Đảng bộ tỉnh hải dương lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá từ năm 2000 đến năm 2010 (2017) - Pdf 58

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
===o0o===

TRẦN THỊ HÀ

ĐẢNG BỘ TỈNH HẢI DƯƠNG LÃNH
ĐẠO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT
HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TỪ
NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học

TS. NGUYỄN THẮNG LỢI

HÀ NỘI – 2017


LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội 2 được sự dạy dỗ, chỉ bảo tận tình của các thầy giáo, cô giáo, em đã tiếp
thu được nhiều tri thức khoa học, kinh nghiệm và phương pháp học tập mới,
bước đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất tới thầy giáo TS.
Nguyễn Thắng Lợi, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em tận
tình trong suốt thời gian em thực hiện khóa luận này.
Qua đây em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như các thầy cô giáo
trong Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ và tạo điều

Trần Thị Hà

năm 2017


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DSVH

: Di sản Văn hóa

CTQG - HN

: Chính trị Quốc gia - Hà Nội

VHTT&DL

: Văn hóa Thể thao và Du lịch

CNXH

: chủ nghĩa xã hội

CNH - HĐH

: công nghiệp hóa hiện đại hóa

TP

: thành phố

Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG............................. 19
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2010 ................................................................... 19
2.1. Di sản văn hóa của tỉnh Hải Dương..................................................... 19
2.1.1. Đặc điểm lịch sử tự nhiên văn hóa – xã hội................................... 19
2.1.2. Đặc điểm văn hóa - xã hội ............................................................. 20
2.1.3. Kho tàng di sản văn hóa................................................................. 23
2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hải Dương về bảo tồn, phát huy giá
trị di sản văn hóa.......................................................................................... 30
2.3. Về thực trạng bảo vệ và phát huy di sản văn hoá ................................. 32
2.3.1. Đối với di sản văn hoá vật thể........................................................ 32


2.3.2. Về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể............... 34
2. 3.3. Về tổ chức và hoạt động của Bảo tàng ......................................... 36
2.3.4. Về xã hội hoá hoạt động di sản văn hoá ........................................ 37
2.3.5. Về nguồn thu và quản lý nguồn thu tại các di tích......................... 38
2.3.6. Sự phối hợp trong các hoạt động bảo vệ, phát huy di sản văn
hóa ............................................................................................................ 38
2.3.7. Tổ chức quản lý di sản văn hoá: .................................................... 39
2.4. Một số hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo công tác bảo tồn và phát
huy giá trị di sản văn hóa của Đảng bộ tỉnh Hải Dương ............................. 39
Chương 3. MỘT SỐ KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT TRONG LÃNH
ĐẠO BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA ................ 41
CỦA TỈNH HẢI DƯƠNG .............................................................................. 41
3.1. Một số kinh nghiệm .............................................................................. 41
3.2. Một số đề xuất ...................................................................................... 44
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 48
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................ 50
PHỤ LỤC

đang rất cần phát huy tối đa nguồn nội lực để phát triển.
Di sản văn hóa dân tộc được Đảng ta xác định là “tài sản vô giá, gắn
kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những

2


giá trị mới và giao lưu văn hóa” [18, tr.63]. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X (2006), thứ XI (2011) Đảng tiếp tục nhấn mạnh vấn đề bảo tồn, phát
huy di sản văn hóa dân tộc trong sự nghiệp phát triển văn hóa, nền tảng tinh
thần của xã hội: Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử
cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc,
các giá trị văn hóa nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng
các dân tộc.
Đại hội XII, nhiệm vụ chăm lo phát triển văn hóa và con người Việt
Nam được đúc kết cô đọng, cụ thể, Đảng khẳng định: Phát triển sự nghiệp
văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyền thống,
cách mạng. Theo đó, tiếp tục phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại,
phản ánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất
nước; cổ vũ, khẳng định cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu, cái ác.
Hải Dương là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, có bề dày truyền thống lịch
sử, văn hóa. Hải Dương hiện còn lưu giư nhiều loại hình di sản văn hóa vật
thể và phi vật thể độc đáo. Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh có khoảng 2000 di
tích, danh thắng, trong đó có khoảng 130 di tích được xếp hạng quốc gia mà
tiêu biểu là Khu di tích danh thắng Côn Sơn - Kiếp Bạc; với hàng trăm lễ hội
gắn với các di tích, hàng chục làng nghề cổ truyền.
Một giá trị di sản văn hóa Hải Dương được lưu truyền đó là sự thờ kính
các vị vĩ nhân là Trần Hưng Đạo - Danh nhân quân sự, Nguyễn Trãi - Danh
nhân văn hóa và Chu Văn An - Người thầy của muôn đời.

quyền tác giả.
Phạm Mai Hùng: Giữ gìn và phát huy di sản văn hoá dân tộc, Nxb Văn
hoá Thông tin, H.2003, đã phân tích vai trò của hệ thống các bảo tàng Việt
Nam trong việc bảo tồn di sản văn hoá dân tộc. Công tác bảo tồn các di sản
văn hoá dân tộc. Công tác bảo tồn của di tích lịch sử văn hoá cũng như các tác
phẩm và hiện vật lịch sử Việt Nam. Một số giải pháp xã hội hoá các hoạt
động bảo tồn bảo tàng.

