ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
TRẦN LAN PHƢƠNG
ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG
LÃNH ĐẠO BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY,
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và cộng tác
của các tập thể và cá nhân.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, các
Thầy, Cô giáo, các học viên lớp cao học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam – Khoa
Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo TS. Nguyễn
Đức Thìn, giảng viên trực tiếp hướng dẫn đã tận tình chu đáo giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn ông Nguyễn Việt Thanh - Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang, bà Nguyễn Thị Thanh Hải - Phó giám đốc
Bảo tàng tỉnh Tuyên Quang, nghệ nhân dân gian Hà Thuấn, người thân và bạn bè đã
tạo điều kiện thuận lợi, nhiệt tình cộng tác, ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình thực
hiện luận văn.
Chương 2: ............................................................................................................................ 33
ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG VỚI VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ ................................. 33
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY ........................ 33
2.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ...... 33
2.2. Quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật
thể của dân tộc Tày, từ năm 1991 đến năm 2012 ..................................................................... 37
2.2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về bảo tồn và phát huy giá
trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 1991 đến năm 2002 ................................. 37
2.2.2. Chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về bảo tồn và phát huy giá
trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 2002 đến năm 2012 ................................. 39
2.3. Kết quả Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang thực hiện bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phi vật
thể của dân tộc Tày (1991 – 2012) ...................................................................................... 43
2
2.3.1. Kết quả - ý nghĩa ........................................................................................................ 43
2.3.2. Hạn chế ...................................................................................................................... 50
2.4. Phương hướng và giải pháp phát triển văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên
Quang ................................................................................................................................... 53
2.4.1. Phương hướng phát triển văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày Tuyên Quang .. 53
2.4.2. Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày
Tuyên Quang......................................................................................................................... 57
2.4.3. Kiến nghị .................................................................................................................... 60
KẾT LUẬN.......................................................................................................................... 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 64
PHỤ LỤC ............................................................................................................................ 69
3
tổng kết, rút kinh nghiệm để thực hiện thành công bảo tồn và phát huy giá trị văn
4
hóa phi vật thể của dân tộc Tày nói chung. Từ đó, tiếp tục hoàn chỉnh về lý luận,
phát triển về thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện hơn nữa việc cụ thể hóa đường lối của
Đảng đối với từng địa phương, trong đó có Tuyên Quang về xây dựng và phát triển
văn hóa trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập hiện nay.
Đã có rất nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về văn
hóa của dân tộc Tày ở các vùng miền khác nhau, nhưng hiện nay, chưa có công
trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ một cách hoàn chỉnh vấn đề của đề tài. Đó là
những lý do cấp thiết để tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo
bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày, từ năm 1991 đến
năm 2012” làm luận văn Thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xuất phát từ vị trí vai trò văn hóa các dân tộc anh em trên đất nước Việt
Nam, góp phần xây dựng và phát triển bức tranh văn hóa chung - nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam. Trong những năm qua, đã có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày như: “Tín ngưỡng
và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” của tác giả Ngô Đức Thịnh (chủ biên), “Văn
hóa dân tộc thiểu số - những giá trị đặc sắc” của tác giả Phan Đăng Nhật, “Lễ hội
Lồng Thồng của người Tày ở Lạng Sơn” của tác giả Hoàng Văn Páo, “Văn hóa của
dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam” tác giả Hà Đình Thanh, “Văn hóa truyền thống của
các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang” của tác giả Nịnh Văn Độ, “Lễ cầu
mùa của các dân tộc ở Việt Nam” của tác giả Phan Hữu Dật - Lê Ngọc Thắng,
“Quan hệ tương tác về văn hóa phi vật thể giữa văn hóa của các tộc người anh em
và văn hóa người Việt”, Tạp chí Di sản văn hóa số 4 (2005) của tác giả Phan Đăng
Nhật … Các công trình khoa học nghiên cứu nêu trên đã đáp ứng phần nào mong
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong việc
bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày từ năm 1991 đến
năm 2012.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Chủ trương, chính sách lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên
Quang về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc Tày.
