ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BÙI THỊ OANH
VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA LỄ HỘI Ở TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Trọng Tuấn
Hà Nội - 2013
LỜI CẢM ƠN
Bùi Thị Oanh
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Tình hình nghiên cứu 4
3. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn 6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 6
6. Đóng góp của đề tài 7
CHƢƠNG 1: VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ
2.3.5 Tăng cường công tác đào tạo cán bộ quản lý văn hoá các cấp
nhất là cấp cơ sở. 83
Tiểu kết chƣơng 2 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 90
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Văn kiện hội nghị Trung ương lần thứ V khoá VIII - Văn kiện quan
trọng về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc đã
rất đề cao việc xây dựng môi trường văn hoá ở các địa phương, cơ sở. Nhằm
đáp ứng những nhu cầu văn hoá đa dạng và không ngừng tăng lên của các
tầng lớp nhân dân. Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền
thống ở cơ sở trở thành vấn đề quan trọng cấp bách hiện nay. Trong đó một số
vấn đề cần được đặc biệt quan tâm là việc tổ chức và quản lý lễ hội truyền
thống ở các địa phương nhằm khai thác, phát huy được những giá trị văn hoá
truyền thống vừa khắc phục được những hạn chế, tiêu cực từ tổ chức, sinh
hoạt lễ hội.
Lễ hội truyền thống là một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần, bắt
nguồn và phát triển từ thực tiễn hoạt động của đời sống xã hội, sự giao lưu,
tiếp biến văn hóa của cộng đồng. Lễ hội cổ truyền chứa đựng tất cả những
khát vọng, những ước muốn tâm linh vừa linh thiêng, vừa trần tục của cộng
đồng dân cư trong những hoàn cảnh cụ thể. Đây là một bộ phận quan trọng
của văn hóa dân tộc được lưu truyền qua hàng nghìn năm lịch sử.
Hà Nam là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, có nền văn
minh lúa nước lâu đời và nền văn hóa dân gian phong phú thể hiện qua các
Tổng quan lịch sử nghiên cứu về lễ hội:
Nghiên cứu về vấn đề lễ hội không phải là một đề tài mới. Từ trước đến
nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này tiêu biểu có các công
trình sau:
60 lễ hội truyền thống của người Việt Nam (Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội) của các tác giả Thạch Phương, Lê Trung Vũ xuất bản năm 1995,
Kho tàng lễ hội Việt Nam do Trương Thìn chủ biên (Nxb Văn hóa Dân
tộc và tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội ), 5
Lễ hội tuyền thống trong đời sống xã hội hiện tại do Trung tâm Khoa
học xã hội và nhân văn quốc gia biên soạn và được Nxb Khoa học xã hội ấn
hành năm 1994.
Hội hè Việt Nam của nhiều tác giả, Nxb Văn hoá dân tộc 1990
Bảo tàng - di tích - lễ hội. Vấn đề bảo vệ di sản văn hoá dân tộc của
Phan Khanh, Nxb Văn hoá thông tin 1992.
Lễ hội truyền thống với bản sắc Văn hoá dân tộc của tác giả Nguyễn
Quốc Phẩm, Nxb Văn hoá thông tin 1996.
Lễ hội truyền thống với việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ của
Nguyễn Quốc Phẩm, tạp chí Sinh hoat lý luận, số 5/1995.
Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc (nhiều tác giả) - Nxb Văn
hoá dân tộc 1996;
Góp phần bàn về tín ngưỡng dân gian và mê tín dị đoan của Nguyễn
Quốc Phẩm - Tạp chí văn hoá nghệ thuật, H. 1998, số 11
Văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, của GS Ngô Đức Thịnh -NXB
Khoa học Xã hội, 2006
Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, của GS Ngô Đức
Thịnh - NXB Khoa học xã hội, 1993
Những giá trị Văn hóa truyền thống Việt Nam, của GS Ngô Đức Thịnh
đền Trúc (còn gọi là hội Quyển Sơn), Hội chùa Đọi Sơn, Lễ hội Tịch Điền,
Hội đền Trần Thương, Hội làng Duy Hải, Hội vật Liễu Đôi, Lễ hội chùa Bà
Đanh, hội đền Lảnh Giang, lễ hội đền Lăng
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về văn
hóa để nghiên cứu lễ hội truyền thống của tỉnh Hà Nam hiện nay 7
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp logic và lịch sử
+ Phương pháp liên nghành và chuyên ngành
+ Phương pháp điều tra xã hội học
+ Phương pháp phỏng vấn
+ Phương pháp tổng hợp và phân tích
+ Phương pháp quan sát.
