HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN TH HNG MINH
vấn đề giữ gìn và phát huy di sản văn hóa
ở thừa thiên huế hiện nay
Chuyờn ngnh : CNDVBC & CNDVLS
Mó s : 62 22 80 05
LUN N TIN S TRIT HC
Ngi hng dn khoa hc: GS.TS NGUYN HNG HU
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập.
Các kết quả số liệu nêu trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng, chính xác của các cơ quan chức năng đã
công bố. Những kết luận khoa học của luận án là mới và chưa
có tác giả công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.
Tác giả luận án
Trần Thị Hồng Minh
MỤC LỤC
Trang
MMỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI VẤN ĐỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY DI SẢN
VĂN HÓA Ở THỪA THIÊN HUẾ HIỆN NAY
5
1.1. Các công trình nghiên cứu tổng quát về văn hóa, di sản văn hóa
và vấn đề giữ gìn, phát huy di sản văn hóa dân tộc
5
1.2. Các công trình nghiên cứu trực tiếp đến việc giữ gìn và phát huy
di sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay
13
4.1. Phương hướng cơ bản, tầm nhìn để nâng cao hiệu quả của việc
giữ gìn và phát huy di sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay
118
4.2. Những giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu quả của việc giữ gìn
và phát huy các di sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay
124
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ
151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
152
PHỤ LỤC
162
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DSVH : Di sản văn hóa
KTTT : Kinh tế thị trường
UBND : Ủy ban nhân dân
TTBTDTCĐ : Trung tâm bảo tồn di tích cố đô
TTH : Thừa Thiên Huế
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Trang
Bảng 3.1: Tổng số khách du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển
hơn trong những năm gần đây
101
Bảng 3.2: Doanh thu của tỉnh Thừa Thiên Huế từ 2006-2012
101
Bảng 3.3: Lượt khách và doanh thu của nhà hát Duyệt Thị Đường và
Minh Khiêm Đường từ 2003 đến 2009
động phát triển kinh tế, du lịch [32, tr.106].
Ngày nay, TTH là trung tâm văn hóa - du lịch quốc gia và quốc tế hấp
dẫn, đã được Tổ chức UNESCO công nhận hai DSVH của nhân loại. Nơi đây
2
hiện đang lưu giữ trong lòng nhiều DSVH vật thể và phi vật thể chứa đựng
giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Ngay sau
ngày Việt Nam thống nhất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi vào thăm Huế
đã mừng rỡ cho rằng: "Giải phóng xong, Việt Nam may ra còn có Huế để
đối ngoại về văn hóa" [35, tr4]. Trong nhiều năm qua, với sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước, cùng sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là sự
tham gia đầy nhiệt huyết của các cấp chính quyền địa phương, cán bộ,
Đảng viên và nhân dân TTH, công tác trùng tu, giữ gìn và phát huy các
DSVH ở TTH đã có những chuyển biến lớn lao và đạt nhiều thành tựu to
lớn. Nhiều di tích lịch sử văn hóa có giá trị tiêu biểu đã được khôi phục;
cảnh quan thiên nhiên được giữ gìn và tôn tạo; các DSVH phi vật thể và
ngành nghề truyền thống cũng được nghiên cứu, phục dựng và phát huy giá
trị. Nhìn chung, DSVH ở TTH đã vượt qua giai đoạn khó khăn và đang
chuyển dần vào giai đoạn ổn định phát triển theo hướng bền vững. Những
giá trị DSVH vật thể và phi vật thể tưởng chừng bị mai một đã dần dần
sống lại trong sinh hoạt cộng đồng, trong nếp nghĩ và việc làm người dân
cố đô Huế, góp phần mở rộng giao lưu và hội nhập trong đời sống văn hóa
của dân tộc Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, do hậu quả nặng nề của chiến tranh và do thiên tai tàn phá,
nhiều di tích văn hóa ở TTH vẫn thường xuyên bị đe dọa. Những nỗ lực trong
công tác trùng tu, bảo vệ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của một quần thể di
tích có quy mô lớn, đa dạng, phức tạp và chưa tương xứng với tiềm năng văn
hóa vốn có của tỉnh TTT. Không gian hoang phế ở các khu di tích còn lớn,
một số công trình văn hóa nghệ thuật tiêu biểu cho bộ mặt hoàng cung Huế
vẫn chưa khôi phục, môi trường văn hóa và cảnh quan thiên nhiên, hệ thống
nhà vườn vẫn còn bị xâm phạm; kho tàng văn hóa phi vật thể: ca múa nhạc
Luận án nghiên cứu hoạt động giữ gìn và phát huy DSVH ở tỉnh TTH
dưới góc độ triết học. Chủ yếu nghiên cứu thực trạng giữ gìn và phát huy
DSVH ở TTH trên những nét tiêu biểu gắn liền với quần thể di tích Cố đô
Huế do TTBTDTCĐ Huế quản lý.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Qua quá trình điền dã thực tế, kế thừa từ các kết quả
nghiên cứu của các công trình đi trước, tác giả luận án lựa chọn và tập trung
khảo sát chủ yếu các DSVH ở TTH gắn liền với quần thể di tích cố đô Huế.
