Đảng bộ tỉnh thái nguyên lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tu nam 2001 den nam 2010 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-------------------------------------------

NGÔ THỊ NGÀ

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH
LỊCH SỬ VĂN HÓA TỪ NĂM 2001 ĐẾN 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG

HÀ NỘI - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGÔ THỊ NGÀ

ĐẢNG BỘ TỈNH THÁI NGUYÊN LÃNH ĐẠO BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ
VĂN HÓA TỪ NĂM 2001 ĐẾN 2010

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Đức Tính


lịch sử văn hóa ở tỉnh Thái Nguyên (2001 - 2010) ....................................... 56

2


2.2.1. Công tác bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa ở tỉnh Thái Nguyên
(2001 - 2010) ............................................................................................... 56
2.2.2. Công tác phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa ở tỉnh Thái Nguyên
(2001 - 2010) ............................................................................................... 69
Chương 3
MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU .............................. 82
3.1. Một số nhận xét về công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích
lịch sử văn hóa ở tỉnh Thái Nguyên (2001 - 2010) ....................................... 82
3.1.1. Những thành tựu cơ bản .................................................................... 82
3.1.2. Một số hạn chế .................................................................................. 85
3.2. Một số kinh nghiệm và vấn đề đặt ra .................................................... 87
3.2.1. Một số kinh nghiệm chủ yếu ............................................................... 87
3.2.2. Một số vấn đề đặt ra .......................................................................... 91
KẾT LUẬN ............................................................................................... 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 105
PHỤ LỤC ................................................................................................. 113

3


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Luật Di sản văn hóa năm 2001 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6
năm 2001 có viết: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng

đầy đủ về giá trị các di tích,… Những di tích này không những là bằng
chứng chắc chắn cho việc nghiên cứu lịch sử và nền văn hóa lâu đời của
dân tộc ta, mà còn là cơ sở cần thiết cho việc xây dựng nền văn hóa mới,
tiến hành giáo dục chủ nghĩa yêu nước sâu hơn nữa trong quần chúng
nhân dân. Do đó, nếu để hư hại hoặc làm mất đi một di tích là một tổn thất
rất đáng tiếc, thậm chí không bao giờ lấy lại được. Bởi vậy, việc bảo vệ
các di tích lịch sử văn hóa là trách nhiệm của toàn thể cán bộ và nhân dân
ta đối với lịch sử và với thế hệ sau này.
Ở Thái Nguyên trong những năm qua, việc bảo tồn và phát huy giá trị di
tích lịch sử văn hóa ngày càng được quan tâm, nhất là từ khi có Nghị quyết
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Đặc biệt
hiện nay, dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, việc bảo tồn và phát
huy những giá trị di tích lịch sử văn hóa ở Thái Nguyên được coi trọng
hơn bao giờ hết, với mong muốn góp phần làm cho văn hóa thấm sâu vào
đời sống xã hội, mở ra những triển vọng to lớn phát triển nền văn hóa đa
dân tộc, phong phú, đặc sắc trên quê hương Thái Nguyên.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “ Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh
đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa từ năm 2001
đến năm 2010” làm luận văn tốt nghiệp của mình.

5


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa là một vấn đề
nhận được sự quan tâm từ nhiều ngành, nhiều nhà khoa học, trong đó có
một số cuốn sách, bài báo đăng trên tạp chí và luận văn, luận án nghiên
cứu dưới nhiều góc độ như:

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Hoàng Vinh (1997), Một số vấn đề bảo tồn và phát triển di sản văn
hóa dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Khoa Điềm (2002), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Văn hóa - Thông tin.
- Trần Quốc Vượng (2003), Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm, Nxb
Văn học, Hà Nội.
- Bộ Văn hóa Thông tin (2005), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa,
Hà Nội.
- Trịnh Thị Minh Đức (chủ biên) (2008), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa
(giáo trình dành cho sinh viên Đại học và Cao đẳng ngành Bảo tàng), Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
+ Luận văn, luận án có:
- Trần Văn Thắng (1995), Đánh giá khả năng khai thác các di tích lịch
sử văn hóa tỉnh Thừa Thiên Huế phục vụ mục đích du lịch, Luận án Phó
Tiến sĩ Khoa học Địa lý địa chất.
- Từ Mạnh Lương (2003), Một số chính sách và giải pháp kinh tế - xã
hội chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai thác di tích
lịch sử văn hóa của dân tộc giai đoạn phát triển mới của đất nước, Luận
án Tiến sĩ Kinh tế.
- Doãn Thị Mai Thủy (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại và sự vận dụng vào

7


xây dựng nền văn hóa ở nước ta hiện nay, Luận văn Thạc sỹ khoa học
chính trị, Học viện chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
Những bài báo, cuốn sách và luận văn, luận án trên có điểm chung đều
đề cập đến vấn đề di sản văn hóa, các lý luận chung đối với công tác bảo

huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Thái Nguyên từ năm 2001 2010.
3.3. Đối tƣợng của luận văn
Luận văn tập trung tìm hiểu chủ trương và công tác chỉ đạo thực hiện
của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên với công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy
giá trị các di tích lịch sử văn hóa từ năm 2001 - 2010.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Khóa luận nghiên cứu trong mười năm, từ năm 2001 2010. Tháng 1 năm 2001, diễn ra Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên lần thứ XVI. Tháng 12 năm 2010, diễn ra Đại hội Đại biểu Đảng
bộ tỉnh lần thứ XVIII. Thông qua các Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh, luận
văn muốn đề cập đến chủ trương của Đảng bộ tỉnh đối với công tác bảo
tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa từ năm 2001 2010.
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu công tác bảo tồn, tôn tạo và phát
huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa từ năm 2001 - 2010 trên địa bàn toàn
tỉnh. Nhưng do hạn chế về thời gian khảo sát, tư liệu, trình độ nên đề tài
không đề cập đến toàn bộ các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh, mà
chỉ tập trung tìm hiểu thực tế ở một số di tích tiêu biểu, lấy đó làm dẫn
chứng phục vụ mục đích nghiên cứu đề tài.
- Về nội dung: Tìm hiểu những vấn đề liên quan đến công tác bảo tồn,
tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh từ năm 2001 - 2010.

9


4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tƣ liệu
- Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề văn hóa.
- Một số Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên và Báo cáo tổng kết
của các ban, ngành trong tỉnh có liên quan đến vấn đề văn hóa cùng một số

Nội), những người đã có công dạy dỗ, tư vấn và giúp đỡ tôi trong quá trình
hoàn thành bài luận văn của mình.

11


Chƣơng 1
CÔNG TÁC BẢO TỒN, TÔN TẠO VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH
LỊCH SỬ VĂN HÓA Ở TỈNH THÁI NGUYÊN TRƢỚC NĂM 2001
1.1. Cơ sở lý luận chung về di tích lịch sử văn hóa
1.1.1. Khái niệm
Di tích lịch sử văn hóa là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương, dân
tộc, đất nước và cả nhân loại. Chúng là những bằng chứng trung thành, xác
thực, cụ thể nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi quốc gia, ở đó chứa đựng tất cả
những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, về kỹ năng, kỹ xảo và tâm linh con
người.
Theo quy định trong Hiến chương Venise (vơnije) - Italia năm 1964, khái
niệm di tích lịch sử văn hóa bao gồm những công trình xây dựng lẻ loi, những
khu di tích ở đô thị hay ở nông thôn là bằng chứng của một nền văn minh
riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử.
Ở nước ta, theo Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và
danh lam thắng cảnh công bố ngày 4 tháng 4 năm 1984 thì di tích lịch sử văn
hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm
có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc
liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội.
Diễn giải cụ thể ra thì: Di tích lịch sử văn hóa là những nơi ẩn dấu một bộ
phận giá trị văn hóa khảo cổ, những địa điểm; khung cảnh ghi dấu về dân tộc
học; những nơi diễn ra sự kiện quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy lịch sử đất
nước, lịch sử địa phương phát triển (kể cả những nơi do đế quốc, phong kiến
gây ra tội ác nhằm phá hoại, kìm hãm lịch sử); những địa điểm ghi dấu chiến

xây dựng mới các công trình, bổ sung phương tiện kỹ thuật nhằm mục đích
tôn vinh thêm giá trị của di tích.

