Đại học quốc gia hà nội
trờng đại học khoa học x hội và nhân văn
ĐàO THùY DƯƠNG
ĐảNG Bộ TỉNH VĩNH PHúC LãNH ĐạO CÔNG TáC BảO TồN Và
PHáT HUY GIá TRị CáC DI TíCH LịCH Sử (1997 - 2012)
luận văn thạc sĩ LịCH Sử
Hà Nội, 2013
1
Đại học quốc gia hà nội
trờng đại học khoa học x hội và nhân văn
ĐàO THùY DƯƠNG
ĐảNG Bộ TỉNH VĩNH PHúC LãNH ĐạO CÔNG TáC BảO TồN Và
PHáT HUY GIá TRị CáC DI TíCH LịCH Sử (1997 - 2012)
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15
luận văn thạc sĩ lịch sử
ngời hớng dẫn khoa học: TS. TRầN VIếT NGHĩA
Hà Nội, 2013
PVHTT&DL
: Phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch
SVHTT&DL
: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
TCN
: Trước công nguyên
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
UBND
: Ủy ban nhân dân
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của TS. Trần Viết Nghĩa.
Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực đảm bảo tính
khách quan, khoa học, các tài liệu tham khảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 10
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu ............................................. 11
6. Đóng góp mới của đề tài.......................................................................... 12
7. Bố cục của luận văn................................................................................. 12
Chương 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ
HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĨNH PHÚC......................................... 13
1.1.Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc..................... 13
1.1.1. Điều kiện tự nhiên .......................................................................... 13
1.1.2. Kinh tế - xã hội ............................................................................... 17
1.2. Hệ thống di tích lịch sử ở Vĩnh Phúc ................................................ 21
1.2.1. Một số khái niệm về di sản văn hóa, di tích lịch sử- văn hóa, bảo
tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa....................................................... 21
1.2.2. Hệ thống di tích lịch sử ở Vĩnh Phúc ............................................. 25
1.2.3. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử
trước năm 1997......................................................................................... 30
Tiểu kết chương 1 ...................................................................................... 34
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO CÔNG
TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ
GIAI ĐOẠN 1997-2005................................................................................. 35
2.1. Chủ trương của Đảng về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
lịch sử giai đoạn đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1996-2006).............. 35
2.2. Sự lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử của
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc .............................................................................. 39
6
2.2.1. Chủ trương và biện pháp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về công tác
bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử........................................... 39
2.2.2. Quá trình chỉ đạo và kết quả thực hiện công tác bảo tồn, phát huy
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, bên cạnh việc tập trung phát triển
kinh tế, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc còn quan tâm đến công tác gìn giữ, bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa của địa phương. Nhiều di tích đã
được đầu tư chống xuống cấp, tu sửa, tôn tạo. Việc xây dựng hồ sơ khoa học,
xếp hạng, khoanh vùng bảo vệ di tích cũng được chú trọng thực hiện.
Các di tích lịch sử không chỉ phục vụ đời sống tinh thần, tâm linh, tín
ngưỡng của nhân dân địa phương mà còn là một động lực phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh Vĩnh Phúc, đặc biệt là ngành kinh tế du lịch.
Xác định di tích lịch sử văn hóa là tài sản vô giá của các thế hệ cha ông để
lại, là phần hồn của văn hóa dân tộc, là động lực để phát triển kinh tế, văn hóa và
xã hội, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đã có sự quan tâm đáng kể đến công tác bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử của địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh những
thành tựu đã đạt được thì công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử
của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc cũng còn có những hạn chế nhất định. Vì vậy, tôi
mạnh dạn chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử (1997 - 2012)” làm luận văn Thạc sỹ
Lịch sử của mình, với mục đích làm rõ thực trạng công tác bảo tồn và phát
huy các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó rút ra những bài học
kinh nghiệm trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích ở Vĩnh Phúc.
