TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA NGỮ VĂN & VĂN HÓA HỌC
NGÀNH VĂN HÓA HỌC
VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN
HÓA LÀNG CỔ PHƯỚC TÍCH – PHONG HÒA
PHONG ĐIỀN – THỪA THIÊN HUẾ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC K32
GVHD : Th.S Võ Thị Thùy Dung
SVTH : Trần Văn Huy
Đà Lạt, tháng 5 năm 2012 LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, cũng như trong quá trình học tập tại
đoan này.
Đà Lạt, ngày 25 tháng 5 năm 2012
Tác giả
Trần Văn Huy
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Phương pháp nghiên cứu 6
6. Đóng góp của khóa luận 7
7. Bố cục của khóa luận 7
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH
GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG PHƯỚC TÍCH 59
3.1. Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng cổ Phước Tích 59
3.1.1. Những thành tựu của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 59
3.1.2. Những hạn chế của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa 60
3.1.3. Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hóa 63
3.2. Những giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa làng cổ. 64
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến những bước phát triển mạnh mẽ của quá
trình khu vực hóa, toàn cầu hóa. Sự phát triển mới trong quan hệ giao lưu quốc tế
đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải khẳng định tính độc lập tự chủ của mình. Nhân tố
quan trọng nhất để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của mỗi nước chính là sức
mạnh văn hóa. Chính vì vậy, vấn đề gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá
truyền thống không còn là vấn đề của từng quốc gia riêng rẽ mà đã mang tính toàn
cầu và khu vực.
Phước Tích là một làng cổ của tỉnh Thừa Thiên Huế có nền văn hóa lâu đời.
Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử dân làng vẫn giữ gìn và tiếp tục phát huy những tinh
hoa trong vốn văn hóa truyền thống của làng mình. Tuy nhiên, dưới tác động của
quá trình đô thị hóa, sự giao lưu văn hóa phần nào đã làm mai một dần văn hóa
truyền thống. Những năm gần đây, xu hướng mở cửa đã thúc đẩy nền kinh tế, xã hội
của tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển và tăng trưởng nhanh, đó là dấu hiệu đáng mừng
ở một tỉnh mà đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên trong một chừng
mực nhất định, những tác động không thuận lợi của cơ chế thị trường nếu chúng ta
những vẻ đẹp truyền thống, phục dựng lại nghề gốm cổ truyền, các công trình mang
sắc thái văn hóa của địa phương.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Văn hóa làng là một trong những nét đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam, bởi
vậy nó đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của không ít các nhà nghiên cứu trong
và ngoài nước.
Có thể kể đến như Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính (Nxb.Tp. Hồ Chí
Minh, 1995), Cơ sở văn hóa Việt Nam của Ngô Quốc Vượng (Nxb. Giáo dục,
1999), Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (Nxb. Văn hóa Thông tin,
2002), Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử của Phan Đại Doãn
(Nxb. Chính trị quốc gia, 2004). Đây được xem là những công trình tiêu biểu, có
đóng góp to lớn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa làng của người Việt. Đồng
thời, đây cũng là những công trình đóng vai trò gợi mở, định hướng cho người
nghiên cứu trong quá trình thực hiện khóa luận.
5
Nghiên cứu văn hóa Huế nói chung và làng cổ Phước Tích nói riêng đã thu hút
được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hóa. Được biết đến sớm nhất
là bản chép tay Nghề gốm Phước Tích, (1971) của cụ Nghè Lê Trọng Ngữ (người
làng Phước Tích). Cuốn sách đã ghi chép lại lịch sử hình thành nghề gốm, vùng đất
chọn làm gốm, cách thức cũng như quy trình sản xuất gốm. Tuy nhiên, tác giả chỉ
dừng lại ở việc viết về nghề gốm truyền thống của làng mà chưa đi sâu vào các giá
trị văn hóa khác của làng như : nhà rường cổ, đền miếu…
Bản chép tay Nghề gốm Phước Tích của Lê Trọng Ngữ đã làm tiền đề cho các
nhà nghiên cứu đi sau tìm hiểu về làng cổ này. Dựa vào những tư liệu của người đi
trước, tác giả Nguyễn Hữu Thông đã công bố công trình Huế - Nghề và làng nghề
thủ công truyền thống, (Nxb. Thuận Hóa, 1994). Cũng giống như Lê Trọng Ngữ,
tác giả cũng chỉ mới đề cập đến phương diện nghề gốm truyền thống của làng mà
chưa nêu lên được các giá trị văn hóa khác.