- Về không gian: Nghiên cứu ở địa bàn tỉnh Tuyên Quang
- Về thời gian: Từ năm 1991 đến năm 2012.
6
5. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu, nguồn tƣ liệu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được tiến hành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo tồn phát triển
văn hóa dân tộc.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó, đặc biệt chú ý đến các phương pháp
phân tích, tổng hợp.
Phương pháp điền dã (cùng ăn, cùng ở, cùng làm), điều tra dân tộc học trên
địa bàn có dân tộc Tày ở Tuyên Quang sinh sống, tiêu biểu ở các huyện: Chiêm
Hóa, Na Hang, Lâm Bình.
Cùng với các phương pháp chủ yếu như phương pháp lịch sử, phương pháp
logic, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu phỏng vấn, phương pháp
thống kê.
5.3. Nguồn tư liệu
- Các văn kiện Đại hội của Đảng trong thời kỳ đổi mới, nghị quyết Trung
Chƣơng 1:
KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC TÀY VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ
VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY TUYÊN QUANG
1.1. Khái quát về dân tộc Tày Tuyên Quang
1.1.1. Dân số, nguồn gốc dân tộc Tày Tuyên Quang
Về hành chính, Tuyên Quang gồm có 1 thành phố và 6 huyện, đó là các
huyện: Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình. Địa bàn
cư trú của người Tày rải rác ở các huyện, nhiều nhất là ở huyện Chiêm Hóa, Na
Hang, Lâm Bình.
Dân tộc Tày có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở nước ta.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009: “Người Tày ở Việt Nam có dân số
1.626.392 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả
63 tỉnh, thành phố. Người Tày cư trú tập trung tại các tỉnh: Lạng Sơn (259.532
người, chiếm 35,4% dân số toàn tỉnh và 31,5% tổng số người Tày tại Việt
Nam), Cao Bằng (207.805 người, chiếm 41,0% dân số toàn tỉnh và 25,2% tổng số
người Tày tại Việt Nam), Tuyên Quang (185.464 người, chiếm 25,6% dân số toàn
tỉnh và 22,5% tổng số người Tày tại Việt Nam), Hà Giang (168.719 người, chiếm
23,3% dân số toàn tỉnh và 20,5% tổng số người Tày tại Việt Nam), Bắc
Kạn (155.510 người, chiếm 52,9% dân số toàn tỉnh và 18,9% tổng số người Tày tại
Việt Nam), Yên Bái (135.314 người, chiếm 18,3% dân số toàn tỉnh và 16,4% tổng
số người Tày tại Việt Nam), Thái Nguyên (123.197 người, chiếm 11,0% dân số
toàn tỉnh và 15,0% tổng số người Tày tại Việt Nam), Lào Cai (94.243 người), Đắk
Lắk (51.285 người)...” [3, tr. 134 – 225].
Tày là tên đồng bào tự gọi và ngày nay trở thành tên gọi chính thức của dân tộc
thay cho tên gọi “Thổ” trước kia. “Thổ” theo nghĩa đen có nghĩa là thổ dân, người bản
xứ. Dân tộc Tày còn có các tên gọi khác theo nhóm địa phương là Thổ (tên cũ), Ngạn
do mặc áo ngắn hơn, Phén mặc áo màu nâu, Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên
đỉnh đầu, Pa Dí áo có thêu hoa văn ở cổ và vải vắt ngang ngực, ống tay được nối những
đoạn vải màu, mũ hình mái nhà. Người Tày là cư dân định cư ở Việt Nam từ rất sớm,
STT
Dân tộc
Tổng số dân
(Ngƣời)
1
Kinh
338.645
2
Tày
187.123
3
Dao
92.755
4
Sán Chay
60.435
Các dân tộc khác
2.781
Nguồn: Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 2010.