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng giữ gìn và phát huy các giá trị DSVH ở
TTH với trọng tâm số liệu được giới hạn trong khoảng thời gian từ 1996 đến năm
2013, các giải pháp đưa ra cho thời kỳ đến năm 2020.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách
của Nhà nước Việt Nam về văn hóa, DSVH, giữ gìn và phát huy DSVH. Cơ
sở thực tiễn của luận án là phân tích kinh nghiệm của một số nước và đánh giá
thực trạng giữ gìn và phát huy DSVH ở tỉnh TTH.
- Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụng các phương pháp cụ thể: Phương pháp
phân tích- tổng hợp, phương pháp thu thập và xử lý thông tin. Đồng thời có sự
kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
5. Những đóng góp về khoa học của luận án
- Làm rõ thực trạng giữ gìn và phát huy DSVH ở tỉnh TTH với những nét
đặc thù riêng có của một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung bao gồm:
những kết qủa đạt được, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của vấn đề giữ
gìn và phát huy DSVH ở tỉnh TTH trong thời gian tới.
6. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài luận
- Cuốn sách “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển DSVH dân tộc”
[139] gồm 3 chương và phần phụ lục đề cập đến những vấn đề lý luận về
6
DSVH dân tộc; về vai trò, chức năng của DSVH đối với việc lựa chọn mô
hình phát triển văn hóa dân tộc. Căn cứ vào những đòi hỏi thực tiễn của cuộc
sống để tiến hành phân loại và bước đầu mô tả thực trạng vốn DSVH dân tộc.
Làm nổi rõ những mặt tồn tại, những nguyên nhân đã và đang gây nên sự
xuống cấp vốn DSVH trong thời gian qua. Từ đó, đưa ra những kiến nghị,
biện pháp cụ thể và giới thiệu kinh nghiệm của Nhật Bản về giữ gìn và phát
huy DSVH.
Những nội dung của cuốn sách liên quan đến đề tài luận án:
- Khái niệm DSVH là tổng thể những tài sản văn hóa truyền thống trong
hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết và đưa vào sử dụng nhằm đáp
ứng những nhu cầu của hiện tại. Đóng vai trò then chốt ở đây là những khái
niệm “nhận biết” và sử dụng; bên ngoài mối quan hệ với chủ thể, không tồn
tại khái niệm DSVH theo nghĩa đích thực của nó.
- Chính sách về bảo tồn và phát triển DSVH dân tộc của nước ta trong
thời gian qua thông qua các kỳ đại hội của Đảng.
- Một số bài học kinh nghiệm từ việc bảo tồn và phát huy DSVH tại
Nhật Bản: Luôn coi bảo tồn và khai thác tài sản văn hóa là một vấn đề quan
trọng được quy định trong các văn bản pháp luật, chính sách. Thể hiện việc
bảo tồn các DSVH được nhấn mạnh trong nhận thức của mỗi người dân và
thể hiện chức năng, vai trò của di sản trong qúa trình phát triển của đất nước
Nhật Bản theo hướng bền vững. Từ những nhận thức trên, Nhật Bản đã thực
hiện hóa DSVH trong đời sống thực tiễn bằng một loạt biện pháp cụ thể như:
Tổ chức bộ máy hành chính và ngân sách hoạt động, khai thác các giá trị văn
hóa trên cơ sở đưa chúng thâm nhập vào đời sống hiện đại của cộng đồng…
Tuy nhiên, cuốn sách này chỉ nghiên cứu giá trị DSVH nói chung mà chưa
đi sâu nghiên cứu về vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH ở một số thành phố có
nhiều tài sản văn hóa đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển như TTH. Những
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (PGS.TS
Phạm Đức Duy). Tác giả luận án có thể kế thừa các nội dung sau:
- Cách tiếp cận khái niệm văn hóa theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt
cuốn sách khẳng định phương pháp tiếp cận mácxít về văn hóa là cách tiếp
8
cận về hình thái kinh tế - xã hội, do đó: “Văn hóa gắn bó chặt chẽ với sự vận
động của các phương thức sản xuất”, “nguyên tắc tiếp cận đầu tiên với văn
hóa là phải tìm thấy mối quan hệ giữa tự nhiên và văn hóa” [37, tr.22].