Năm 2004, hội Kiến trúc sư Việt Nam - Sở Văn hoá Thông tin Thừa Thiên
huy các giá trị của nền văn hóa dân tộc nói chung cũng như văn hóa truyền thống
làng Phước Tích nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu các giá trị văn hóa của làng cổ Phước Tích với
những biểu hiện phong phú, đa dạng mà phức tạp của nó, để qua đó tìm ra giải pháp
bảo tồn và phát huy.
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là toàn bộ các giá trị văn hóa truyền thống
như: phong tục tập quán, lễ hội, tôn giáo tín ngưỡng, nghề thủ công truyền thống,
các công trình văn hóa…, của làng Phước Tích còn tồn tại đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được chúng tôi sử dụng trong quá trình thực hiện khóa
luận là phương pháp điền dã dân tộc học. Trong quá trình điền dã chúng tôi đã sử
dụng phương pháp phỏng vấn sâu, quan sát, tham dự…nhằm ghi nhận đầy đủ các
thông tin và nội dung phù hợp với đề tài.
Phương pháp phân tích, tổng hợp là phương pháp quan trọng được sử dụng
trên cơ sở các nguồn tư liệu thu thập được. Nhằm đem lại những kết luận khoa học
và khách quan nhất. Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng các phương pháp như liên
ngành Văn hóa – Xã hội học, phương pháp định tính…, một cách phù hợp nhất đáp
ứng mục tiêu của đề tài.
7
6. Đóng góp của khóa luận
Thực hiện khóa luận, chúng tôi mong muốn góp phần mang đến cái nhìn đầy
đủ, toàn diện về văn hóa truyền thống của làng Phước Tích. Qua đó chỉ ra những
thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn để đề xuất giải pháp cho việc phục hồi,
bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của làng cổ Phước Tích – Phong Hòa –
Thừa Thiên Huế.
Ngoài ra, khóa luận sẽ góp phần vào việc làm sáng tỏ thêm một mảng trong
bức tranh văn hóa đa màu của dân tộc mà Phước Tích là vùng đất điển hình.
7. Bố cục của khóa luận
và cảnh quan xóm làng nhuần nhị, xanh tươi ngút ngàn. Đặc biệt là không gian và
văn hóa sống cộng đồng đặc trưng, thuần khiết của làng quê Việt còn được tiếp tục
bảo tồn, duy trì tại làng
Làng Phước Tích xưa thuộc tổng Phò Trạch, Phủ Thừa Thiên, đến năm 1945
thuộc xã Phong Lâu, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Sau này khi sáp nhập
huyện và tỉnh thì đổi là xã Phong Hòa, huyện Hương Điền (Phong Điền + Hương
Điền), tỉnh Bình - Trị - Thiên (Quảng Bình + Quảng Trị + Thừa Thiên), nay lại
phân chia lại theo địa lý như cũ: thôn Phước Phú thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong
Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Về địa lý, làng Phước Tích nằm ở vị trí 16035' độ vĩ Bắc và 107005' độ kinh
Đông, có diện tích khoảng 1km
2
. Địa thế khá đặc biệt : Sông Ô Lâu bao bọc quanh
làng trừ lối thông ra ngoài tại Cống (Trước đây gọi là Cống ông Khóa Thạo) ở phía
chính Bắc và cầu Phước Tích ở phía Tây - Tây Nam, phía Bắc và Đông Bắc giáp
9
các làng Phú Xuân, Mỹ Xuyên, Mỹ Cang, đi về Ưu Điềm (thị trấn - huyện lỵ cũ của
huyện Phong Điền) khoảng 4 km theo hướng Đông Bắc.