Người Tày, gọi cộng đồng cư trú của mình là bản, bản là đơn vị cư dân nhỏ
nhất, là cộng đồng gắn kết các hộ gia đình với nhau, bản nhỏ dưới 10 hộ, bản trung
bình từ 15 đến 20 hộ, bản lớn có khi 50 – 60 hộ. Các bản tập trung ở các địa hình
khác nhau, có bản nhà này sát nhà kia, nhưng cũng có bản nhà ở theo cụm, theo hộ
cách xa nhau. Người Tày định cư chủ yếu ở vùng thấp, đi lại thuận tiện, gần nguồn
nước, gần đồng ruộng để tiện trồng trọt. Bản người Tày có nhiều cây ăn quả, cây
bóng mát, cây lấy gỗ, lấy lá để lợp nhà.
Mỗi bản đều có trưởng bản, phụ nữ không làm trưởng bản do quan niệm phụ
quyền đã sâu đậm trong đời sống đồng bào Tày. Người Tày đặt tên cho bản của
mình rất giản dị họ thường lấy đặc điểm thửa ruộng, gốc cây to, khe suối … để đặt
tên bản. Ví dụ bản Nà Đứa xã Thanh Tương (bản gần ruộng có cây sung), xã Đức
Luân, bản Nà Diêm (bản gần ruộng có diêm sinh); xã Thượng Lâm, bản Nà Tông
(bản cạnh cánh đồng), bản Chùa (bản gần chùa); xã Lăng Can, bản Khuổi Kịch (bản
bên cạnh suối Kịch)… Nhiều vùng ở các huyện Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương
đồng bào gọi cộng đồng cư trú của mình là làng. Ví dụ ở xã Hùng Lợi có làng Cóc,
làng Nhà; xã Kim Quan có làng Hản; xã Tân Trào có làng Kim Long.
1.1.2. Hoạt động kinh tế
1.1.2.1. Kinh tế nông nghiệp
Là người dân bản địa, người Tày quần cư và canh tác trên chính mảnh đất
của mình. Hoạt động kinh tế nông nghiệp trồng trọt là chủ yếu. Người Tày có hai
loại canh tác chính là làm nương rẫy và trồng lúa nước.
- Canh tác nương rẫy:
Loại hình canh tác này hiện nay vẫn còn được duy trì do điều kiện tự nhiên
và vùng đất định cư của người Tày liền kề với núi rừng, có nhiều mảnh đất màu mỡ,
thuận lợi cho việc trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn, bông, vừng, lạc… Không phải
Mạ nhổ được bó thành từng nắm vừa đủ để cầm tay. Ruộng để cấy được cày bừa
kỹ, khi làm ruộng người Tày sử dụng phân chuồng hoặc phân xanh để bón cho lúa.
Ngày nay, nhờ áp dụng khoa học và cải tiến kỹ thuật, nên đồng bào đã sử dụng các
loại phân đạm hóa học, thuốc trừ sâu để chăm sóc cho lúa, nhờ vậy nên năng suất
tăng cao. Người Tày đã dùng loại lúa ngắn ngày để gieo trồng nên một số ruộng đã
cho 2 vụ lúa trên một năm. Từ năm 1991, tỉnh Tuyên Quang có chủ trương đóng
12
cửa rừng tự nhiên, công việc canh tác lúa nương chấm dứt, người Tày chỉ chuyên
canh tác lúa nước và coi đó là nguồn sống chính của gia đình. Ngoài ra, đồng bào
còn trồng thêm hoa màu tham gia trồng và bảo vệ rừng góp phần “phủ xanh đất
trống, đồi núi trọc”.
1.1.2.2. Kinh tế hộ gia đình
- Chăn nuôi:
Chăn nuôi là một hoạt động kinh tế quan trọng sau trồng trọt. Trước đây,
người Tày vẫn chú ý đến việc chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như trâu bò, lợn,
gà, ngan, vịt, dê … nhưng vẫn mang tính tự nhiên chăn thả. Rất ít khi đồng bào Tày
làm chuồng trại kiên cố và việc chăm sóc vật nuôi cũng không được chu đáo nên
năng suất và hiệu quả kinh tế không cao. Trong số các loại gia súc lớn, trâu là loại
vật nuôi được phổ biến nhất. Trước đây, trâu thả vào rừng, không cần chăn, khi nào
cần cày bừa hay bán mới vào rừng tìm trâu đuổi về nhà. Từ khi có chính sách
khuyến nông của Đảng và Nhà nước, đồng bào đã biết áp dụng các phương pháp
khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi. Các loại gia súc, gia cầm đã có chuồng trại ổn
định, đã nuôi một số giống vật nuôi cho năng suất cao như lợn lai, lợn siêu nạc …
dần thay thế cho các giống gia súc gia cầm truyền thống. Nhờ vậy, đã tạo ra nguồn
thu đáng kể cải thiện đời sống gia đình.