6. Đóng góp của đề tài
Luận văn nghiên cứu có hệ thống về lễ hội cổ truyền Hà Nam, cung cấp
cho người đọc một hệ thống tư liệu phong phú, những giá trị đích thực về lễ
hội cổ truyền ở một địa phương cụ thể.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn
hóa lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam, luận văn sẽ góp phần xây dựng những
định hướng cho công tác chỉ đạo, quản lý lễ hội, trên phạm vi của tỉnh; đồng
thời đề xuất những giải pháp cụ thể.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn có
kết cấu gồm 2 chương:
Chương 1: Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền
thống ở Hà Nam
một cách sâu sắc không thể không đặt nó trong mối quan hệ tương quan giữa
hai khái niệm " Lễ" và "Hội".
Trước hết nói về "Lễ" nhằm biểu hiện sự kính trọng và được thể hiện
trong mối quan hệ giữa người với người, giữa người với tự nhiên. "Lễ" trong
Lễ hội là lễ thức, lễ nghi, thể hiện hành vi của con người trong những sự kiện
đặc biệt là cách thờ vọng, tức là nói tới sự cúng tế thuộc về nghi lễ tín
ngưỡng, tôn giáo.
"Hội" là sinh hoạt văn hoá mang tính chất cộng đồng, các trò chơi, diễn
xướng dân gian Thông thường hội được tổ chức sau phần lễ kết thúc. 9
Như vậy Lễ hội là sự thông nhất giữa hai yếu tố "Lễ" và "Hội". Thiếu
một trong hai yếu tố đó Lễ hội sẽ không còn là lễ hội nữa.
Hội và lễ cái nào có trước cái nào có sau, hội chính hay lễ chính? Để
khẳng định điều này cần phải căn cứ vào thực tế của từng lễ hội hay hội lễ.
Trong từ điển lễ hội Việt Nam có viết :" Khi phần hội phong phú hơn thì gọi
là hội lễ. Cũng có khi phần lễ lấn át thì gọi là lễ hội".
Lễ hội truyền thống:
Lễ hội truyền thống là một loại hình sinh hoạt văn hoá dân gian tổng
hợp, vừa độc lập, vừa phong phú đa dạng của dân tộc, vốn có nguồn gốc phát
sinh và phát triển từ rất lâu đời trong dòng lịch sử văn hoá nước nhà. Có thể
coi lễ hội truyền thống là hình ảnh thu nhỏ của văn hoá dân gian cổ truyền
dân tộc. Nó phản ánh khá trung thực và rõ nét cốt cách bản lĩnh và bản sắc
dân tộc, cùng với tâm linh và nguyện vọng của nhân dân trong suốt thời kỳ
lịch sử dựng nước và giữ nước. Do vậy, lễ hội truyền thống không chỉ là một
hiện tượng văn hoá dân gian, mà còn là một hiện tượng lịch sử xã hội.
Lễ hội truyền thống được ra đời bảo tồn và phát huy trong dòng lịch sử
- văn hóa của dân tộc, nó phản ánh khá đầy đủ và sinh động đời sống văn hoá
- xã hội đã trải qua. Nhiều yếu tố văn hoá tinh thần được lễ hội truyền thống
mãn với lô gíc của khái niệm này vì không phải bất cứ tài sản nào do thế hệ
trước để lại cho thế hệ sau cũng được coi là di sản. Khái niệm di sản văn hoá
là một khái niệm tiến triển có nghĩa là nó thay đổi theo thời gian và không gian.
Theo luật Di sản văn hoá của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam xác đinh di sản là “ sản phảm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn
hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác”, Vì vậy có thể
quan niệm Di sản văn hoá được hiểu là những gì có giá trị do tổ tiên, cha ông
truyền lại cho con cháu, hoặc nói rộng hơn là thế hệ trước truyền lại cho thế
hệ sau.
Phần mở đầu của luật di sản văn hoá nêu rõ: Di sản văn hoá Việt Nam
là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt nam và là một bộ phận của 11
di sản văn hoá nhân loại có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ
nước của nhân dân ta”.
Di sản văn hoá tồn tại dưới hai dạng: Di sản văn hoá vật thể và di sản
văn hoá phi vật thể.
Tại chương I – điều 4 của luật di sản văn hoá ghi như sau:
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng
truyền miệng truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác
bao gồm tiếng nói, chữ viết tác phẩm văn học, nghệ thuật khoa học, ngữ văn
truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết và
nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm
thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hoá,
khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia
Di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể là những hình thức
ký Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng
cảnh (04 – 04 – 1984). Mười tám năm sau (2001), Nhà nước Việt Nam đã
chính thức ban hành Luật Di sản văn hoá, đây được coi là một bước tiến trên
quá trình hoàn thiện chính sách văn hoá vì sự phát triển của đất nước.