Phía Tây Nam là làng Mỹ Chánh, chợ và ga Mỹ Chánh, từ ga Mỹ Chánh theo
đường sắt vào cố đô Huế là 40 km và theo đường Quốc lộ 1 thì từ cầu Mỹ Chánh ra
Quảng Trị là 19 km. Phía Nam là làng Hội Kỳ - nơi có mộ phần ngài Thủy tổ của
họ Lê Trọng ở Phước Tích. Làng Phước Tích bao gồm cả Hà Cát xứ ở hữu ngạn
sông Ô Lâu dành làm nghĩa trang, nơi để mộ phần của những người quá cố. Đây
vốn là một doi cồn cát. Phía Tây Bắc làng có một cái hà (hồ) rộng khoảng 2 mẫu,
theo truyền thuyết thì doi cồn cát là cây bút còn cái hồ là nghiên mực.[15,56]
Có lẽ do vậy mà người làng Phước Tích thường theo nghiệp bút nghiên và có
tiếng là làng hiếu học, nhiều người đỗ đạt, ở thời kỳ nào của lịch sử cũng có người
đỗ đạt cao, làm những chức quan to cả văn lẫn võ, có công với triều đình, nhà nước
và xã hội. Trong làng còn có 1 đền văn miếu tồn tại cho đến bây giờ, có những cây
mà cả đối với nhân dân các xã trong vùng. Từ Phước Tích, người dân có thể sử
dụng thuyền để lên rừng khai thác lâm thổ sản, ra đầm phá đến cửa biển vào Thanh
Hà - Phú Xuân - Huế để giao lưu kinh tế, văn hóa.
Phước Tích cách quốc lộ 1A khoảng 2km nằm trên đường quốc lộ 49B có vị
trí thuận lợi cho việc đi lại vận chuyển, khai thác nguyên vật liệu, lưu thông hàng
hóa, dễ dàng cho việc đón nhận, tiếp xúc những luồng văn hóa, tư tưởng từ nơi khác
tới.
Với vị trí giao thông thuận lợi, Phước Tích ngày càng được mở rộng và hoàn
chỉnh thêm, góp phần thích đáng cho sự giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội.
Điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy tạo đã cho Phước Tích nhiều ưu thế để
phát triển một nền kinh tế toàn diện, tác động đến quá trình định cư lập nghiệp, phát
triển kinh tế của mỗi người dân ngay từ buổi đầu.
Tuy nhiên, do có sông Ô Lâu bao quanh, Phước Tích bị bó lại trong một tổng
thể không thể thoát ra được, đất đai không có khả năng mở rộng ra, sự giao lưu bên
ngoài bị hạn chế, người dân có cuộc sống khép kín, hướng nội.
Điều kiện tự nhiên đã mang lại thuận lợi cùng với khó khăn đến cho nhân dân
Phước Tích. Để tồn tại và phát triển cho đến ngày nay người dân Phước Tích phải
sống trên những thách thức và trở ngại, phải biết tận dụng những ưu đãi để vượt qua
các chướng ngại vật phục vụ cho cuộc sống.
11
1.1.4. Hệ thống sông ngòi, ao hồ
- Sông Ô Lâu
Phước Tích không những có giá trị vật thể do bàn tay con người tạo dựng mà
có cả những di sản do thiên nhiên ban tặng, hòa quyện, đan xen, tạo cho ngôi làng
có được cái giá trị quý hiếm toàn diện. Trong đó phải kể đến dòng sông Ô Lâu, một
dòng sông đẹp.
Dòng sông được khởi nguồn từ những khe suối của dãy Trường Sơn hùng vĩ,
nguồn sông cao hơn mặt nước biển ước khoảng 500 mét, chảy ngang qua địa phận
thác mang nước đổ về phá Tam Giang.
Từ thượng nguồn đến phá Tam Giang dài khoảng 30km, uốn lượn nhiều đoạn,
một trong những đoạn đẹp nhất của nó là đoạn bao bọc xứ Cồn Dương (Phước
Tích) dòng chảy êm đềm, phẳng lặng rất phù hợp cho sự phát triển nghề gốm. Địa
hình của Phước Tích nhìn từ đầu đến cuối làng trông như cái nan quạt xòe ra.
Vì vậy làng được xây dựng trên một phương vụ hướng về chính Nam, lấy Ô
Lâu làm yếu tố minh đường. Theo thuật phong thủy "khí là cha, nước là mẹ" khí là
bản thể của nước, nước là cái khí hữu hình, nơi có nước chứng tỏ nơi ấy có khí.