- Các quan điểm chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam như văn hóa là
nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự
phát triển kinh tế - xã hội; nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống
nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; đồng thời chỉ ra một
trong những nhiệm vụ quan trọng là cần giữ gìn và phát huy các DSVH:
DSVH là cơ sở để liên kết cộng đồng, là nền tảng để sáng tạo ra các giá
trị văn hóa mới, là tiền đề để mở rộng giao lưu văn hóa với các dân tộc khác
trên thế giới. DSVH không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của nhân
dân, góp phần khẳng định niềm tự hào dân tộc mà còn là nguồn lực để phát
triển kinh tế - xã hội” [37, tr.177].
- Cuốn “Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội”
[8] đã làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị của
DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, tiếp thu những quan điểm mới về quản
lý di sản một số nước trên thế giới để vận dụng vào công tác bảo tồn, phát huy
các giá trị di sản vật thể Thăng Long - Hà Nội; xuất phát từ thực trạng DSVH
vật thể Thăng Long - Hà Nội làm rõ giá trị của nó trong thời kỳ công nghiệp
hóa- hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở chỉ ra những nguy
cơ, thách thức của công cuộc bảo tồn DSVH, cuốn sách đã đề xuất các giải
pháp nhằm phát huy hiệu quả của công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di
sản vật thể Thăng Long - Hà Nội. Sách gồm 5 chương và những nội dung của
cuốn sách liên quan trực tiếp đến đề tài luận án tập trung chủ yếu ở chương 2
chuyên gia nghiên cứu về văn hóa. Xuất phát từ sự tiếp cận văn hóa, những
yếu tốc cấu thành nền văn hóa, những tiền đề lý luận và thực tiễn hoạt động
văn hóa do Đảng ta lãnh đạo, nội dung cuốn sách phản ánh thực trạng văn hóa
Việt Nam qua 25 năm đổi mới, chỉ ra những thành tựu quan trọng, đồng thời
vạch ra những mặt yếu kém, hạn chế, qua đó đề xuất một số giải pháp cơ bản
và kiến nghị xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong những năm tiếp
10
theo vừa đáp ứng những đòi hỏi bức xúc tinh thần của xã hội ta trên con
đường: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Bài viết trong cuốn sách liên quan trực tiếp tới đề tài luận án: Thực trạng bảo
tồn và phát huy DSVH dân tộc và bài học kinh nghiệm(Th.s Vũ Công Hội), tác
giả luận án kế thừa được khái niệm DSVH và vai trò của DSVH trong đời sống xã
hội, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc bảo tồn và phát huy DSVH dân
tộc và đặc biệt là những ưu điểm, nhược điểm, nguyên nhân và bài học kinh
nghiệm, những vấn đề đặt ra trong việc bảo tồn và phát huy DSVH dân tộc.
- Trong cuốn “Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn
cầu hóa hiện nay” [42] đã khằng định, vấn đề bản sắc dân tộc và việc giữ gìn
bản sắc dân tộc là mối quan tâm của nhiều quốc gia trong bối cảnh toàn cầu
hóa. Vì một trong những thách thức mà toàn cầu hóa đặt ra đối với sự phát
triển của các nước là sự nhạt nhòa, mai một bản sắc dân tộc. Đòi hỏi mỗi quốc
gia phải có những phương thức xử lý để không những đưa đất nước phát triển
đi lên, hội nhập cùng thế giới và phát huy được sức mạnh vốn có của mình,
đưa bản sắc dân tộc thành động lực nội sinh thúc đẩy dân tộc phát triển.
