Đảng bộ tỉnh yên bái lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử từ năm 1998 đến năm 2014 - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

---------------------

LÊ VĂN ĐIN

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH
LỊCH SỬ TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội, 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------

LÊ VĂN ĐIN

ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH
LỊCH SỬ TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2014

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ


một số các thành quả của một số những người đi trước.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn của tôi sẽ không tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các
thầy cô giáo và các bạn.
Hà Nội, tháng 12/2015
Học viên

Lê Văn Đin


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 2
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu.................................................................. 4
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 5
Chƣơng 1:CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ
TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI TỪ NĂM
1998 ĐẾN NĂM 2003 ....................................................................................... 8
1.1. Những nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị các
di tích lịch sử ở tỉnh Yên Bái .......................................................................... 8
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 8
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ...................................................................... 14
1.1.3. Thực trạng công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử ở Yên
Bái trước năm 1998......................................................................................... 15
1.2. Đảng bộ tỉnh Yên Bái lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị
các di tích lịch sử từ năm 1998 đến năm 2003 ............................................ 21

1. Lý do chọn đề tài
Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu
tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới
để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn,
khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Di tích
lịch sử văn hóa là tài sản vô cùng quý giá của mỗi dân tộc, đất nước, và của cả
nhân loại, là nơi gìn giữ những giá trị văn hóa tôt đẹp của loài loài người.
Chính vì vây, việc giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử văn hóa quả thực
không phải là điều đơn giản. Trong những năm qua công tác bảo tồn, tu bổ,
tôn tạo di tích, nhằm phát huy các giá trị văn hóa được các cấp, các ngành và
toàn xã hội quan tâm.
Yên Bái là tỉnh có nhiều dân tộc anh em với sự đa dạng về bản sắc văn
hóa, tiếp giáp và là đầu mối giao thông giữa các tỉnh Tây Bắc và Việt Bắc.
Đất đai khá phong phú và tốt tươi, có sự đa dạng về khí hậu, là điều kiện phát
triển kinh tế chính trị văn hóa của tỉnh. Là vùng đất có bề dày văn hóa lịch sử,
có một hệ thống di tích lịch sử ở khắp các địa phương trong tỉnh.Hệ thống di
tích lịch sử này vừa là niềm tự hào, vừa là một tài sản vô cùng quý giá của
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Yên Bái.
Hệ thống di tích lịch sử không chỉ phục vụ đời sống tinh thần, tâm linh,
tín ngưỡng của nhân dân địa phương mà còn là một động lực phát triển kinh
tế xã hội của tỉnh Yên Bái đặc biệt là ngành kinh tế du lịch. Nhận thức được
vai trò và tầm quan trọng của việc gin giữ giá trị của hệ thống di tích trên toàn
tỉnh. Nên Đảng bộ tỉnh Yên Bái rất quan tâm đến công tác bảo tồn, phục hồi
và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa của tỉnh.Ngoài ra các văn bản có
1


tính pháp quy của nhà nước, của tỉnh ban hành nhiều quy định chính sách cụ
thể, để bảo tồn và phát huy những giá trị di tích lịch sử văn hóa trên toàn tỉnh.

(1993) Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nhà xuất bản Văn hóa Hà Nội, nghiên
cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề bảo tồn di tích lịch sử ở nước ta;
Dương Văn Sáu (2000), Di tích lịch sử Văn hóa, Danh thắng cảnh Việt Nam,
Nhà xuất Bản Đại học Quốc gia Hà Nội trình bày các địa danh lịch sử - văn
hóa, danh thắng của Việt Nam; Nguyễn Đình Thanh, Lê Minh Lý (2008), Di
sản văn hóa bảo tồn và Phát triển, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh,
trình bày hiện trạng bảo tồn và phát huy ở một số di sản văn hóa tiêu biểu ở
Việt Nam; Đặc biệt là Nguyễn Văn Quang (2004), Tiền sử và Sơ sử Yên Bái,
Nxb Khoa học và Xã hội đây là cuốn sách trình bày hệ thống di tích lịch sử
thời kỳ tiền sử và sơ sử của tỉnh Yên Bái, tác giả đã đi sâu nghiên cứu khảo
sát di tích đồ đá cũ trên các đồi gò, các di tích sơ kì đá mới trong các hang
động đá vôi, các di tích hậu kì đá mới ở thềm cổ sông Hồng. Bên cạnh đó tác
giả cũng chỉ ra trên vùng đất Yên Bái có một số di tích khảo cổ đặc biệt quan
trọng- nơi tàng chữ tư liệu vật chất phong phú đa dạng độc đáo có khả năng
bảo tồn, nghiên cứu, thăm quan và phát huy tác dụng thực tiễn cao. Tỉnh Ủy –
Hội đông nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái (2003), Tỉnh Yên Bái một
thế kỷ (1900- 2000). Xí nghiệp in Bộ Công Nghiệp Hà Nội, đây là cuốn sách
với nội dung trình bày lịch sử Yên Bái trong một thế kỷ từ 1900 đến năm
2000.
Ngoài ra có một số các bài đăng trên các tạp chí, Lưu Trần Tiêu (2002)
Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam. Hà Văn Tấn (2005) Bảo vệ di
tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
Phạm Minh Châu (2011) Sức sống cho sự tồn tại của di sản Việt Nam;
Nguyễn Thế Hùng (2013) Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm năm 2014; Nguyễn Quốc
3