Dòng nước quanh co, uốn khúc chảy ngang qua rồi vòng trở lại bao bọc lấy
làng, dòng chảy du dương êm đềm bồi lắng mặt bờ thì phúc lộc cho làng càng lớn
- Hà (hồ) sen Hà Trì
Hà Sen cũng là một trong số những di sản của làng, hà nằm ở vị trí Trung
Tâm, phía trên là phần đất xóm Thượng Hòa, phần dưới là phần đất xóm Hạ Hòa
mang đậm nét triết lý phong thủy, có hình dạng trông như một chiếc túi lớn (phần
dưới phình rộng, phía trên nhỏ dần, chỗ nhỏ nhất co thắt là nơi đặt chiếc cống xây
bằng gạch vồ cuốn tròn, kiểu dáng như một số cống ở Huế vào Đại Nội). Đây là
chiếc cống đi lại nằm trên tuyến đường liên thôn (nơi đây biểu tượng cho điểm thắt
buộc chiếc túi)
Từ đây đến chỗ tiếp giáp với dòng nước của sông Ô Lâu khoảng 100 mét, phía
bên này là phần đất làng Phước Tích, bờ bên kia là đất làng Mỹ Xuyên. Hàng năm
đến mùa mưa lũ, nước sông Ô Lâu dâng cao đưa nước từ thượng nguồn chảy vào
cung cấp cho hà, các loại cá cũng như theo đường này vào sinh sống.
13
Trước đây, dưới triều Nguyễn, hà được giao cho chùa quản lý, sử dụng vào
việc hương khói, lễ lược
Để có nguồn thu, chùa chia hà ra làm 2 khu vực, khu vực trên thế đất cao (gọi
khu vực trốt hà) dùng trồng lúa 1 vụ, khu vực phía dưới thấp trũng, dùng trồng sen,
nuôi cá, nên hà có tên gọi "Tam Bảo Hà Điền" nhờ nguồn thu nhập này, chùa mới
gần đây của thôn thì tính đến năm 2010 chỉ còn 320 người. Đặc biệt là trong đó, lại
có đến trên dưới 40% là người già. Như vậy chúng ta có thể nhận thấy từ khi nghề
gốm của làng mất vai trò, không còn là nghề chủ đạo trong phát triển kinh tế chung
của các hộ gia đình thì dân số đã giảm xuống một cách rõ rệt.
Sở dĩ làng có sự giảm dân số như vậy là do những thanh niên trong làng đã
vào Nam ra Bắc để lập nghiệp, cho nên chỉ trong vòng mấy năm dân số của làng đã
giảm một cách đáng báo động.
1.2.2. Tình hình kinh tế
Nền kinh tế của làng trước kia chủ yếu dựa vào nghề làm gốm truyền thống,
gốm của làng Phước Tích nổi tiếng một thời, được nhiều nơi biết đến. Không những
tạo ra những sản phẩm trong sinh hoạt hằng ngày như : om, tréc, lu, độôc
[1]
,… mà
còn có những sản phẩm đạt đến độ tinh xảo, thẩm mỹ cao. Có một số sản phẩm
được dùng trong triều Nguyễn xưa. Vì thế có câu :
“Om Phước Tích ngon cơm hoàng đế
Sen Hà Trì quý thể Phú Xuân”
Hiện nay thì nghề gốm đang đứng trước nguy cơ bị mai một, nên người dân
trong làng chỉ còn biết làm nghề khác để sinh sống, trong làng ngoài nghề gốm ra
còn có nghề ép dầu chuồn, nghề làm bột (bột nấu cháo bánh canh), nghề thợ xây
(thợ nề), nghề dạy học, trong làng số lượng thầy cô giáo khá đông bởi vì đây là một
làng có truyền thống hiếu học, nhiều người học hành đỗ đạt cao.
1.2.3. Tình hình xã hội
Mô hình làng Phước Tích cũng giống hầu hết mô hình làng miền Bắc, cũng
khép kín và có cổng làng, dân cư thì sống san sát nhau. Điều này tạo điều kiện cho
quan hệ hàng xóm láng giềng ngày càng gắn bó khăng khít. Các gia đình ở làng này
hầu hết là gia đình mở rộng, 3-4 thế hệ cùng chung sống với nhau, bao gồm ông bà,
1
. Om là nồi đất hay còn gọi là niêu, Lu là vật dụng để đựng gạo…
Chiêm. Chiến dịch thắng lợi. Đã đưa biên giới Đại Việt vào đến đèo Đại Lãnh.
16
Ngài Hoàng Minh Hùng theo chiếu vua Lê, bình Chiêm thắng lợi được triều
đình phong tặng Đặc Tấn phụ quốc thượng Tướng quân, Cẩm y vệ. Đô chỉ huy sứ,
Ty chỉ huy sứ, quản trị phó tướng. Hoàng Minh Hùng - người quê gốc làng Cảm
Quyết - huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An. Theo chủ trương của triều đình, chiêu
mộ dân vào vùng đất mới để định cư lập nghiệp, Ngài Hoàng Minh Hùng cùng với
mười một ngài thuỷ tổ của 11 dòng họ đều là quê hương Cảm Quyết
[2]
.