Trong cuốn sách, tác giả khẳng định: “Dân tộc Việt Nam phải giữ gìn…
bản sắc dân tộc một cách sáng tạo, linh hoạt; phải kết tinh lại và nâng lên tầm
cao mới mọi đặc điểm tích cực của dân tộc và những đặc điểm tích cực mới
của thế giới” [42, tr.69]. Với cách nhìn nhận này, tác giả luận án có thể tiếp
thu vào công tác giữ gìn và phát huy DSVH ở TTH, vì suy cho đến cùng,
DSVH là biểu hiện rõ nét bản sắc văn hóa dân tộc. Hay nói cách khác, giữ gìn
DSVH là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
- GS.TS Ngô Đức Thịnh trong bài “Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật
thể” [89] đã khẳng định: Văn hóa phi vật thể là một cách phân loại, chỉ ra các
dạng chính thức của văn hóa phi vật thể, các đặc trưng của văn hóa phi vật thể
và việc sưu tầm bảo tồn chúng. Qua đó, tác giả muốn gửi thông điệp rằng:
Văn hóa phi vật thể là văn hóa trải dài trong cả không gian và thời gian, chịu
ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong giai đoạn hiện nay với sự giao thoa, giao
lưu văn hóa giữa các vùng miền, các quốc gia thì văn hóa phi vật thể mang
tính mỏng manh, dễ bị thương tổn. Do đó, Nhà nước cần thông qua các cấp
12
chính quyền, các nhà khoa học, giữ vai trò định hướng trong nhiệm vụ bảo
tồn và phát huy văn hóa phi vật thể của dân tộc.
- Chu Thái Thành trong bài “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc” [86] khẳng định từ xưa đến nay, bản sắc văn hóa dân tộc đã làm nên sức
sống mãnh liệt, giúp cộng đồng người Việt Nam vượt qua biết bao thử thách
khắc nghiệt của lịch sử để không ngừng phát triển và lớn mạnh. Nhận thức
được tầm quan trọng đó, Đảng ta đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm động viên
tối đa nguồn lực nội sinh và ngoại sinh để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Tác giả Nguyễn Văn Huyên trong bài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc” [55] khẳng định quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực chất tự bản thân nó chính là một quá trình
biến mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội, đặc biệt là hoạt động sản
xuất tinh thần và đời sống văn hóa từng bước lên trình độ tiên tiến và hiện
đại. Trong đó, bản sắc văn hoá là cơ sở bảo đảm cho sự phát triển ổn định
và trường tồn của văn hoá đất nước. Theo phương châm đó, CNH, HĐH ở
Việt Nam phải lấy văn hóa truyền thống làm nền tảng và động lực, lấy việc
làm đậm đà bản sắc văn hóa làm mục tiêu.
- Tác giả Nguyễn Chí Bền trong bài viết “Bảo tồn DSVH phi vật thể ở
nước ta hiện nay” [7] xuất phát từ khái niệm DSVH phi vật thể đến chính
cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc; đồng thời phê phán, có
biện pháp xử lý đối với những tổ chức và cá nhân không nhận thức đúng, làm
tổn hại DSVH của cha ông, làm mờ nhạt bản sắc văn hóa dân tộc và hình ảnh
của đất nước nghìn năm văn hiến.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRỰC TIẾP ĐẾN VẤN ĐỀ GIỮ GÌN
VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở THỪA THIÊN HUẾ HIỆN NAY
TTH hiện đang lưu giữ trong lòng nhiều DSVH vật thể và phi vật thể
chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt
Nam nên cũng được khá nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm và tiếp cận bằng
nhiều cách khác nhau:
14
1.2.1. Từ góc độ sử học
- Trong cuốn “Quần thể di tích Huế di sản thế giới” [75], tác giả Thái
Công Nguyên chủ yếu giới thiệu pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử,
văn hóa và danh lam thắng cảnh của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Hệ thống các DSVH của TTH như sông hương, núi Ngự Bình, cầu Trường tiền,
Kinh thành, Hoàng thành, Đàn Nam giao, Điện hòn chén, chùa Linh mụ đồng
thời khẳng định giá trị của nó đối với sự phát triển của tỉnh TTH.
Với cuốn sách này tác giả luận án tiếp thu để có cái nhìn một cách có hệ
thống các giá trị DSVH ở Huế một cách chi tiết và khá đầy đủ.