Hùng (2014) Vài nét suy nghi về “Yếu tố gốc” cấu thành di tích. Nguyễn
Viết Cường (2014) Bảo tồn di tích trong bối cảnh hiện nay. Những bài báo,

từ năm 1998 đến năm 2014.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác
bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ tỉnh Yên Bái.
Do tỉnh Yên Bái có rất nhiều các di tích lịch sử nên luận văn chỉ đề cập
đến một số các di tích lớn như: Di tích lịch sử danh Thắng Hồ Thác Bà huyện
Yên Bình; di tích lịch sử đền Đông Cuông; đền Nhược Sơn huyện Văn Yên;
Khu mộ Nguyễn Thái Học; Lễ đài sân vận động Bến Âu Lâu, Thành Phố Yên
Bái, Ruộng bậc thang huyện Mù Cang Chải, khu khảo cổ học Thác Y Đại Cại
Lục Yên ….
Về không gian trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
Về thời gian từ năm 1998 - năm thực hiện Nghị Quyết Trung ương V
(tháng 6 năm 1998) khóa VIII đến năm 2014.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liêu mà luân văn sử dụng là:
- Các văn kiên của Đảng; các hội nghị Trung ương Đảng, chương trình
của Chính Phủ, của Bộ văn hóa thông tin và Du lịch về bảo tồn và phát huy
các di tích lịch sử;
- Các văn kiện của Đảng bộ tỉnh Yên Bái, các Chương trình của Ủy ban
Nhân dân tỉnh Yên Bái, các Báo cáo tổng kết của Sở Văn hóa thể thao và Du
lịch tỉnh Yên Bái.

5


- Các sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu liên quan đến công
tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử nói chung và với công tác
bảo tồn, phát huy các giá trị di tích lịch sử tại tỉnh Yên Bái nói riêng.
5.2.Phương pháp nghiên cứu

Đảng bộ tỉnh Yên Bái từ năm 2004 đến năm 2014.
Chương 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm.

7


Chương 1
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO BẢO TỒN, PHÁT HUY
GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH YÊN BÁI
TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2003

1.1. Những nhân tố tác động đến công tác bảo tồn và phát huy giá
trị các di tích lịch sử ở tỉnh Yên Bái
1.1.1. Điều kiện tự nhiên tỉnh Yên Bái
Yên Bái nằm ở vị trí địa lý 21018’ đến 22017’ vĩ độ Bắc và 103056’1050 06’ kinh Đông. Toàn tỉnh có tổng diện tích tự nhiên 6882,92 km2, chiều
từ Đông sang Tây dài 120km, từ Bắc xuống Nam là 100km, trải dọc đôi bờ
sông Thao, thuộc khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc với Trung du Bắc
Bộ; Đông Bắc giáp hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang; Đông Nam giáp tỉnh
Phú Thọ; Tây Nam giáp tỉnh Sơn La và Phía Tây Bắc giáp tỉnh Lào Cai. Từ
xa xưa, Yên Bái có một vị trí trọng yếu về quân sự kinh tế của nước ta. Tỉnh
Yên Bái có diện tích tự nhiên là 6.887, 77km2 với 1 thành phố Yên Bái, 1 thị
xã Nghĩa Lộ và 7 huyện là: Lục Yên, Văn Yên, Mù Cang Chải, Trấn Yên,
Yên Bình,Văn Chấn và Trạm Tấu. Với 159 xã 10 thị trấn và 11 phường.[1, tr.
43].
Yên Bái có địa hình cấu tạo khá đa dạng và phức tạp (đồng bằng phù sa
ven sông Thao, đồng bằng phù sa cổ lượn sóng, đồi tháp đỉnh tròn, đồi bát úp
dốc thoải, bồn địa thung lũng, núi cao rãnh sâu, cao nguyên đá vôi dốc đứng).
Do độ dốc lớn (trung bình 40 – 500, nhiều nơi 60 – 700, vùng thấp 25 – 400 lại
chia cắt mạnh, cao dần từ đông sang tây và từ nam lên bắc). Nên Yên Bái có
độ cao trung bình so với mực nước biển là 600m