- Săn bắt:
Tuyên Quang là tỉnh có độ che phủ rừng khá lớn, nổi tiếng có khu rừng
Nghề dệt vải đã gắn chặt với phong tục cưới xin truyền thống của người Tày
từ bao đời nay. Để chuẩn bị hành trang về nhà chồng, các thiếu nữ Tày phải tự tay
dệt rất nhiều vỏ chăn, gối để biếu những người thân trong gia đình nhà chồng.
Trong phong tục cưới xin người Tày có tục dâng tấm vải khô ướt. Tấm vải khô ướt
một đầu nhuộm hồng tượng trưng cho phần khô. Dâng tấm vải có hai phần khô ướt
mang ý nghĩa đền ơn người mẹ chăm sóc nuôi con (chỗ ướt mẹ nằm, chỗ khô dành
cho con). Trong các lễ vật dẫn cưới không thể thiếu tấm vải hai phần khô ướt. Đây
là nét đẹp trong phong tục cưới của người Tày mang ý nghĩa sâu sắc về lòng hiếu
thảo của con cái đối với công lao sinh thành và giáo dưỡng của người mẹ. Qua đó,
thể hiện sự khéo léo, tài hoa và quan niệm thẩm mỹ của người phụ nữ Tày. Phong
tục này mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc và đã trở thành nét văn hóa truyền thống đẹp
của người Tày.
1.1.3. Đời sống văn hóa xã hội
Dân tộc Tày là dân tộc chiếm số đông sau dân tộc Kinh ở Tuyên Quang nên
đời sống văn hóa xã hội của đồng bào Tày ngoài những nét văn hóa đặc trưng của
dân tộc có sự tương đồng lớn với người Kinh. Có thể kết luận, đời sống văn hóa xã
14
hội của đồng bào dân tộc Tày rất đa dạng và phong phú, nhưng vẫn lưu giữ được
nét tinh hoa văn hóa của dân tộc. Đời sống văn hóa xã hội đa dạng, phong phú thể
hiện qua các ngày tết lễ, lễ hội truyền thống của người Tày. Cũng giống như người
Kinh, người Tày có Tết Nguyên Đán, Tết Thanh minh (mồng 3 tháng 3 âm lịch),
Tết Đoan Ngọ (mồng 5 tháng 5 âm lịch), Rằm tháng bảy, Tết Trung thu (rằm tháng
tám), Tết Đông Chí. Ngoài ra, có lễ cúng Tiên nông (vào ngày mồng sáu tháng sáu),
lễ mừng Thọ được định ra theo mức tuổi cách nhau 1 giáp (12 năm): Với người 49
tuổi người Tày làm lễ mừng Phúc, với người 61 tuổi làm lễ mừng Thọ, với người 73
tuổi làm lễ mừng Khang, với người trên 73 tuổi làm lễ mừng Ninh. Song song với
lịch sản xuất nông nghiệp, người Tày có các lễ hội gắn với nguyện vọng, mong ước
1.2.1.2. Chữ viết
Trước đây, người Tày không có chữ viết riêng nên phải dùng chữ Hán. Qua
các tài liệu và nguồn thư tịch cổ cho thấy người Tày ở Tuyên Quang đã sử dụng chữ
Hán làm chữ viết của dân tộc mình khoảng từ thế kỷ XI (Căn cứ vào tấm bia: “Bảo
Ninh Sùng Phúc tự bi” (Bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc), được phát hiện tại xã Yên
Nguyên, huyện Chiêm Hóa, nội dung của tấm bia ghi sự kiện Hà Hưng Tông (Tức
Hà Di Khánh – Châu mục, châu Vị Long), người có công giúp triều đình nhà Lý
chống quân xâm lược nhà Tống thế kỷ XI. Chữ Hán được người Tày Tuyên Quang
sử dụng khá phổ biến trong các văn bản vào khoảng thế kỷ XV. Qua cuộc điều tra
khảo cổ học thuộc dự án Bảo tồn văn hóa vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang
(2003) các nhà khảo cổ học đã phát hiện được hàng loạt ngôi mộ cổ của người Tày
cổ tại di chỉ Leo Luông xã Thúy Loa, di chỉ Heo Uẩn xã Trùng Khánh của huyện
Na Hang, các tấm bia mộ có niên đại vào thế kỷ XV.