Tất cả là 12 dòng họ đầu tiên vào xứ Cồn Dương khai hoang lập ấp xây dựng
nên Làng Phước Tích ngày nay.
Theo sách Ô Châu Cận Lục, vào năm 1553, tên của làng là Dõng Quyết.
Trước Thế kỷ XVI, thời (Lê Mạc) thuộc Kim Tòa – Châu Hóa. Sau đổi là Cồn
Dương (Giàng) xã Hiệu Phước Giang. Triều Tây Sơn năm 1778 đổi là Hoàng
Giang.
- Năm 1802 Vua Gia Long đổi tên là Phước Tích .
- Năm 1835 Phước Tích thuộc Tổng Phò Trạch
- Năm 1945 Phước Tích thuộc xã Phong Lâu (tên được đặt do xã có vị trí cạnh
sông Ô Lâu)
- Năm 1958 xã đổi tên Phong Hoà, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên
Huế. Dưới thời Nguyễn, ngoài việc đổi tên làng, năm 1802 Gia Long lên ngôi đặt
kinh đô ở Phú Xuân, theo lệnh, làng Phú Xuân gốc ở Tả Ngạn sông Hương phải giải
tỏa đi tìm nơi định cư mới. Một bộ phận dân làng Phú Xuân khoảng 15 hộ đã đến
dải đất phù sa của làng Phước Tích, nơi dùng trồng thuốc lá (gọi là phường thuốc)
để ở, và lấy tên gốc là Phú Xuân.
[3]
. Như vậy, trên xứ Cồn Dương từ đầu triều
Đến nay thì làng đã có 6 xóm : xóm Hội, xóm Cừa, xóm Thị, xóm Lò, xóm
Đình, xóm Dưới. Mỗi xóm chia ra kiệt, cuối mỗi kiệt đều có xây dựng bến nước dọc
theo bờ sông Ô Lâu để sinh hoạt tắm giặt, gánh nước tưới cây. Nhờ vậy cây trái
vườn quanh năm tươi tốt. Trong làng có tất cả 12 bến, mỗi bến có tên gọi riêng như
bến Hội, bến Lò, bến Cừa, bến Cây Bàng, bến Đình, bến Cạn, bến Cây Thị, bến
Vạn, bến Miếu Vua, bến Cầu, bến Cạn 2, bến Chùa.
1.3.2. Ngài khai canh làng Phước Tích
Ngài khai canh làng Phước Tích, xã Phong Hòa, huyện Phong Ðiền, Thừa
Thiên Huế là Hoàng Minh Hùng, tục gọi là Nồi. Ngài theo vua Lê vào bình Chiêm
thắng lợi, được triều đình phong tặng "Ðặc tấn phụ Quốc thượng tướng quân,
Cẩm y vệ, Ðô chỉ huy sứ ty, Chỉ huy sứ Quảng Trị, Phó tướng Hùng Minh Hầu".
Khi trở về, ngài chiêu mộ dân binh vào Nam. Thấy vùng Cồn Dương phù hợp với
dự tính lâu dài của mình là nghề gốm. Ngài trở về cố hương, là làng Cảm Quyết
(Dũng Quyết), huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, chiêu tập thêm 11 họ nữa vào đất
Cồn Dương khai khẩn lập làng. Ðó là các họ Phan, Ðoàn, Hoàng, Hồ, Lê Ngọc,
Nguyễn Bá, Nguyễn Duy, Trần, Trương, Nguyễn Phước, Lê Trọng và Lương
Thanh. 18Miếu Đôi thờ ngài Khai Canh và Bổn Nghệ
Vì có công khai canh lập làng, lại truyền nghề cho dân làng nên ngài Hoàng
Minh Hùng được nhân dân trong làng hết sức ngưỡng mộ, kính trọng. Trên câu đối
ghi trước Miếu Ðôi, nơi thờ tổ nghề có ghi:
Thương thương dĩ chế khí
Tùy vật nhi phú hình
Dịch là:
(Theo dạng chế thành khí
2.1.1. Văn hóa cảnh quan kiến trúc của làng
Trước hết phải nói đến ngôi làng Phước Tích được dựng trên một địa hình
mang đậm triết lý phong thủy phương Đông. Phước Tích hay còn gọi là xứ Cồn
Dương, là một cồn đất rộng khoảng 21 ha được bao bọc bởi dòng sông Ô Lâu xanh
mát.