- Tác giả Phan Thuận An trong cuốn“Kiến trúc cố đô Huế” [2] cho rằng,
Huế ngày nay còn bảo lưu được một khối lượng lớn những di sản vật chất và
tinh thần mang tính văn hóa nghệ thuật truyền thống của Việt Nam. Trong
gần 400 năm (1558- 1945), Huế là trung tâm chính trị và văn hóa của Đàng
trong, rồi trở thành Kinh đô của cả đất nước thống nhất. Huế đã được xác
nhận là một trung tâm văn hóa du lịch của Việt Nam, và quần thể di tích cố đô
Huế đã được công nhận là một DSVH Thế giới. Sau đó một thập niên, nhã
nhạc triều Nguyễn lại được tổ chức UNESSCO công nhận là kiệt tác di sản
phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Cuốn sách chủ yếu giới thiệu các công trình kiến trúc, thời gian và vật
giá trị di tích cố đô Huế.
- Kế thừa chọn lọc một số giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường việc
bảo vệ và phát huy quần thể di tích lịch sử- văn hóa Huế trước bối cảnh mới
của thời kỳ mới.
Cuốn “Huế Di sản và cuộc sống” [109] gồm 28 bài viết của các nhà
nghiên cứu văn hóa Huế chủ yếu khẳng định sau 10 năm kể từ khi quần thể di
tích cố đô Huế đã được công nhận là một DSVH Thế giới, sự nghiệp giữ gìn
và phát huy DSVH Huế đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được
nhiều thành tựu to lớn. Mới 5 năm được thế giới công nhận, quần thể di tích
cố đô Huế đã vượt qua được giai đoạn cứu nguy khẩn cấp để kịp bước vào thời
kỳ ổn định và phát triển. Trong 5 năm tiếp theo hàng chục dự án trùng tu di tích
lớn đã được thực hiện thành công; các chính sách và biện pháp cụ thể để bảo tồn
và phát huy các DSVH phi vật thể cũng được xúc tiến mạnh mẽ, đặc biệt là việc
16
xây dựng hồ sơ đề nghị UNESSCO công nhận nhã nhạc cung đình Huế là một
“Kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại”. Huế đã trở thành điểm
hẹn hấp dẫn của du khách bốn phương và lượng khách không ngừng gia tăng qua
các năm. Từ năm 2000, Huế đã được chính phủ chọn làm thành phố Festival đặc
trưng của Việt Nam.
Các bài viết trong cuốn sách liên quan trực tiếp đến đề tài luận án: DSVH
Huế cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển của tác giả Phạm
Gia Khiêm; DSVH Huế- 10 năm hội nhập và phát triển của tác giả Phùng Phu;
Di tích Huế trên chăn đường chuẩn hóa trùng tu của tác giả Trần Bá Việt; Giá trị
của Nhã nhạc cung đình Huế của tác giả Trần Văn Khê; DSVH Huế trong giao
lưu và hội nhập với văn hóa Thế giới của tác giả Phan thuận An. Từ việc xây
dựng các cơ sở khoa học trong hồ sơ trình UNESCO công nhận di sản thế giới
đến thực tiễn công tác bảo tồn di tích Huế của tác giả TS. Phan Tiến Dũng.
Với những bài viết mang tính khái quát, tác giả luận án có thể kế thừa
những khía cạnh sau:
- Thành tựu 10 năm của tỉnh TTH trong việc giữ gìn các giá trị DSVH kể
Huế, một cơ quan chủ quản trong việc tôn tạo và phát huy giá trị di sản. Với
những tư liệu này tác giả luận án vận dụng khi luận giải những vấn đề thành
tựu và hạn chế của thực trạng giữ gìn và phát huy giá trị DSVH ở TTH.
Kỷ yếu hội thảo khoa học: “ Tiềm năng và hướng phát triển du lịch Bắc trung
bộ” [135] của UBND tỉnh TTH, Thể thao và du lịch- Hội Khoa học lịch sử TTH là
tập hợp của 26 bài viết bàn về tiềm năng và định hướng phát triển du lịch Bắc
trung bộ. Trong đó có những bài viết như: phát huy lợi thế văn hóa- xây dựng
TTH trở thành điểm đến ngang tầm thế giới của TS. Phan Tiến Dũng; Tiếp
tục khai thác tiềm năng, thiết kế thêm nhiều tuyến tham quan cho du lịch TTH
của Nguyễn Đắc Xuân; DSVH lợi thế đặc biệt của du lịch TTH của TS. Phan
Thanh Hải…đã gợi mở cho tác giả luận án khi giải quyết vấn đề phát huy
DSVH ở TTH hiện nay.