Trải qua quá trình tiếp thu và ảnh hưởng văn hóa Hán, cư dân cổ người Tày
Tuyên Quang đã sáng tạo ra chữ viết riêng cho mình dựa trên cơ sở chữ tượng hình
là chữ Hán để tạo thành một thể loại chữ viết rất độc đáo gọi là chữ Nôm Tày. Chữ
Nôm Tày là loại chữ dùng chữ Hán ghép lại với nhau để ghi lại âm điệu của người
Tày. Cho tới ngày nay, chữ Nôm Tày gần như chỉ xuất hiện trong các văn tự cổ, và
trong các bài văn khấn, các hình thức sinh hoạt nghi lễ của thầy Then, thầy cúng.
Thay vì sử dụng chữ Nôm Tày, người Tày Tuyên Quang hiện nay sử dụng chữ quốc
ngữ để viết lại phiên âm tiếng Tày và coi đó là chữ viết của người Tày.
1.2.2. Văn học
1.2.2.1. Chuyện kể
Trong kho tàng văn học dân gian của người Tày, thể loại chuyện kể dân gian
còn được bảo lưu khá phong phú và đa dạng. Các câu chuyện kể được lưu truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác qua lời kể của ông bà, của cha mẹ cho các con, các cháu
16
Tỉnh mèng lìn thai dác.
17
Tạm dịch:
Nghe đom đóm được ăn,
Nghe ve sầu chết đói.
Hoặc:
Bươn slam lồng chả,
Bươn hả đăm nà.
Tạm dịch:
Tháng ba gieo mạ,
Tháng năm cấy ruộng.
Thành ngữ còn lại trong cộng đồng đồng bào Tày còn rất ít nhưng mang giá
trị nhân văn và có ý nghĩa răn dạy con người sâu sắc.
Thai đin phăng,
Nhằng đin liệng.
(Chết đất chôn,
Sống đất nuôi).
Pjạ khần ái nhặc,
Cần sắc ái chẩu,
Cần bẩu ái sang.
(Dao sắc thích băm,
Người chăm thích khiến,
Người đần thích đùa).
Sắc việc bản,
Chặn việc lườn.
(Chăm việc làng,
Nhác việc nhà).
Chin hẩu đo,
Quả cọ ăn vào tháng chạp mùa đông,
Quả đào ăn cả lông không phải bóc,
Mề gà ăn ở ngoài bóc ở trong.
Như vậy, ngoài câu đố thông thường thì trong kho tàng câu đố dân gian của
đồng bào Tày Tuyên Quang còn xuất hiện một số câu đố viết theo thể văn vần dưới
dạng các làn điệu hát Cọi. Câu đố tuy mộc mạc, đơn giản, dễ hiểu nhưng ẩn chứa
trong đó những giá trị nhân văn sâu sắc và thể hiện sức sáng tạo của các nghệ nhân
dân gian đồng bào Tày.
1.2.3. Diễn xướng dân gian
Diễn xướng là thuật ngữ được dùng khá quen thuộc trong nghiên cứu văn
học nghệ thuật và đặc biệt là trong nghiên cứu văn học, văn hoá dân gian. Song,
19
trong quá trình nhận diện, nhiều vấn đề liên quan đến thuật ngữ này còn chưa thật
sự thống nhất. Trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của người Tày, hát quan
làng, hát then được coi như một hình thức diễn xướng theo thể dân ca nghi lễ của
dân tộc Tày.
