Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ trong pháp luật một số
nƣớc Asean và những kinh nghiệm cho Việt Nam” của Ts Nguyễn Thị Kim
sản xuất phát triển, con người có các sản phẩm dư thừa, họ trao đổi lẫn nhau và có
sự tư hữu về tư liệu sản xuất, xuất hiện giai cấp. Từ đó, kéo theo nhu cầu sức lao
động ngày càng tăng. Theo Mác” Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ
năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể một con người đang sống và được
người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”. Sức lao
động là yếu tố cơ bản của mọi quá trình sản xuất và trở thành hàng hóa khi người
lao động được tự do về thân thể, tức là có quyền tự chủ về sức lao động của mình và
chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất định và khi người lao động không có
tư liệu sản xuất, họ phải bán sức lao động của mình để duy trì cuộc sống. Như vậy,
để làm ra hàng hóa thông thường, để tạo ra lượng giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao
động và để tạo ra giá trị gia tăng thì các yếu tố về tinh thần, thể chất tồn tại trong
người lao động phải đuợc tái tạo thường xuyên.
Năng lực lao động của con người không phải là vô hạn, mà là hữu hạn và không
phải bất kỳ người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe thể chất và tinh thần
để hoàn thành nhiệm vụ lao động. Khi nền kinh tế phát triển, yêu cầu và đòi hỏi về lao
động ngày càng tăng để đáp ứng sự phát triển và đòi hỏi của kinh tế thị trường thì việc
tái tạo lại sức lao động đóng vai trò vô cùng quan trọng. Cũng keo kinh tế học Mác Lê
Nin thì “tái sản xuất mở rộng sức lao động về mặt chất lượng thể hiện ở sự tăng lên về
thể lực (sức khỏe) và trí tuệ của người lao động qua các chu kỳ sản xuất..”, theo Mác
cho thấy việc tái sản xuất sức lao động này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mục đích
của nền sản xuất xã hội, chế độ phân phối sản phẩm và địa vị người lao động; những
đặc trưng mới của lao động do cách mạng khoa học công nghệ đòi hỏi, các chính sách
7
y tế, giáo dục và đào tạo của mỗi quốc gia. Như đã đề cập ở trên, sức lao động của con
người là hữu hạn và trong thực tế cuộc sống, người nào cũng có thể gặp phải những rủi
ro, tai nạn, ốm đau, già yếu hoặc mất việc làm do nhiều yếu tố tự nhiên, xã hội. Do đó,
để duy trì được sức lao động cho con người, cần phải có sự san sẻ và trợ giúp từ xã hội,
các nguồn lực bên ngoài để giúp họ duy trì cuộc sống và nâng cao thể lực, tái tạo sức
động, bệnh tật, ốm đau
- Những khó khăn làm giảm hoặc mất thu nhập: thất nghiệp, phụ nữ sinh đẻ.
Do vậy, khái niệm này được hiểu sự ra đời của BHXH đề trợ giúp những
người lao động khi họ gặp rủi ro để đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình.
Thứ hai, từ lịch sử hình thành BHXH do những người lao động tự giúp đỡ
nhau, những người sử dụng lao động thành lập một quỹ trong quỹ xã hội để giúp đỡ
những người ốm đau, tai nạn, các tổ chức đứng ra đóng góp và hỗ trợ. Và để đảm
bảo sự trợ giúp người lao động một cách bền vững thì BHXH ra đời với sự đóng
góp của các bên: người lao động, người sử dụng lao động và hỗ trợ của nhà nước.
Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO thì bảo hiểm xã hội là “sự bảo vệ của
cộng đồng xã hội đối với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn
đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn,
thương tật, già yếu, thất nghiệp. Đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia
đình đông con để ổn định đời sống của thành viên và đảm bảo an toàn của xã hội”.
Theo khái niệm này thì BHXH các trường hợp hưởng lợi lại bị thu hẹp, không nêu
rõ được các hoạt động khác làm ảnh hưởng hay suy giảm sức khỏe con người như:
bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động, mất việc làm..
Theo luật BHXH quy định: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ
sở đóng vào quỹ BHXH”. Luật BHXH chưa nêu rõ hoạt động và sự đóng góp vào
quỹ BHXH bao gồm những đối tượng nào và mục tiêu của BHXH đối với sự phát
triển kinh tế xã hội ra sao.
Vậy, có thể hiểu khái niệm BHXH như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo
thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc
giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn
9
tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp
thức này có nghĩa là chia sẻ phần bồi hoàn cho nhau, những người trong các điều
kiện không thể làm ra thu nhập hoặc tạm dừng lao động họ sẽ nhận được khoản hỗ
trợ nhất định để ổn định cuộc sống từ những đóng góp của nhiều lao động khác và
chính từ đóng góp của họ ở thời gian trước đó. Có thể hiểu cách khác rằng, người
lao động đã trích một phần từ thu nhập của mình có được trong thời gian thu nhập
đóng góp vào quỹ chung của xã hội để trang trải chi tiêu trong khoảng thời gian
không làm ra thu nhập, trang trải cuộc sống.
Vậy, bản chất của BHXH là một phần thu nhập của người lao động được tích lũy,
để dành, người lao động sẽ nhận lại thu nhập này khi không có thu nhập. Trong suốt quá
trình lao động, người lao động sẽ tham gia đóng góp theo tỷ lệ nhất định được tính trong
thu nhập và chi phí này sẽ chi trả lại cho họ. Bên cạnh đó, để thể hiện trách nhiệm của
người chủ trong việc chăm lo đời sống cho cán bộ công nhân của mình, người sử dụng
lao động sẽ trích lại phần thu nhập của người lao động đóng góp vào quỹ.