Từ thượng nguồn, dòng sông Ô Lâu chảy quanh co uốn khúc rồi hợp lưu với
dòng Thác Ma mang nước đổ về phá Tam Giang. Chính sự hợp lưu của hai dòng
sông trước khi hòa nguồn nước về phá Tam Giang nên dòng chảy không mạnh mẽ,
hung dữ mà hiền hòa và lắng đọng phù sa bồi tụ nên Cồn Dương. Bởi vậy, ba mặt
Đông - Nam - Tây của làng đều được bao bọc bởi dòng Ô Lâu. Cái đẹp của địa thế
làng Phước Tích còn thể hiện ở chỗ, mặt trước của làng hướng về phía Nam, dòng
sông Ô Lâu hiền hòa chảy bao từ phía Đông vòng ngang phía Nam chảy sang phía
Tây.
Ở chỗ vùng uốn lượn phía Nam, Cồn Dương phình rộng ra và càng về cuối
làng ở phía Tây, nơi tiếp giáp với làng chạm khắc mộc Mỹ Xuyên, địa hình của
Phước Tích co hẹp lại. Như vậy, làng Phước Tích được xây dựng trên một phương
vị hướng về chính Nam, lấy sông Ô Lâu làm yếu tố minh đường. Theo thuật phong
thủy, khí là cha, mẹ là nước, khí là bản thể của nước, nước là cái khí hữu hình, nơi
có nước chứng tỏ nơi ấy có khí, dòng nước sâu, nguồn dài xa là khí vượng. Vì vậy,
làng được xây dựng trên cồn đất cao, bằng phẳng, có dòng sông chảy qua trước mặt
là làng có vượng khí. Nhưng dòng nước nông, nguồn gần thì phúc lộc ngắn, dòng
nước chảy quanh co, uốn khúc, chảy ngang qua và quay vòng trở lại, bao bọc lấy
làng, chảy du dương, êm đềm, bồi lắng mặt bờ thì phúc lộc cho làng càng lớn. Từ
thượng nguồn đến phá Tam Giang, dòng Ô Lâu dài khoảng trên dưới 30km nhưng
uốn lượn mềm mại nhiều đoạn, một trong những đoạn đẹp nhất của nó là gần 7km
bao bọc vùng Cồn Dương thuộc địa phận làng Phước Tích. Ở đây dòng chảy rất êm
21
đềm, mặt nước xanh phẳng như tấm gương phản chiếu những lũy tre xanh, những
4
.
Dẫn theo Hoàng Thái Lộc, làng cổ Phước Tích là một phát hiện lớn - Báo Thừa Thiên
Huế, ngày 17/5/2003.22
mình vào cảnh vật thiên nhiên thơ mộng: dòng sông hiền hòa như dải lụa đào uốn
lượn quanh làng, cây cối xanh tươi với những hàng chè tàu, những rặng tre, những
cây cổ thụ có tuổi đời gắn với tuổi của làng.
Có thể còn nêu lên nhiều giá trị văn hóa khác của ngôi làng nhỏ Phước Tích
như cổng làng, giếng làng, bến nước làng nhưng chỉ những điều chúng tôi đề cập
ở trên cũng đủ để chứng minh rằng, Phước Tích là một ngôi làng cổ, điển hình của
người Việt ở miền Trung.
2.2. Văn hóa tinh thần
2.2.1. Tín ngưỡng
Tôn giáo tín ngưỡng, nói như Mác nói đó là “ thuốc phiện của nhân dân”.[
5
]
Nó có chức năng an ủi, che chở, bảo vệ nhân dân – đồng thời nó có một chức năng
lớn khác nữa là giảm bớt nỗi đau về tinh thần cho con người khi con người cảm
thấy trong tâm hồn mình có sự đau đớn, mất mát. Trong quá trình tồn tại và phát
triển, tôn giáo tín ngưỡng đã ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa
xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống và phong tục tập quán của nhiều dân tộc, nhiều
quốc gia. Bản thân tôn giáo tín ngưỡng chứa đựng nội dung phong phú về lịch sử,
tư tưởng, triết học, đạo đức, văn hóa, chính trị,…Nó thực sự là nhu cầu của con
người, nhu cầu của xã hội, và một khi nhu cầu ấy chưa được thõa mãn thì đối với
một số tầng lớp xã hội, tôn giáo tín ngưỡng vẫn là nguồn gốc của giá trị đạo đức,