1.2.3.1. Hát Quan làng
Hát Quan làng là khúc hát lượn mừng đám cưới của người Tày. Theo
phong tục cổ truyền, người Tày coi lễ cưới là một việc lớn của đời người. Do vậy,
lễ cưới là ngày vui nhất, là ngày đáng nhớ suốt cuộc đời cô dâu, chú rể và cũng là
ngày vui mừng của họ hàng dân bản. Theo tập quán, trong lễ cưới người ta thể
hiện sự vui mừng phấn khởi bằng khúc hát lượn Quan làng. Khi tiến hành nghi lễ
ngày cưới ở bên nhà gái cũng như nhà trai, Quan làng và Pả mẻ là hai vị đại diện
cho hai họ đều thưa bằng lời ca tiếng hát thay cho câu đối thoại phổ thông.
Chủ:
Thưa cùng khách quan làng phù rể!
Chúng tôi người giữ cửa chắn đường,
Then là những khúc hát, điệu múa thuộc thể loại dân ca nghi lễ, phong tục từ
lâu đời của dân tộc Tày. Tuy nguồn gốc từ “Then” là chữ “thiên” (trời), nhưng những
người làm thầy Then không phải là thiên tử mà chỉ là những thầy cúng bình thường.
Hát Then gắn với nghi lễ thờ cúng và đồng thời, đồng bào Tày hát Then như để trao
gửi tâm tình của mình tới bạn bè anh em, tới người thương và tới Ngọc Hoàng. Then
được phân theo hình thức thể hiện và nội dung. Trong Then có các thể loại truyện
(thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn, truyền thuyết). Nhiều tích truyện có nội dung giải thích
nguồn gốc một số sự vật, hiện tượng về vũ trụ, thiên nhiên. Cách giải thích đơn giản,
mộc mạc nhưng khá ly kỳ, phản ánh thế giới quan của người Tày xưa. Chẳng hạn,
trong truyện “Bách điểu tranh công” loài chim nào cũng tự cho mình là đẹp nhất và
muốn giành được quyền lực. Hay chuyện “Vì sao gà mái ấp trứng vịt”: Ông mặt trời
lặn bốn mươi ngày không mọc. Muông thú chẳng có ngày phải nhờ tiếng gáy của con
gà, mặt trời nhô lên đằng Đông, nhưng gà không tự bơi đến nơi chân trời để cất tiếng
gáy gọi mặt trời mọc mà phải nhờ vịt bơi cõng gà. Để đáp lại ơn ấy, nay gà phải ấp
trứng cho vịt.
Then là những câu văn vần, có nhiều từ tượng hình, tượng thanh là truyện
thơ được gắn vào một làn điệu cụ thể để diễn xướng thành dân ca. Then có nhạc cụ
đệm là đàn tính và chùm xóc. Trong Then khắc họa nhiều hình ảnh, cảnh vật thiên
nhiên được đặc tả khá đậm nét trong các bức tranh trang trí tại đàn lễ của các đám
cúng lớn như lễ cấp sắc, cầu mùa … Then có đối thoại mang kịch tính thu hút người
nghe. Chẳng hạn, đoạn Chúa tạng (quân binh then) trên đường hành lễ gặp đàn
21
bướm tại bãi sỏi, hỏi nguồn gốc, quê quán của bướm ở đâu, bướm rằng: Vốn xưa
em cũng là con người, cũng có tình yêu, thầm ước ao kết duyên với nàng Quế, hẹn
nàng tháng ba ra soi nói chuyện, nhưng chờ ba ngày chẳng thấy nàng đâu, nỗi buồn
khôn xiết; bực mình không chịu nổi em đã thắt cổ hóa kiếp thành con bướm. Hàng
năm, cứ đến tháng ba em lại ra bãi soi tìm bạn. Tương tự có nhiều đoạn Then tự sự
qua 15 bài cúng: Cúng thổ công, cửa thần, cửa gia tiên, cửa tổ tiên, cửa bụt, cửa
then, cửa cha (vàng thiên), cửa thần, cửa tứ phủ, cửa đình chùa, cửa mụ bà, cửa hồn
(cửa khoăn), cửa hạn, cửa cửu thần, mở các cửa.