8
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong nhiều năm qua đã có khá nhiều nhà nghiên cứu ở Trung ương
và địa phương nghiên cứu, tìm hiểu, làm rõ về di tích lịch sử ở tỉnh Vĩnh
Phúc. Tuy nhiên hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở giới
thiệu hoặc mô tả dưới góc độ đơn lẻ từng di tích như di tích danh thắng Tây
Thiên ở Tam Đảo, đền Thính ở Yên Lạc, đền Hai Bà Trưng ở Mê Linh (nay
bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương. Ngoài ra nó còn
cung cấp những tư liệu về tiềm năng và lợi thế từ việc bảo tồn và phát huy giá
trị các di tích của Vĩnh Phúc.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở việc khảo
cứu, thống kê, giới thiệu, mô tả hệ thống các di tích lịch sử nhưng chưa đề cập
cụ thể đến những chủ trương, biện pháp của Đảng bộ Vĩnh Phúc trong công
tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích trong giai đoạn (1997 - 2012) và
những thành quả bước đầu của công tác đó.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với công tác bảo
tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh.
- Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
lịch sử trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ 1997 - 2012.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nêu và phân tích những tác động của những chủ trương của Đảng bộ
tỉnh Vĩnh Phúc tới công tác bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử.
- Làm rõ những thành công và hạn chế trong bảo tồn và phát huy giá trị
các di tích lịch sử, qua đó rút ra những kinh nghiệm chủ yếu.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Những chủ trương và chính sách của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với
công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử ở địa phương.
10
- Sự lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác bảo tồn và phát huy giá trị
các di tích lịch sử của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc.
Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, luận văn sử dụng các phương
pháp như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp: nghiên cứu
điều tra, phương pháp thống kê, phương pháp điền dã để thực hiện luận văn
này.
6. Đóng góp mới của đề tài
- Luận văn đánh giá khái quát quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh
đạo công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử (1997 - 2012).
- Rút ra những kinh nghiệm về công tác lãnh đạo bảo tồn và phát huy
giá trị các di tích lịch sử của Đảng bộ Vĩnh Phúc.
- Góp phần nghiên cứu lịch sử tỉnh Vĩnh Phúc nói chung, Đảng bộ tỉnh
Vĩnh Phúc nói riêng.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
được chia thành 4 chương như sau:
Chương 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hệ thống di tích lịch
sử tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện công tác bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lich sử giai đoạn 1997 - 2005.
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện công tác bảo tồn
và phát huy giá trị các di tích lịch sử giai đoạn 2006 - 2012.
Chương 4: Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm.
12
Chương 1
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ
HỆ THỐNG DI TÍCH LỊCH SỬ VĨNH PHÚC
1.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
Nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc và xa hơn là với Trung
Quốc, Vĩnh Phúc chịu sự tác động rất lớn của quá trình phát triển vùng, có nhiều
thuận lợi trong giao lưu trao đổi hàng hoá và phát triển các loại hình dịch vụ.
Vĩnh Phúc nằm trên trục quốc lộ 2 và tuyến đường sắt Hà Nội - Lào
Cai, liền kề với sân bay quốc tế Nội Bài, nằm ở điểm đầu trục giao thông
đường sắt và đường bộ Đông - Tây từ trung tâm miền Bắc thông ra cảng Hải
Phòng và cảng nước sâu Cái Lân. Ở vị trí này rất tiện lợi về giao thông tỏa đi
khắp mọi miền đất nước, tạo điều kiện thuận lợi để Vĩnh Phúc phát triển kinh
tế, như phát triển các khu công nghiệp và ngành công nghiệp xuất khẩu.
Vĩnh Phúc nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng gò đồi trung du với
vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Bởi vậy, địa hình thấp dần từ Tây Bắc
xuống Đông Nam và chia làm ba vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và vùng
núi. Vĩnh Phúc thuộc vùng địa - văn hóa thềm phù sa cổ, một trong những nơi
khởi nguồn của nền văn minh sông Hồng.
Về mặt thủy văn, trên địa bàn Vĩnh Phúc, hệ thống sông suối khá đa
dạng, trong đó lớn nhất là hai hệ thống sông Lô và sông Hồng. Sông Lô ở
phía Tây với chiều dài chảy qua địa bàn tỉnh là 37 km, trở thành ranh giới tự
nhiên giữa Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Ở phía nam, sông Hồng là ranh giới phân
tách giữa Hà Nội với Vĩnh Phúc với chiều dài chảy qua là 40 km. Ngoài ra,
trên địa phận Vĩnh Phúc còn có nhiều sông ngòi nhỏ bắt nguồn từ dãy núi
Tam Đảo chảy xuống vùng đồng bằng như sông Phó Đáy chảy vào địa phận
Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn (Sông Lô) đến xã Sơn Đông (Lập Thạch) rồi đổ
vào sông Lô dài 55 km, sông Cà Lồ, sông Phan, sông Cầu Bòn, sông Bá Hạ.