13


Phát huy giá trị (hay khai thác di tích) là những hoạt động nhằm giới thiệu
các giá trị vật chất và tinh thần chứa đựng trong di tích, phục vụ sự phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương.
Mục đích của việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa là giữ gìn,
bảo quản, bảo vệ chúng một cách thích đáng nhất về mặt pháp lý và khoa học
nhằm giữ lại các di tích đó cho thế hệ chúng ta và mai sau, sử dụng chúng vào
việc nghiên cứu khoa học, giáo dục tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ và truyền
thống, góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa dân tộc.
Với mục đích trên, khi bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di tích lịch sử văn
hóa cần đảm bảo các nguyên tắc:
- Phải tiến hành nghiên cứu khoa học toàn diện và cụ thể về di tích, mọi
quy trình phải được tiến hành dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học.
- Cố gắng giữ lại nguyên vẹn các yếu tố gốc của di tích, không làm thay đổi
hiện trạng di tích, không gây biến dạng di tích.
- Giữ gìn đến mức tối đa cảnh quan vốn có của di tích. Mọi việc tu sửa
hoặc tôn tạo di tích phải đảm bảo hài hòa giữa di tích và cảnh quan.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát huy tác dụng của di tích, song
không làm ảnh hưởng đến việc bảo vệ, bảo quản di tích, không gây lấn át,
biến dạng di tích.
- Bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng di tích phải gắn liền với phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương có di tích.
Di tích lịch sử văn hóa bao gồm các thuộc tính như: Môi trường, cảnh quan
thiên nhiên xen kẽ hoặc bao quanh di tích; những công trình kiến trúc đã
chứng kiến sự kiện lịch sử; hoặc bản thân kiến trúc hoặc những tác phẩm mỹ

cách hiệu quả nhất. Theo Luật Di sản văn hóa năm 2009, di tích được phân
loại như sau:
Thứ nhất, căn cứ vào giá trị tiêu biểu nhất mà di tích chứa đựng thì di
tích được phân thành 4 loại, gồm:

15


Loại hình di tích lịch sử, bao gồm: Những công trình, địa điểm gắn với
sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; gắn với thân
thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; gắn với sự kiện
lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến1.
Di tích kiến trúc nghệ thuật, bao gồm: Quần thể các công trình kiến trúc
hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật
của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử như di tích đền, nghè, miếu, phủ, đình
làng2,…
Di tích khảo cổ học là những địa điểm ẩn dấu một bộ phận giá trị văn
hóa về thời kỳ lịch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó
trong thời kỳ lịch sử cổ đại3.
Di tích danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có
sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm
mỹ tiêu biểu hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để
lại, có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học 4.
Thứ hai, theo đầu mối quản lý và giá trị của di tích gồm có 3 loại là:
Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc
gia. Các di tích này được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị
của Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin 5, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp
hạng di tích quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghị các tổ chức Giáo dục,
Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của
Việt Nam vào Danh mục Di sản thế giới.

quản lý.
Di tích do cộng đồng dân cư (tập thể) trực tiếp quản lý: Là các di tích
quốc gia, di tích địa phương cấp tỉnh được giao cho tổ chức nhân dân trực tiếp
quản lý như đình làng, các chùa, đền thờ,…
Di tích do các nhân, gia đình trực tiếp quản lý như nhà thờ dòng họ, nhà
ở dân cư trong các khu phố cổ.
Thứ tư, theo điều kiện khai thác của di tích, di tích được phân làm hai
loại:
Di tích có khả năng khai thác: Là các di tích có điều kiện thuận lợi khách
quan1 hấp dẫn khách thăm quan, có nguồn thu tại di tích và có khả năng huy
động các nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước cho hoạt động bảo tồn, tôn tạo
và khai thác như di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích gắn với tín ngưỡng của
nhân dân nằm ở những khu vực có điều kiện giao thông đi lại thuận lợi, thuộc
các tuyến thăm quan du lịch.