Trong luật di sản văn hoá này, cả hai hình thái văn hoá được chứa đựng
trong ký ức văn hoá của dân tộc: Di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi
vật thể đều được đề cập đến với tư cách là đối tượng pháp lý chủ yếu của luật.
Luật pháp của Nhà nước không chỉ nâng cao nhận thức mà còn trao cho mọi
công dân một công cụ pháp lý để điều chỉnh các hoạt động xã hội, để nhà
nước cùng các tổ chức, cá nhân có thể bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hoá dân tộc vào đời sống hiện đại.
Trong Luật Di sản văn hoá cũng có thêm những quy định về quản lý
bảo vệ và phát huy các giá trị của các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, công 13
cuộc xây dựng các bộ sưu tập và tổ chức quản lý bảo tàng ở Việt Nam xác
định rõ quyền sở hữu đối với di sản văn hoá; xác định cụ thể sự phân cấp
quản lý giữa trung ương và địa phương; quy định về việc mở rộng hệ thống
các cửa hàng mua bán cổ vật, lập các bảo tàng và sưu tập tư nhân.
Về cơ bản có thể khẳng định rằng Luật Di sản văn hoá được thông qua
tại kỳ họp lần thư 9 Quốc hội khoá 9, vào tháng 6 năm 2001 và chính thức có
hiệu lực từ ngày 01 – 01 – 2002 là cơ sở pháp lý quan trọng để đẩy mạnh việc
đổi mới các hoạt động nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá ở Việt
Nam, thiết thực góp phần thực hiện thắng lợi những đường lối, chủ trương
của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới đất nước nói chung, xây dựng và
phát triển nề văn hoá Việt Nam tiên tiến, đầm đà bản sắc dân tộc nói riêng.
Bên cạnh hiệu lực của pháp luật Nhà nước về bảo vệ di sản văn hoá,
nhận thức của xã hội trong những năm gần đây cũng có nhiều thay đổi. Đến
nay di sản văn hoá hông chỉ được coi là tài sản có giá trị giáo dục truyền
Trên thực tế chúng ta thấy rằng lễ hội truyền thống là một hiên tượng
xã hội tổng thể, trong đó có các đặc trưng chủ yếu sau:
+ Là một dạng sinh hoạt tín ngưỡng – tâm linh.
+ Là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng địa phương.
+ Là dịp đoàn kết, giáo dục truyền thống cộng đồng.
+ Là hội chợ trưng bày các sản phẩm địa phương và các vùng khác.
+ Là dịp tổ chức các hoạt động giao tiếp như sinh hoạt nghệ thuật, các
trò chơi, giải trí thể thao;
+ Là địa điểm hành hương du lịch.
Từ những đặc trưng trên của lễ hội truyền thống đều gắn với một đặc
điểm là: Lễ hội là một sản phẩm của quá khứ, được gìn giữ cho hiện tại và
mai sau, lễ hội truyền thống là một di sản văn hoá của cộng đồng người Việt.
Trong lễ hội truyền thống đang tồn tại trong ngày hôm nay, chúng ta có
thể thấy những truyền thống văn hoá còn tồn đọng những hình thái nhất định.
Với tư cách là một di sản văn hoá, sự biến đổi của các lễ hội truyền thống cho 15
chúng ta thấy cách quan niệm và xử lý đối với các di sản của từng thời kỳ lịch
sử ra sao. Nhiều học giả cho rằng lễ hội truyền thống là một bảo tàng sống về
văn hoá dân tộc. Nhờ đó nền văn hoá ấy được hồi sinh, tái tạo và truyền qua
các thế hệ. Quan niệm này chứng tỏ rằng lễ hội truyền thống không phải là
một thứ gì đó tĩnh tại mà là một sự vận động biến đổi phát triển không ngừng
trong không gian và thời gian.
Đặc trưng của lễ hội truyền thống
Xem xét dưới góc độ triết học thì lễ hội truyền thống là một loại hình
sinh hoạt tinh thần, sinh hoạt văn hoá lâu đời của nhân dân Việt Nam. Lễ hội
có sức hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội, đã trở thành một nhu cầu
không thể thiếu trong đời sống của nhân dân. Lễ hội truyền thống có các đặc
trưng cơ bản sau:
nét. Thông qua trình diễn bằng hành động và lời nói của tập thể người ta
muốn tái hiện lịch sử, tái hiện xã hội, tái hiện cội nguồn của tự nhiên và con
người. Trong lễ hội truyền thống không có những người trình diễn chuyên
nghiệp, hay có những người chỉ biết thưởng thức, hưởng thụ mà toàn thể
thành viên đều tự nguyện tham gia trình diễn với niềm háo hức, say mê phấn khởi.