+ Then tính: Then tính ra đời và phát triển trên cơ sở Then quạt, có nhạc cụ
đệm là đàn tính và chùm sóc, quả nhạc. Khi thể hiện, vừa đàn vừa hát, nhịp đi lúc
nhanh, lúc chậm tùy vào nội dung khúc hát; nếu thời gian cùng thể hiện một khúc
hát thì Then tính nhanh gấp ba lần Then quạt. Như vậy, Then tính rút gọn hơn về số
câu và nhịp phách. Ở Then quạt âm điệu chủ yếu là ừ,ừ; thì ở Then tính âm điệu là
ới la, ới là (có nghĩa là khát vọng giao đãi của con người với trời đất, thiên nhiên,
vạn vật). Đặc biệt, âm điệu ới la được bắt đầu trước khi vào câu hát, chỉ có trong
Then của Tuyên Quang. Trước khi hát, dạo nhạc đàn tính, rồi mới bắt vào lời. Khi
xướng lên, nhiều cụm từ liên khúc rất nhanh, sau đó ngắt để vào câu tiếp theo, rồi
ngân nga nhằm cho giữa đàn và hát luôn ăn nhịp.
- Phân nhóm theo nội dung Then:
Thường chia nội dung Then làm hai nhóm là Then kỳ yên và Then lễ hội,
gồm khoảng 60 bài, cung, phủ được sử dụng hát trong các nghi lễ.
+ Nhóm nghi lễ Then kỳ yên: Bao gồm các nội dung cầu yên, cầu chúc, chữa
bệnh. Tỷ lệ Then kỳ yên chiếm nhiều hơn trong đường Then. So với Then lễ hội,
nghi lễ, Then kỳ yên phải trải qua nhiều cung đoạn gồm: Cung thổ công; cung phát
pang (phát lễ cho họ nội ngoại); cung thần linh thổ địa (các thần linh); cung mồ mả,
cung vua bếp (Táo quân); cung tổ tiên (gia tiên); cung bắc cầu, cầu hoa; cung
mụ; cung giải hạn; phủ hội đồng; cung tam bảo; cung vua; cung khảm hải. Nghi
lễ Then kỳ yên (đồng bào Tày thường gọi là làm Then) bao giờ cũng tổ chức vào
ban đêm yên tĩnh, khi mọi sự sống đã lắng đọng vào giấc ngủ, chỉ còn vang vọng
tiếng hát của Then, giúp mọi người lắng nghe và thấu hiểu từng lời hát một cách
đầy đủ và trọn vẹn nhất.
+ Nhóm nghi lễ Then lễ hội:
Then lễ hội: là những khúc hát khích lệ tinh thần mọi người thêm vui vẻ, xua
tan phiền muộn, cực nhọc vất vả trong cuộc sống để thỏa mãn ước vọng về một
cuộc sống đầy đủ, muôn vật sinh linh. Loại Then lễ hội thường được sử dụng trong
nguồn cảm hứng sáng tạo cho các văn nghệ sĩ sáng tác phục vụ cuộc sống.
Then chính là sự tích hợp những giá trị văn hoá nghệ thuật đặc trưng của
người Tày, tiêu biểu là nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn cộng với môi
trường diễn xướng mang đậm màu sắc tâm linh, thông qua các thể loại độc tấu,
song tấu, hoà tấu, hỗn tấu cùng cây đàn tính...
Thông qua nghệ thuật sắp xếp ca từ, Then đã khắc hoạ nên những hình
tượng nhân vật tương phản với ý nghĩa răn đe, giáo dục người đời. Để khuyên răn
con cái phải hiếu thảo với cha mẹ, con người phải biết thương yêu giúp đỡ nhau.
Đây là hình thức diễn xướng hát có đệm đàn, đạt được hiệu quả tích cực trong
giáo dục cộng đồng mà không phải hình thức tuyên truyền nào cũng làm được.
Đặc biệt, các khúc hát Then ở Tuyên Quang giàu về tiết tấu, hình thức diễn
tả được nổi rõ trong các đoạn hát nói, đối đáp; giai điệu lời ca mềm mại, uyển
24