1

Do bản chất của di tích quy định, không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người.

17


Di tích chưa có khả năng khai thác: Là các di tích chưa có điều kiện
thuận lợi khách quan về hấp dẫn khách thăm quan, không có nguồn thu tại di
tích và rất khó huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước cho hoạt
động bảo tồn, tôn tạo, khai thác di tích như các di tích cách mạng, di tích khảo
cổ học, di tích lưu niệm danh nhân nằm ở những khu vực không có điều kiện
giao thông đi lại thuận lợi, không thuộc các tuyến thăm quan du lịch.
Như vậy, bên cạnh việc có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng các chính
sách và giải pháp phù hợp để bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích một cách

trình ra đời trong lịch sử của sản phẩm đó trên các phương diện như: Nó được
tạo ra trong hoàn cảnh nào, với mục đích gì, do ai tạo ra,… nghiên cứu điều
đó sẽ phát hiện ra thời kỳ lịch sử của sản phẩm đó ra đời. Ví dụ: Cố đô Huế ra
đời cách đây hơn 300 năm nhằm phục vụ sự cai trị đất nước và hưởng thụ của
các vua quan triều Nguyễn, nó phản ánh quá trình lịch sử sự phát triển của chế
độ phong kiến Việt Nam, cũng như trình độ khoa học, kỹ thuật, hội họa, điêu
khắc của người Việt Nam thời kỳ đó.
Thứ tư, di tích phản ánh tính đa dạng về văn hóa của các dân tộc.
Mỗi quốc gia thường có nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống. Mỗi
dân tộc có lịch sử, văn hóa, khoa học phát triển khác nhau. Nghiên cứu các di
tích do các dân tộc khác nhau sáng tạo ra trong quá khứ không những thấy
được sự phát triển về lịch sử, văn hóa, khoa học của từng dân tộc mà còn thấy
được tính đa dạng về văn hóa của mỗi quốc gia. Ví dụ: Tháp Chàm là bằng
chứng về sự phát triển văn hóa của dân tộc Chăm.
Thứ năm, các di tích đều bao gồm hai mặt giá trị tiêu biểu là giá trị văn
hóa vật thể và phi vật thể hay còn gọi là vật chất và tinh thần.
Giá trị vật chất của di tích là cái mà chúng ta nhìn thấy, nó tồn tại trong
một không gian vật chất nhất định như đình, chùa, lăng tẩm, tượng,…

19


Giá trị văn hóa tinh thần của di tích là cái mà chúng ta chỉ nhận thấy
thông qua các hoạt động tái hiện nó của con người như lễ, hội, ca, múa, nhạc
hay sự ghi chép của con người về bản thân di tích đó.
Thứ sáu, ngoài giá trị về vật chất di tích còn chứa đựng giá trị tinh thần,
nên không thể dùng thước đo hao phí thời gian lao động xã hội cần thiết để
đánh giá giá trị của di tích.
Giá trị vật chất của di tích được hình thành trên cơ sở hao phí thời gian
lao động xã hội cần thiết của con người trong quá khứ khi sáng tạo ra nó, bản