Các đặc trưng của BHXH thể hiện các vấn đề sau:
- BHXH dành cho người lao động trong và sau quá trình lao động
- Người lao động muốn được quyền hưởng trợ cấp BHXH phải có nghĩa vụ đóng
BHXH, người chủ sử dụng lao động cũng phải có nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao
động mà họ thuê. Việc đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động hình
thành nguồn quỹ dùng để chi trả các trợ cấp có nhu cầu phát sinh về BHXH.
- Các rủi ro của người lao động liên quan đến thu nhập của họ như: ốm đau, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, chết…sẽ làm giảm hoặc
mất khả năng lao động, do đó cần có khoản thu nhập khác bù vào,đây chính là đặc
trưng chính của BHXH.
- Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuân khổ pháp luật, các chế độ
BHXH cũng do Nhà nước quy định.
1.2.3 Tổ chức quản lý BHXH:
Để hoạt động BHXH được thực hiện theo đúng mục tiêu, định hướng đề ra,
cần phải có một tổ chức BHXH đứng ra điều hành, quản lý theo những nguyên tắc
và phương pháp phù hợp với hệ thống quản lý chung của nền kinh tế.
thời kỳ. Xây dựng pháp luật BHXH được coi là chức năng quan trọng nhất của quản
lý Nhà nước về BHXH bao gồm:
12
Thứ ba, định hướng về các hoạt động BHXH:
- Về định hướng chính sách, theo lịch sử hình thành và phát triển BHXH cho
thấy chính sách BHXH được thực hiện qua nhiều thời kỳ và trải qua nhiều lần sửa
đổi, bổ sung. Việc sửa đổi, bổ sung được cân nhắc đến các yếu tố về kinh tế - xã
hội, chính trị trong đó có việc mở rộng, thu hẹp các chế độ, đối tượng, nội dung và
cơ chế thực hiện BHXH do Nhà nước quy định.
- Về định hướng tài chính: hoạt động tài chính là cốt lõi của BHXH, bởi nó
duy trì sự hoạt động cho cả một hệ thống BHXH trong cả nước. Để hoạt động này
đảm bảo có hiệu quả và thực sự.
Thứ tư, thanh tra, kiểm tra các hoạt động sự nghiệp BHXH: để hoạt động
BHXH hoạt động theo đúng định hướng và mục tiêu đề ra, Nhà nước thanh tra và
kiểm tra, xử lý các vi phạm, các khiếu kiện và tranh chấp liên quan đến BHXH theo
đúng pháp luật đồng thời để đảm bảo cho các bên tham gia thực hiện đúng nghĩa vụ
và quyền lợi hợp pháp của họ.
Thứ năm, bảo hộ và bảo trợ cho các hoạt động BHXH: BHXH là chính sách
nhằm đảm bảo an sinh xã hội của quốc gia, do vậy nhà nước luôn bảo hộ và bảo trợ
cho các hoạt động BHXH để đảm bảo quyền lợi người được hưởng không bị tác
động bởi các yếu tố biến động về kinh tế xã hội.
Tổ chức hoạt động sự nghiệp BHXH: Hoạt động sự nghiệp BHXH tập
trung vào các chức năng sau:
1. Quản lý đối tượng: Đối tượng của BHXH bao gồm đối tượng tham gia và
đối tượng thụ hưởng BHXH.
Nhóm đối tượng tham gia bao gồm người lao động và người sử dụng lao động,
khi tham gia nhóm đối tượng này phải đóng mức phí theo quy định. Để tránh trường
hợp bị lạm dụng BHXH, cơ quan BHXH quản lý nhóm đối tượng này bằng số thẻ
Đặc điểm giai đoạn này là các cơ quan được giao quản lý vừa có trách nhiệm xây
dựng ban hành chính sách; vừa tổ chức thực hiện. Chính sách BHXH gắn liền với
nền kinh tế tập trung, bao cấp; công nhân, viên chức trong biên chế Nhà nước và
người làm việc trong lực lượng vũ trang được tham gia BHXH, NLĐ làm việc ở các
thành phần kinh tế khác chưa có BHXH; diện bao phủ về BHXH hẹp, chưa có sự
công bằng giữa NLĐ làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh với NLĐ trong biên chế
14
Nhà nước; nguồn kinh phí chi trả BHXH do ngân sách nhà nước (NSNN) bao cấp;
mô hình quản lý tổ chức thực hiện phân tán
, kém hiệu quả , nguồn kinh phí do
NSNN không đảm bảo chi trả kịp thời, tình trạng nợ lương hưu diễn ra phổ biến.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo đường lối đổi
mới của Đảng, đòi hỏi phải cải cách thể chế BHXH, cũng như hệ thống quản lý, tổ
chức thực hiện BHXH phù hợp với yêu cầu thực tiễn.Tại Điều 56 Hiến pháp năm
1992 quy định: “Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động, chế độ tiền
lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ BHXH đối với viên chức nhà nước và những
người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối
với NLĐ”. Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở tổng kết
thí điểm thực hiện BHXH đối với NLĐ làm việc trong các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh, bước đột phá đầu tiên là khi Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP
ngày 22/06/1993 quy định tạm thời BHXH gồm 05 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động- bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất; áp dụng đối với công nhân, viên chức
Nhà nước, lực lượng vũ trang, các tổ chức Đảng, đoàn thể và NLĐ làm việc hưởng
tiền lương hoặc tiền công trong các DN ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao
động trở lên thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Ngoài ra, còn quy định hình
thức BHXH tự nguyện, những người không thuộc đối tượng BHXH bắt buộc được