1.5m. Cao hơn nữa là các cánh rừng thông xen kẽ các tầng cây bụi nhỏ rồi
đến trúc lùn, cây họ cói, cây họ hoa hồng, cây họ thạch Nam.Độ cao hạ dần
9


khí hậu ấm áp hơn làm cho lớp phủ thực vật rừng có điều kiện phát triển. Bên
cạnh các loại gỗ quý như: nghiến, táu, lát hoa, chò chỉ, pơ mu; cây thuốc quý
như đẳng sâm, sơn tra, hà thủ ô… động vật quý hiếm như hổ, báo, cầy hương,
lợn rừng, vượn, khỉ chăn, tê tê…
Xen kẽ các khu rừng lớn là các mặt bằng với nhiều bãi cỏ rộng có khả
năng phát triển chăn nuôi đại gia súc hoặc mở mang du lịch sinh thái dịch vụ.
Tuy nhiên các loại rừng kể trên nay chỉ còn trong các khu vực núi thuộc
huyện Văn Yên, Lục Yên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải
Đặc trưng khí hậu Yên Bái: là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa
nhiều nhiệt độ cao. Do đó, tổng lượng bức xạ tới 100-140Kcal/cm2 và cân
bằng bức xạ luôn dương. Hàng năm có từ 1200- 2000 giờ nắng, mùa hè gấp
đôi mùa đông.Tổng nhiệt độ từ 8000 – 85000C ở vùng núi cao giảm xuống
70000C.Nhiệt độ trung bình ít biến động trong năm (từ 18- 24 0C), cao nhất từ
37- 390C thấp nhất từ 2 -40C.Gió thịnh hành là gió mùa đông bắc và gió mùa
đông nam. Mưa nhiều nhưng phân bố không đều, lượng mưa trung bình từ
1800mm – 2000mm/năm, cao nhất đến 2204mm, thấp nhất là 1106mm. Một
số tiểu vùng khí hậu vào tiết xuân thường có mưa dầm triền miên.
Bên cạnh nền độ ẩm cao trên phần lãnh thổ Yên Bái còn có một vùng
khô hạn. Độ ẩm quanh năm của tỉnh là 85- 87% trung bình cao nhất là 97%
thấp nhất là 67% .
Bên cạnh những thuận lợi kể trên, địa phương cũng chịu nhiều ảnh
hưởng do thời tiết gây ra. Mùa đông nhiều đợt gió lạnh buốt tràn về, đầu mùa
hè những đợt gió tây nóng tràn sang gây tổn hại đến sức khỏe con người, súc
vật, cây trồng.
Chế độ thủy văn: Đặc điểm địa hình và khí hậu như trình bày ở trên đã

hơn, tới vùng Đại Đồng núi bỗng lùi xa, tạo nên một dải đồng bằng mầu mỡ,
trù phú khí hậu thoáng đãng, một địa bàn sinh tụ nhiều thời. Nay vùng này đã
11