Cuốn “Công cuộc bảo tồn di sản thế giới ở TTH” [116] là tập hợp của
nhiều bài viết đánh giá những thành tựu cũng như hạn chế qua một chặng
đường bảo tồn di sản ở Huế. Khẳng định những nỗ lực của các cấp chính
18
quyền địa phương, nhân dân TTH đã là cho DSVH ở TTH từng bước hồi sinh
diện mạo vốn có trong lịch sử và đang vươn mình với sức sống ngày càng
mãnh liệt. Cuộc vận động bảo vệ di tích Huế đã được Unesco đánh giá là một
trong hai cuộc vận động toàn cầu mang lại hiệu quả thiết thực nhất. Các bài
viết trong cuốn sách đã cho tác giả luận án một cái nhìn khái quát, hệ thống
quá trình giữ gìn và phát huy DSVH ở Huế giai đoạn 1993- 2013.
Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí liên quan đến đề tài luận
án như:
- Bài viết của tác giả Phan Tiến Dũng “Bảo tồn DSVH phi vật thể - một
yếu tố cơ bản làm cho giá trị quần thể di tích Huế luôn được tỏa sáng” [25]
đã khẳng định bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể là một công việc khó
khăn, phức tạp, đòi hỏi thời gian dài và sự quyết tâm của chính quyền, nhân
dân tỉnh TTH. Công tác bảo tồn sẽ đưa lại hiệu quả to lớn cho văn hóa - con
người xứ Huế: Bồi đắp cho Huế có được một diện mạo và tâm hồn sâu sắc, một
chính mình, hiểu tận ngon nguồn những rào cản và trở lực một cách khoa học
để tiến về phía trước.
- TS Phan Thanh Hải trong bài viết“30 năm bảo tồn và phát huy DSVH
Huế” [46] cho rằng, DSVH Huế là một phức hệ bao gồm cả quần thể di tích
cố đô đồ sộ với thành quách, cung điện, lăng tẩm, đàn miếu, đài tạ, chùa quán,
cầu cống, phủ đệ; hệ thống kiến trúc cộng đồng, tôn giáo và kiến trúc dân
gian; các giá trị văn hóa phi vật thể phong phú; các giá trị cảnh quan môi
trường độc đáo. Tuy nhiên, sau khi triều Nguyễn chấm dứt, hai cuộc chiến
tranh kéo dài suốt 30 năm (1945-1975) đã tàn phá nghiêm trọng các DSVH .
Bên cạnh đó, việc quản lý lỏng lẻo cùng việc tu sửa các di tích một cách tùy
tiện trước đây đã gây ảnh hưởng bất lợi cho các di sản. Trong 30 năm qua,
Dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh TTH và Bộ Văn hóa Thông tin,
công cuộc bảo tồn di tích Cố đô Huế đã được triển khai và đạt kết quả rất
quan trọng: DSVH Huế đã vượt qua giai đoạn cứu nguy khẩn cấp và đang
từng bước hồi sinh diện mạo ban đầu của một Cố đô lịch sử. Công cuộc bảo
tồn di tích Huế chuyển sang giai đoạn ổn định và phát triển bền vững. Bài viết
đã cho tác giả cái nhìn tổng quát về những thành tựu đạt được của việc giữ gìn
và phát huy DSVH của TTH trong giai đoạn hiện nay.
20
Như vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giữ gìn và phát
huy DSVH với những kết quả đáng trân trọng. Những kết quả đó có giá trị
tham khảo, nên tác giả đã kế thừa và phát triển để hoàn thành luận án với đề
tài: “Vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH ở Thừa Thiên Huế hiện nay”.
Những kết luận và vấn đề đặt ra cho nghiên cứu tiếp theo của luận án
Thứ nhất, trong thời gian qua, DSVH, vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH
là một trong những chủ đề thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
và đạt được những kết quả đáng trân trọng. Những kết quả đó có giá trị tham
khảo cho tác giả luận án.
Thứ hai, tổng hợp các nghiên cứu về vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH
như đã trình bày ở trên cho thấy, từ mục tiêu, nhiệm vụ khác nhau, phạm vi