Thời điểm diễn ra lễ hội là thời điểm thiêng tức là ngày kỵ, giỗ của thần
linh, và cùng với các hành động hội mang tính biểu trưng làm cho thời điểm
diễn ra lễ hội là thời điểm "thiêng". Đó là thời điểm mà người xưa tin rằng có
giá trị đặc biệt, có ý nghĩa thiêng liêng, khác với thời điểm bình thường của
đời sống hàng ngày.
Ngôn ngữ của diễn xướng lễ hội rất đa dạng như tế lễ, rước, các trò
diễn Tế là nghi thức tưởng niệm, tôn vinh thần linh, với ngôn ngữ, điệu bộ
theo quy định của từng địa phương. Ngoài tế trong lễ hội còn nhiều nghi thức
khác nữa, đặc biệt là lễ khai hội và lễ rã hội. Đây là những hình thức diễn
xướng mang tính thiêng liêng nhất của lễ hội. 17
Rước cũng là một nghi lễ thiêng liêng có ở các lễ hội, thể hiện sự
nghênh tiếp thần linh, phô diễn sức mạnh của cộng đồng. Rước thường là
phần trình diễn rất ngoạn mục vừa mang tính trang nghiêm lại vừa rất sôi
động, thu hút sự tham gia của đông đảo cộng đồng với các nghi trượng tiêu
biểu như: cờ, kiệu, lễ vật dâng cúng, chiêng, trống, lọng và dàn nhạc bát âm.
Tuỳ theo các di tích là đền, đình hay chùa và đặc tính của các vị thần linh mà
đám rước có sắc thái khác nhau.
Các trò diễn và diễn xướng cũng giữ một vị trí hết sức quan trọng
trong các lễ hội. Có nhiều trò diễn và diễn xướng khác nhau, như diễn xướng
sự tích, diễn xướng thi tài, diễn xướng vui chơi giải trí.
Cả lễ hội là một đại diễn xướng, trong đó bao gồm nhiều diễn xướng
lớn, nhỏ khác nhau, tuy nhiên chúng kết hợp theo một trình tự và cấu trúc chặt
đời từ chữ Hà của Hà Nội và chữ Nam của Nam Định ghép lại và Phủ Lý trở
thành tỉnh lỵ của tỉnh. Ngày 20/10/1908, Toàn quyền Đông Dương ra nghị
định đem toàn bộ phủ Liêm Bình và 17 xã của huyện Vụ Bản và Thượng
Nguyên (phần nam Mỹ Lộc) của tỉnh Nam Định, cùng với 2 tổng Mộc Hoàn,
Chuyên Nghiệp của huyện Phú Xuyên (Hà Nội), nhập vào huyện Duy Tiên
lập thành tỉnh Hà Nam. Tháng 4 năm 1965, Hà Nam được sáp nhập với tỉnh
Nam Định thành tỉnh Nam Hà. Tháng 12 năm 1975, Nam Hà sáp nhập
với Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh, năm 1992 tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh
Bình lại chia tách như cũ. Tháng 11 năm 1996, tỉnh Hà Nam được tái lập
thành một tỉnh riêng biệt (Nguồn địa chính - Hà Nam).
Về đặc điểm tự nhiên:
Hà Nam là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam. Phía
bắc tiếp giáp với Hà Nội, phía đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình,
phía nam giáp tỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp
tỉnh Hòa Bình. Diện tích tự nhiên của tỉnh Hà Nam là 8.522km², dân số là
786.300 người (năm 2010) 19
Hà Nam là một vùng đất được bồi đắp bởi phù sa của sông Hồng, sông
Đáy và thu nhận đất đai bị bào mòn từ vùng núi cao trôi xuống. Ngoài những
ngọn núi, Hà Nam còn được bao bọc bởi những con sông. Đó là sông Hồng ở
phía đông, sông Đáy ở phía tây, sông Nhuệ ở phía bắc, sông Ninh ở phía nam
và nhiều con sông khác chảy trong tỉnh. Chính những điều kiện tự nhiên đã
tạo cho vùng đất này các đặc trưng về văn hóa lịch sử của một khu vực giao
thoa hay vùng đệm kết nối văn hóa từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam và
chính những đặc điểm này đã hình thành nên tính cách của người Hà Nam
trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Hà Nam là một tỉnh đồng bằng giáp núi nên địa hình có sự tương phản
giữa địa hình đồng bằng và địa hình đồi núi. Mật độ và độ sâu chia cắt địa
chuyển mạnh mẽ. Hàng loạt các khu công nghiệp được xây dựng với quy mô
lớn. Hiện nay có 9 khu công nghiệp lớn thu hút sự đầu tư của nước ngoài.