14
Vĩnh Phúc có nhiều đầm, hồ lớn được hình thành bởi kiến tạo địa lý hoặc do
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội sau này, như đầm Vạc (Vĩnh Yên), đầm
chính: gió đông nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9; gió đông bắc thổi từ tháng
10 đến tháng 3 năm sau.
Vĩnh Phúc là tỉnh ở vị trí chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng nên
rất nghèo về tài nguyên khoáng sản. Trên địa bàn tỉnh có một số loại khoáng
sản quý hiếm như thiếc, vàng nhưng trữ lượng nhỏ, phân tán không đồng đều
do đó gây khó khăn cho việc đầu tư khai thác. Tài nguyên khoáng sản có trữ
lượng đáng kể dùng cho ngành xây dựng như đá xây dựng, đá granít (khoảng
50 triệu m3) nhưng phần lớn nằm ở khu vực có tiềm năng du lịch và rừng
Quốc gia Tam Đảo nên không có điều kiện khai thác. Ngoài ra còn có cát, sỏi,
than bùn, cao lanh giàu nhôm, đất sét làm gạch, ngói,… có khối lượng lớn, có
khả năng khai thác lâu dài.
Vĩnh Phúc có diện tích rừng tự nhiên không lớn, nhưng do làm tốt công
tác phủ xanh đất trống đồi núi trọc nên quỹ rừng tự nhiên được bảo tồn, diện
tích rừng trồng tăng. Tính đến năm 2009 tỉnh Vĩnh Phúc có khoảng 32.800 ha
đất lâm nghiệp, trong đó rừng sản xuất là 10.800 ha, rừng phòng hộ là 6.600
ha và rừng đặc dụng là 15.400 ha. Độ che phủ của rừng được thay đổi theo
hướng tích cực. Tài nguyên rừng đáng kể nhất của tỉnh là Vườn quốc gia Tam
Đảo với trên 15.000 ha, là nơi bảo tồn nguồn gen động thực vật (có trên 620
loài cây thảo mộc, 165 loài chim thú), trong đó về thực vật có cả gỗ pơmu,
nhiều cây thuốc và rau có giá trị, về động vật có nhiều loại quý hiếm được ghi
vào sách đỏ như cầy mực, sóc bay, vượn, báo, gấu, voọc, sơn dương... Rừng
Vĩnh Phúc ngoài việc bảo tồn nguồn gen động, thực vật còn có vai trò điều
hoà nguồn nước, khí hậu và có thể phục vụ cho phát triển các dịch vụ thăm
quan, du lịch [106, tr 8-15].
Với vị thế và điều kiện tự nhiên như vậy, Vĩnh Phúc có nhiều điều kiện
để phát triển kinh tế, xã hội. Dù còn nhiều khó khăn, nhưng đó là những tiền
đề quan trọng trong quá trình đi lên của tỉnh. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội đó có tác động đáng kể đến mật độ, sự phân bố cũng như công tác bảo
16
17
67,2% so với cả nước. Đến năm 2007, GDP/người của tỉnh đã đạt 15,74 triệu
đồng, cao hơn so mức trung bình đồng bằng sông Hồng (14,5 triệu đồng) và
cao hơn nhiều so với mức bình quân cả nước (13,421 triệu đồng). Năm 2008,
GDP bình quân đầu người đạt 22,2 triệu đồng (tương đương khoảng 1.300
USD), cao gấp 1,29 lần so với mức bình quân chung cả nước (17,2 triệu
đồng). Năm 2010, chỉ số này đạt 33,6 triệu đồng, cao hơn nhiều so với dự
kiến bình quân cả nước là 22,5 triệu đồng và mức bình quân các tỉnh ĐBSH là
25,5 triệu đồng. Năm 2011, thu nhập bình quân đầu người khoảng 2000 USD,
tăng 15 lần so với năm 1997. Tính đến năm 2008, GDP của Vĩnh Phúc xếp
thứ 6 trong tổng số 63 tỉnh, thành phố của cả nước (chỉ thấp hơn các tỉnh,
thành phố: Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Bà Rịa - Vùng Tàu và Cần
Thơ) [106, tr 25-30].