5


Nguyễn Đình Thanh, Di sản văn hoá bảo tồn và phát triển, Nxb. Tp.
Hồ Chí Minh, 2008, tập hợp những bài nghiên cứu giới thiệu về hoạt động
bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá ở Việt Nam; mối quan hệ giữa di sản văn
hoá và du lịch; một số kinh nghiệm bảo tồn di sản văn hoá của một số quốc
gia trên thế giới.
Nguyễn Thịnh, Di sản văn hoá Việt Nam: Bản sắc và những vấn đề về
quản lý, bảo tồn,Nxb Xây dựng, Hà Nội, 2012, trình bày đối tượng, nội dung,
nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu di sản văn hoá. Các khái niệm về bảo
tồn phát huy giá trị, chức năng, phân loại, quản lí, tư liệu hoá...di sản văn hoá.
Phạm Duy Đức (chủ biên), Trần Văn Bính, Hoàng Vinh.... : Giáo trình
lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb
Chính trị Hành chính, H.2013, phân tích khái niệm về văn hoá học; những
vấn đề về nhận thức quan điểm, đường lối văn hoá của Đảng và lý giải những
vấn đề thực tiễn đang nảy sinh trong đời sống văn hoá dân tộc.
Công trình Một con đường tiếp cận di sản văn hoá do Bộ Văn hoá Thông tin ấn hành, Hà Nội năm 2006 đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý
luận DSVH cũng như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho đề tài.
Trong đó tiêu biểu nhất là các bài: “Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát
huy di sản văn hóa” (Vũ Quốc Hiền), “Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng
của phát triển bền vững” (Lê Thành Vinh); “Di tích lịch sử và văn hoá đồng

bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa.
- Chỉ rõ những thành tựu và hạn chế, đồng thời nêu nên những kinh
nghiệm cho giai đoạn sau.
4. Đối tượng và phạm vi
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Khóa luận nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Hải Dương trong
công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từ năm 2000 đến năm
2010.

7


4.2.Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn không gian ở tỉnh Hải Dương.
- Giới hạn thời gian từ năm 2000 đến năm 2010.
- Giới hạn nội dung: tập trung tìm hiểu quá trình Đảng bộ tỉnh Hải
Dương lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa (quán triệt
chủ trương của Đảng, cụ thể hóa vào địa phương).
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về văn hóa, di sản văn hóa,...
Khóa luận sử dụng các phương pháp lịch sử và lô gic, kết hợp với
phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp.
6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về công tác bảo tồn và phát huy
giá trị di sản văn hóa ở tỉnh Hải Dương.
Chương 2: Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2000 – 2010.

con người. DSVH vật thể luôn chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của
thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau. DSVH vật thể luôn
đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguồn gốc.
Di sản văn hóa phi vật thể là dạng thức tồn tại của văn hóa không phải
chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối trong không gian và thời gian mà nó
tiềm ẩn trong trí nhớ, kí ức cộng đồng, tập tính, hành vi ứng xử của con người

11


và thông qua hoạt động sống của con người trong sản xuất, giao tiếp xã hội
mà thể hiện ra. Từ đó, người ta có thể nhận biết được sự tồn tại của văn hóa
phi vật thể.
Đặc trưng rõ nét của văn hóa phi vật thể là nó luôn tiềm ẩn trong tâm
thức của một cộng đồng xã hội và chỉ bộc lộ ra qua hành vi và hoạt động của
con người. Văn hóa phi vật thể được lưu giữ trong thế giới tinh thần của con
người và thông qua các hình thức diễn xướng, nó được bộc lộ sinh động với
tư cách là một hiện tượng văn hóa.
Việc phân chia DSVH thành Di sản văn hóa vật thể và Di sản văn hóa
phi vật thể chỉ mang tính chất tương đối. Bởi lẽ mọi hiện tượng văn hóa đều
có phần vât thể và phi vật thể, chúng là hai mặt của một thể thống nhất. Bởi
vậy, nghiên cứu DSVH cần phải đặt DSVH vật thể và DSVH phi vật thể trong
mối quan tương tác không thể tách rời. Như vậy mới hiểu được giá trị vật chất
và tinh thần của DSVH đối với đời sống xã hội.
Khái niệm bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa
Theo từ điển tiếng Việt “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi” [44,
tr.261]
Trong tiến trình lịch sử, hoạt động bảo tồn DSVH xuất hiện ngay từ khi
con người ý thức được mối nguy hại do tác động của thiên nhiên và chính con
người gây ra, họ đã không ngừng tìm kiếm những biện pháp bảo tồn. Ở nhiều