Điều này tạo việc làm cho nhiều nhân lực. Phát triển công nghiệp dồn dập
cũng đã ít nhiều mang lại các hậu quả về môi trường, xong tỉnh cũng đã từng
bước thanh kiểm tra các khu công nghiệp và dần tốt đẹp hơn. Nhiều khu công
nghiệp đã có hệ thống xử lý rác thải hoạt động hiệu quả và kinh tế.
Nông nghiệp: 28,4%
Cơ cấu nông nghiệp trong GDP giảm dần từ 39,3% năm 2000 còn
28,4% năm 2005. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân
đạt 4,1% (2001-2005). Trong đó: trồng trọt tăng 1,7%, chăn nuôi tăng 6,7%,
dịch vụ 31%, sản lượng lương thực đạt 420 tấn/năm, sản lượng thuỷ sản năm
2005 đạt 11.500 tấn, giá trị sản xuất trên 1 ha đạt 38,5 triệu đồng. Hình thành
vùng cây lương thực chuyên canh, thâm canh có năng suất cao ở ba
huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục. Tại đây đầu tư vùng lúa đặc sản xuất
khẩu có năng xuất cao. Chuyển diện tích trũng ở vùng độc canh, hoang hoá
sang sản xuất đa canh để nuôi trồng thủy sản là 5.188 ha 21
Du lịch, dịch vụ:
- Về du lịch sinh thái: Hà Nam có nhiều điểm du lịch sinh thái khá hấp dẫn
như: Khu du lịch đền Trúc thờ vị anh hùng Lý Thường Kiệt và Ngũ Động Thi
Sơn là quả núi năm hang nối liền nhau cách thành phố Phủ Lý 7 km. Đã quy
hoạch Khu du lịch Tam Chúc thuộc huyện Kim Bảng với quy mô gần 2000 ha
với 9 khu chức năng. Diện tích mặt nước hồ khoảng 600 ha, diện tích phụ cận
và khu du lịch sinh thái là 600 ha. Xây dựng các nhà nghỉ, khách sạn, sân gôn,
quần vợt, công viên nước, nhà thuỷ tạ. Nơi đây cách chùa Hương 7 km,
cách Hà Nội 60 km, Nam Định 40 km, Ninh Bình 45 km, Hưng Yên 40 km là
điểm dừng chân cho khách du lịch nhiều tỉnh, nơi nghỉ dưỡng và giải trí vào
các ngày nghỉ cuối tuần của khách thập phương, đang thu hút đầu tư. Chùa
lịch sử đất nước. Người Hà Nam có truyền thống yêu nước, có phẩm chất cần
cù, siêng năng, chăm chỉ trong lao động sản xuất, có kinh nghiệm trong nghề
trồng lúa, nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải, chế biến nông sản thể hiện bàn tay
tài hoa, sáng tạo khéo léo trong nghề mộc, nghề đan nát, thủ công mỹ nghệ.
Những phẩm chất tốt đẹp đó của người Hà Nam đã tô thắm làm phong phú
thêm những phẩm chất cao quý của con người Việt Nam.
Mảnh đất Hà Nam đã sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước. Kể từ
khoa thi đầu tiên (1075) đến khoa thi cuối cùng (1919) tỉnh Hà Nam có tới 53
người đỗ đạt ở 36 khoa thi. Mở đầu cho truyền thống khoa cử ở Hà Nam là
Lý Công Bình ở Đồn Xá - Bình Lục đỗ Thái học sinh thời Lý. Người đỗ cao
nhất là Nguyễn Quốc Hiệu (Phú Thứ - Duy Tiên đạt học vị Thám Hoa).
Người đỗ khoa bảng cao nhất là Phan Tế (Duy Tiên) đỗ học vị Tiến sỹ khi
mới 19 tuổi. Người đỗ khoa bảng ở tuổi cao nhất là Trương Minh Lượng
(Ngô Xá - Duy Tiên) đỗ Tiến Sỹ ở tuổi 65. Người đỗ đầu 3 kỳ thi là Tam
Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (Bình Lục) Hà Nam cũng có nhiều dòng
học khoa bảng như: dòng học Bùi, dòng họ Vũ ở Lạc Tràng - Phủ Lý, dòng