Bên cạnh thành tựu về kinh tế, các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều
tiến bộ. Đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, Vĩnh Phúc sớm đạt được
các chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung
học cơ sở (từ năm 2002), tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày càng tăng nhanh:
năm 2005 là 28%; 2010 là 51,2%. Duy trì được vị trí là một trong những địa
phương dẫn đầu cả nước về tỷ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học, cao
đẳng. Chất lượng giáo dục mũi nhọn đạt những kết quả đáng tự hào. Hệ thống
các cơ sở giáo dục - đào tạo của Vĩnh Phúc đã góp phần nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Vĩnh Phúc cũng là xứ sở của nhiều làn điệu dân ca đặc sắc như Xoan
ghẹo, Xa mạc, Trống quân…; của nhiều trò chơi, sinh hoạt văn hoá dân gian
độc đáo như lễ hội Tây Thiên, chọi trâu (Hải Lựu), kéo song (Hương Canh),
hát Sọng cô của dân tộc Sán Dìu…Phong trào xây dựng gia đình, làng xã, cơ
quan văn hoá được đẩy mạnh và đạt nhiều thành tựu.
2010 là 14,1‰. Toàn tỉnh có trên 11 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh
chiếm đa số với 95,72% dân số, còn lại là các dân tộc thiểu số như: Sán Dìu,
19
Cao Lan, Nùng, Dao, Tày, Mường, Ngái, Lào, Hoa, Thái... chiếm 4,28% dân số.
Trong số các dân tộc thiểu số có dân tộc Sán Dìu chiếm tỷ lệ dân số cao nhất
(3,93% tổng số dân), còn lại các dân tộc khác chỉ chiếm tới dưới 0,08% dân số.
Các dân tộc có phong tục tập quán với những đặc trưng văn hoá dân tộc riêng,
sống tập trung thành các làng, bản, ở 14 xã thuộc bốn huyện, thị xã là: huyện Lập
Thạch, huyện Tam Đảo, huyện Bình Xuyên và thị xã Phúc Yên [106, tr 16-18].
Văn hoá của mỗi dân tộc trên đều đa dạng và phong phú, với những
bản sắc riêng, thể hiện trên các lĩnh vực văn hoá vật thể (làng bản, nhà cửa,
trang phục, ẩm thực, công cụ, phương tiện vận chuyển, vũ khí và văn hoá phi
vật thể (tín ngưỡng dân ca, dân nhạc, dân vũ, văn nghệ dân gian...). Một số
sản phẩm văn hoá phi vật thể của các dân tộc thiểu số ở Vĩnh Phúc được các
nhà nghiên cứu đánh giá cao như hát sọng cô, đi cà kheo, kéo co, đánh khăng,
đánh cẩu của dân tộc Sán Dìu, múa tết nhảy, các điệu hát vi đường, gia hội,
phong đăng, lồ xấy của dân tộc Dao, các điệu hát như sinh ca, vèo ca, các
điệu múa đèn, múa chim gâu, múa xúc cá, múa kéo quân của người Cao Lan...
Tất cả đều mang một nét văn hóa truyền thống đa dạng, phong phú.
Trong công cuộc CNH-HĐH hiện nay, Đảng bộ và nhân dân các dân
tộc trong tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, bước đầu đi vào ổn định, tạo
môi trường và động lực cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị các di tích
lịch sử của địa phương. Trong thời gian qua, nhiều giá trị văn hóa truyền
thống đã được hồi sinh. Nhiều di tích lịch sử đã có điều kiện được tu sửa,
nâng cấp, bảo tồn, trở thành nơi sinh hoạt văn hóa quan trọng của nhân dân
trong tỉnh. Nhiều di tích lịch sử trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn
khách du lịch trong tỉnh, trong nước và quốc tế, góp phần thúc đẩy sự phát
không… Tuy nhiên, xét trong phạm vi nghiên cứu hẹp của đề tài, luận văn chỉ
nêu ra những khái niệm liên quan tới đề tài nghiên cứu của mình.