trở thành hồ Thác Bà, cảnh quan đã thay đổi. Sông Chảy có nhiều suối chảy
vào, đặc biệt là các suối Đại Cại (Tân Lĩnh), Ngòi Biệc, Ngòi Úc, Ngòi Lẫu,
Suối Tân Hương… trong đó Ngòi Biệc là lớn hơn cả.
Khoáng sản: Được hình thành trên nền trầm tích cổ, Yên Bái là một địa
bàn chứa khá nhiều loại khoáng sản, từ quý hiếm đến thông dụng. Theo bản
đồ bản đồ khoáng sản, ở Yên Bái có trên 200 điểm mỏ, trong đó có 170 điểm
đã được khảo sát, đang được khai thác hoặc chuẩn bị khai thác và trên 30
điểm thuộc loại mỏ cổ, hầu hết đã chấm dứt khai thác (Sở Khoa học công
nghệ Yên Bái 1998). Đặc điểm chính của khoáng sản tỉnh Yên Bái là phân bố
rải rác, có nhiều chủng loại mỏ đá 47 điểm, mỏ sắt 37 điểm, mỏ đồng 5 điểm,
mỏ trì kẽm 10 điểm có trữ lượng không nhiều.Tuy nhiên có những mỏ lại có
hàm lượng khá cao.
Đặc biệt mỏ đá ở Yên Bái khá phong phú về chủng loại và có chất
lượng khá cao. Cao cấp nhất là loại đá quý và bán quý như Rubi (còn gọi là
Hồng Ngọc), ngọc, ngọc bích….Những loại đá này tập trung ở vùng Lục Yên,
Yên Bình, và dọc theo lưu vực sông Chảy.
Các mỏ sắt tập trung nhiều ở phía tây của tỉnh như các huyện Trấn Yên,
Văn Yên, Văn Chấn và Mù Cang Chải. Các mỏ đồng đều nằm ở phía tây
huyện Văn Yên, Trấn Yên, các mỏ kẽm nằm ở Mù Cang Chải.
Nhìn chung các mỏ đá phân bố tập trung ở phía đông, còn các mỏ kim
loại tập trung ở phía tây tỉnh. Ngoài ra phải kể đến nguồn đá cuội sông suối
rất dồi dào có mặt ở khắp nơi trong tỉnh mà tập trung chủ yếu theo dọc bờ
sông Hồng và sông Chảy và hàng trăm suối lớn nhỏ thuộc lưu vực của hai
sông này.
Động vật, thực vật : Dù địa hình và khí hậu Yên Bái đa dạng và phức


13


1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
Về kinh tế nhìn chung Yên Bái là một tỉnh nghèo, chậm phát triển, kinh
tế lúa nước là chủ đạo, diện tích ruộng ít lại kém màu mỡ, bị chia cắt manh
mún, thời gian sinh trưởng dài, năng xuất thấp. Một bộ phậm dân cư nhất là
miềm núi, và dân tộc thiểu số còn đói. Nông nghiệp nương rẫy đây khá phát
triển, song những năm gần đây đã được hạn chế để bảo vệ rừng, nhờ công
cuộc đổi mới nhiều giống lúa ngắn ngày, năng xuất cao gieo trồng nên đời
sống nhân dân được cải thiện, từ chỗ thiếu đói lương thực, nay đã no đủ và dư
dật. Rừng Yên Bái trước tốt tươi, rậm rạp, nhiều tầng mang đặc trưng rõ của
rừng nhiệt đới, thứ sinh, đến nay đã cạn kiệt, nền kinh tế rừng ngày càng
chiếm vị trí thấp, cây công nghiệp chủ yếu là cây chè, nghề chè đang trở
thành nghề kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Có thể nói đặc điểm của nền kinh tế
Yên Bái là nông nghiệp đa canh. Kinh tế vườn đồi theo hình thức trang trại
đang có xu hướng phát triển mạnh ở Yên Bái.
Nhìn chung Yên Bái là một tỉnh nghèo, trải qua hơn một thập kỷ đổi
mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã có một tiến bộ, xong vẫn trong tình trạng
chậm phát triển. Đời sống kinh tế và văn hóa còn có sự chênh lệch khá rõ rệt
giữa các vùng thấp và vùng cao, giữa đô thị vùng sâu và vùng xa. [52, tr. 31]
Dân số: Theo số liệu điều tra, trên địa bàn tỉnh Yên Bái có tới 30 dân tộc
sinh sống, trong đó có 7 dân tộc có dân số trên 10.000 người, 2 dân tộc có từ
2.000 - 5.000 người, 3 dân tộc có từ 500 -2.000 người.
Năm 2013, tổng dân số toàn tỉnh là 773.854 người. Mật độ dân số trung
bình là 112 người/km2 tập trung ở một số khu đô thị như thành phố Yên Bái,
thị xã Nghĩa Lộ và các thị trấn huyện lỵ.
Sự phân bố các cộng đồng dân tộc trên địa bàn tỉnh có những đặc trưng
sau:


15


Bái không thay đổi. Tháng 5 năm 1955 châu Văn Chấn, Than Uyên chuyển
thuộc khu tự trị Thái – Mèo; một phần thuộc huyện Than Uyên và các xã
Nậm Có, Khau Phạ (Văn Chấn) được tách ra thành lập châu Mù Cang Chải.
Tháng 6 năm 1956, huyện Yên Bình (tỉnh Tuyên Quang) sát nhập vào tỉnh
Yên Bái. Tháng 10 năm 1962 Quốc hội đổi tên khu tự trị Thái – Mèo thành
khu tự trị Tây Bắc.Tháng 12 năm 1962 tỉnh Nghĩa Lộ (thuộc khu tự trị Tây
Bắc) chính thức được thành lập gồm các huyện Văn Chấn, Than Uyên, Phù
Yên. Tháng 1 năm 1976 hợp nhất 3 tỉnh Yên Bái, Nghĩa Lộ (trừ hai huyện
Bắc Yên và Phù Yên chuyển thuộc tỉnh Sơn La) và Lào Cai thành tỉnh Hoàng
Liên Sơn. Tháng 10 năm 1991 tỉnh Hoàng Liên Sơn chia thành hai tỉnh Yên
Bái và Lào Cai. [3,tr.12]
Yên Bái có nhiều danh thắng và di tích lịch sử, văn hóa mang đậm dấu
ấn lịch sử và giá trị tâm linh, quá trình nghiên cứu về hệ thống di tích của tỉnh
Yên Bái được Đảng và Nhà nước quan tâm. Sau cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp của nhân dân ta thành công, miền Bắc hoàn toàn giải phóng và đi
lên con đường chủ nghĩa xã hội. Phòng Bảo tồn bảo tàng thuộc Ty Văn hóa
Yên Bái được thành lập khá sớm (từ năm 1957), công tác bảo tồn giá trị di
tích ngày càng được quan tâm. Năm 1960 là mốc đánh dấu sự mở đầu hoạt
động khảo cổ học Yên Bái, đó là việc phát hiện thạp Đào Thịnh, năm 1962
nhân dân lại phát hiện trống đồng Yên Bái, trong trống đồng có nhiều hiện vật
đồng. Do giá trị đặc biệt của của di tích, các nhà nghiên cứu ở Trung ương bắt
đầu để ý đến Yên Bái.
Năm 1963 – 1964 thực hiện chủ trương xây dựng nhà máy thủy điện
Thác Bà, nhà nước đã tổ chức nhiều đoàn khảo cổ học khảo sát nghiên cứu
vùng sông Chảy. Năm 1972 trước khi đóng nước hồ Thác Bà. Viện Khảo cổ
học cho khảo sát lại vùng này, và đã phát hiện thêm một số các di tích, di tích

Bái 2/1930 phường Nguyễn Thái Học thành phố Yên Bái, theo Quyết định số
17


117/VH-QĐ; 05/3/1990 của Bộ Văn hóa - Thông tin là di tích lịch sử cấp
quốc gia.
Từ ngày 24 đến ngày 27 tháng 6 năm 1991 Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ 7 của Đảng họp tại Hà Nội đã đánh giá 5 năm đổi mới (1986-1990),
thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Đề ra phương
hướng nhiệm vụ của công cuộc đổi mới toàn diện trong chặng đường tiếp
theo. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, cùng với việc xác định rõ nội dung và tính chất của thời đại, làm nổi
bật nội dung cơ bản: quan niệm tổng quát về xã hội chủ nghĩa mà chúng ta
cần xây dựng và những phương hướng cơ bản để xây dụng chủ nghĩa xã hội ở
nước ta trong thời kỳ mới. Cương lĩnh chỉ rõ: xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta
xây dựng là một xã hội mà nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế
phát triển cao dựa trên lục lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hưu về tư
liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân
tộc con ngươi được giải phóng khỏi áp bức, bóc lôt, bất công, làm theo năng
lực, hưởng theo lao động có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc có điều kiện
phát triển toàn diện cá nhân, các dân tộc trong nước bình đẳng giúp đỡ lẫn
nhau cùng tiến bộ trong sự nghiệp xây dựng và bảovệ tổ quốc. [4,tr.31]
Ngày 12 tháng 8 năm 1991 Quốc hội chia lại tỉnh Hoàng Liên Sơn
thành hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Ngày 01 tháng 10 năm 1991 tỉnh Yên Bái
chính thức đi vào hoạt động.Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái nhiệm kỳ 1991 –
1995 mở đầu giai đoạn mới trong quá trình phát triển của tỉnh.
Trong giai đoạn này ngành Văn hóa Thông tin nói chungđứng trước
nhiều vấn đề bức xúc. Hệ thống di tích lịch sử và danh thắng do nhiều nguyên
nhân khác nhau đang ở tình trạng xuống cấp trầm trọng, Chính phủ đã có


19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status