các công trình của triều đại trước.
Việt Nam có 54 dân tộc anh em sinh sống, các di tích đều do lao động
sáng tạo của các dân tộc Việt Nam trong quá khứ và các cuộc chiến tranh
chống giặc ngoại xâm, hình thành nên một hệ thống di tích vừa đa dạng về
văn hóa của các dân tộc anh em, vừa phong phú về loại hình như di tích đình
làng, miếu thờ thường phân bố ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, di tích tháp Chăm
ở miền Trung và di tích kháng chiến ở khắp cả nước.
Phần lớn các di tích của Việt Nam được nhân dân xây dựng và bảo tồn.
Thực tế cho thấy, các di tích là đình làng, miếu thờ, đặc biệt là các di tích có
gắn với tín ngưỡng đều do nhân dân quyên góp tiền xây dựng và thực hiện
bảo tồn, tôn tạo. Chỉ một số ít di tích được xây dựng, bảo tồn, tôn tạo bằng
nguồn ngân sách của các triều đại phong kiến hay Nhà nước như di tích thành
quách, lăng mộ, cung đình, cách mạng, kháng chiến… nhưng suy cho cùng
cũng là tiền của, công sức do nhân dân đóng góp. Đặc điểm này cho thấy sự
gắn bó chặt chẽ của các di tích đối với đời sống văn hóa, tinh thần của nhân
dân, được nhân dân chăm lo bảo tồn, tôn tạo là chính.
1.2. Công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử văn
hóa ở tỉnh Thái Nguyên trƣớc năm 2001
1.2.1. Khái quát về vùng đất và con người Thái Nguyên
* Điều kiện tự nhiên

21


Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía Bắc Việt Nam với diện tích đất
tự nhiên 3.541 km2; theo niên giám thống kê 2010, dân số tỉnh Thái Nguyên
là 1.131.300 người với 8 dân tộc chính cùng sinh sống là: Kinh, Tày, Nùng,
Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Hoa, H’Mông. Năm 1997, tỉnh được tách ra từ tỉnh
Bắc Thái, bao gồm 7 huyện, 1 thành phố, 1 thị xã là: Thành phố Thái Nguyên,
thị xã Sông Công, các huyện Đồng Hỷ, Phú Lương, Võ Nhai, Định Hóa, Đại

tế nông nghiệp cũng như phát triển du lịch sinh thái của tỉnh.
* Kinh tế - xã hội
Thành phố Thái Nguyên là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của toàn
tỉnh và là thành phố vệ tinh của thủ đô Hà Nội, cách Hà Nội 80 km theo quốc
lộ 3. Từ Thái Nguyên có nhiều tuyến đường giao thông nối liền các trục kinh
tế như:
- Tuyến đường 18 nối trục kinh tế công nghiệp Thái Nguyên - Kép - Phả
Lại - Uông Bí - Cái Lân ra biển.
- Trục kinh tế phía Bắc Hà Nội - Nội Bài - Sông Công và khu chế xuất Sóc
Sơn sầm uất.
Ngoài ra Thái Nguyên còn là đầu mối giao thông sang các tỉnh lân cận,
thông sang cửa khẩu các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng nên rất thuận lợi cho việc
phát triển kinh tế thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa, giao lưu kinh tế giữa
Thái Nguyên với vùng Đông Bắc của Tổ quốc.
Từng là thủ phủ của khu tự trị Việt Bắc, Thái Nguyên tự hào là nơi ra đời
khu công nghiệp gang thép đầu tiên trong cả nước, chuyên sản xuất thép cung
cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu sang các nước châu Á. Đồng thời,
Thái Nguyên còn là tỉnh có nhiều cơ sở sản xuất công nghiệp lớn của Trung
ương như: Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên, nhà máy cơ khí Sông
Công, Phổ Yên, các ngành công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến,
gia công, sản xuất vật liệu xây dựng, các nhà máy quốc phòng,…Bên cạnh đó,
Thái Nguyên còn phát triển công nghiệp cơ khí, khai thác khoáng sản, quặng,

23


sắt, đá làm vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến chè với đặc sản chè Tân
Cương nổi tiếng.
Là trung tâm của vùng miền núi phía Bắc, Thái Nguyên là một trong ba
trung tâm giáo dục lớn nhất cả nước sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status