- Khái niệm Di sản:
Theo nghĩa Hán Việt di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại; sản
là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: di
sản là cái của thời trước để lại [56, tr 2]. Như vậy, di sản văn hóa được hiểu là
21
“chỉ chung cho các tài sản văn hoá như văn học dân gian, các công trình kiến
trúc, các tác phẩm điêu khắc, các tác phẩm văn học… mà các thế hệ trước để
lại cho thế hệ sau” [39, tr 667]. Theo Luật Di sản văn hoá thì di sản là “sản
phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền
từ thế hệ này qua thế hệ khác” [54, tr 12].
Khái niệm di sản có sự thay đổi theo thời gian và không gian. Gần đây,
khái niệm di sản không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm tài sản từ quá khứ
nữa vì nó liên quan đến quá trình chọn lọc quá khứ, nhất là đối với các di sản
của cộng đồng (như đối với trường hợp lễ hội). Không phải bất kỳ quá khứ
nào cũng có thể trở thành di sản. Tôi đồng ý rằng “di sản là sự lựa chọn ký
ức, báu vật của cộng đồng từ những quá khứ lịch sử để thể hiện cho nhu cầu,
nguyện vọng, mong muốn của xã hội hiện tại” [83, tr 78-79].
- Khái niệm Di sản văn hóa:
Di sản văn hoá được hiểu là những gì có giá trị do tổ tiên, cha ông truyền
lại cho con cháu, hoặc nói rộng hơn là thế hệ trước truyền lại cho thế hệ sau. Tuy
nhiên, điều này trên thực tế chưa hoàn toàn thoả mãn những suy luận logic muốn
tìm hiểu kỹ hơn về khái niệm này. Không phải bất cứ tài sản gì do thế hệ trước
để lại cho thế hệ sau cũng được xem như di sản. Bởi bên cạnh những phong tục,
tín ngưỡng được xem là di sản quý báu do tiền nhân để lại cho thế hệ chúng ta
ngày hôm nay, nhiều phong tục, tín ngưỡng bị xem là hủ tục lạc hậu.
Di tích lịch sử và di tích văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau. Di
tích lịch sử nào cũng có yếu tố văn hóa và di tích văn hóa luôn hàm chứa
trong nó yếu tố lịch sử. Ví dụ, sự kiện Hai Bà Trưng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa
chống ách đô hộ của nhà Đông Hán năm 40 là một sự kiện lịch sử, mở đầu
cuộc đấu tranh chống ách cai trị của Trung Hoa. Sau khi Hai Bà Trưng mất,
nhân dân lập đền thờ để tỏ lòng thương tiếc. Vậy đền thờ Hai Bà Trưng ở
Vĩnh Phúc trước hết là một di tích lịch sử. Tuy nhiên, hàng năm dân chúng
địa phương khắp nơi trong cả nước đến đền thờ Hai Bà Trưng tổ chức lễ dâng
hương kỉ niệm tưởng nhớ công lao của hai bà, tổ chức các lễ hội văn hóa ở
đây. Do đó, đền thờ Hai Bà Trưng còn là một di tích văn hóa. Thật khó tách
bạch giữa di tích lịch sử và di tích văn hóa.
24
1.2.2. Hệ thống di tích lịch sử ở Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là tỉnh có nhiều danh thắng và di tích lịch sử, văn hoá mang
đậm dấu ấn lịch sử và giá trị tâm linh. Trước Cách mạng Tháng Tám năm
1945, tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều đình, đền, chùa, có những di tích được Viện
Viễn Đông Bác Cổ thời Pháp thuộc xếp hạng bảo vệ, như đình Bạch Lưu
(Lập Thạch), chùa Cói (Vĩnh Yên), chùa Kỳ Lân (Vĩnh Tường)… Những di
chỉ khảo cổ ở Lũng Hòa, Đồng Đậu, Thành Dền… đã khẳng định Vĩnh Phúc
là một trong những vùng đất cổ, là trung tâm của nước Văn Lang. Toàn tỉnh
hiện có 1.265 di tích trong đó 65 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 310 di
tích xếp hạng cấp tỉnh.
Bảng 1.1 Số lượng di tích phân bố theo địa bàn huyện
Chùa
Đền
Lập Thạch
70
86
27
35
1
8
0
24
238
Phúc Yên
26
20
14
10
Tam Đảo
24
34
28
7
0
0
1
15
109
Vĩnh Tường
69
79
11
28
Yên Lạc
64
56
16
25
4
15
0
19
199
Tổng số
371
405
128
171