nhuận về mặt tinh thần, bởi thông qua việc hiểu biết về DSVH sẽ có tác dụng
trực tiếp tới phương diện giáo dục, giúp vun đắp tình cảm cho mỗi cá nhân và
cộng đồng.
Bảo tồn và phát huy luôn gắn liền với nhau như một cặp phạm trù trong
việc xây dựng và phát triển văn hóa. Văn hóa là cái thể hiện sức sống của dân
tộc, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, nếu chỉ bảo tồn không đem ra
sử dụng thì không phát huy được giá trị ẩn chứa trong di sản, rồi thời gian sẽ
làm di sản phai mờ và nhanh chóng bị chìm vào lãng quên. Chỉ khi giá trị của
di sản được phát huy thì mới có cơ sở, có căn cứ và làm điều kiện để bảo tồn di

13


sản. Do vậy, phát huy sẽ tạo ra hướng tiếp nhận, ảnh hưởng mới làm cho các
giá trị văn hóa không bị lãng quên mà còn lan tỏa và giữ vững được bản sắc
của mình. Bảo tồn là căn bản, làm cơ sở cho sáng tạo, phục vụ phát huy và
ngược lại phát huy giúp cho bảo tồn DSVH được tốt hơn, tỏa sáng hơn. Vì vậy
cần xử lí hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy phát triển bền vững.
1.2. Quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, đề cao
giá trị của DSVH trong sự phát triển văn hóa của dân tộc. Quan điểm chỉ đạo
của Đảng ta trong hơn 80 năm qua là: trân trọng, bảo vệ, kế thừa và phát huy
những giá trị văn hóa của dân tộc vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì tiến bộ
của nhân dân.
Đặc biệt từ năm 1986 đến nay, khi Đảng lãnh đạo thực hiện đường lối
đổi mới đất nước, Đảng ta không chỉ đổi mới về kinh tế mà còn đổi mới trong
nhận thức và tư duy: Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, gắn chặt
với phát triển văn hóa. Rõ ràng, Đảng ta đã nhận thức một cách đúng đắn và
sâu sắc hơn về vai trò của văn hóa trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Trên

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), Đảng tiếp tục nêu rõ:
Bảo tồn và phát huy các DSVH dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn
ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch
sử; văn hóa và danh lam thắng cảnh; khai thác các kho tàng văn hóa cổ
truyền. Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của
nhân loại (Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội)
Trong kết luận của hội nghị Trung ương 10 khóa IX, mục tiêu, các
nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng, phát triển
văn hóa trong thời kỳ đổi mới được Đảng đề ra:

15


Trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa,
cùng với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của văn hóa Việt Nam
đương đại, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các
giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh
hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại.
Đại hội X, Đảng ta xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao chất
lượng nền văn hóa Việt Nam tên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Gắn kết chặt
chẽ hơn giữa văn hóa với phát triển kinh tế xã hội. Làm cho văn hóa thấm
sâu vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân
cách con người Việt Nam. Xây dựng cơ chế chính sách, chế tài ổn định.
Tăng
cường mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa. Chống sự xâm nhập văn
hóa độc hại, lai căng, phản động. Xây dựng, nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết
chế văn hóa.
Quán triệt quan điểm của Đảng và sự chỉ đạo điều hành của Chính phủ,
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin và các Tỉnh uỷ,

1706/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001.
Chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam tên tến, đậm đà bản sắc
dân tộc thể hiện tập trung trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành
Đảng Trung ương (khóa VIII) tháng 7 -1998, xác định những quan điểm cơ bản:
Một là, văn hóa là nền tảng tnh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Quan điểm chỉ rõ vai trò
to lớn của văn hóa trong tiến trình lịch sử dân tộc và tương lai đất nước. Văn
hóa không phải là kết quả thụ động, yếu tố đứng bên ngoài, bên cạnh hoặc đi
sau kinh tế, phụ thuộc hoàn toàn vào trình độ phát triển kinh tế mà văn hóa
vừa là mục têu, vừa động lực thúc đẩy kinh tế. “Văn hóa thấm sâu vào toàn
bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể
và cộng
17


đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi sinh hoạt và quan hệ con người, tạo
ra
trên đất nước ta đời sống tinh thần cao
đẹp".
Hai là, nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc. Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ, trong đó, cốt lõi là lý
tưởng độc lập dân tộc và CNXH theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, nhằm mục têu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển
phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá
nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Bản sắc dân tộc bao gồm những
giá trị truyền thống tốt đẹp, bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các
dân tộc Việt Nam, được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng
nước và giữ nước. Đó là, lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh
thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - Tổ quốc; lòng
nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; cần cù, sáng tạo trong lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status