HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN TH HNG MINH
vấn đề giữ gìn và phát huy di sản văn hóa
ở thừa thiên huế hiện nay
Chuyờn ngnh : CNDVBC & CNDVLS
Mó s : 62 22 80 05
LUN N TIN S TRIT HC
Ngi hng dn khoa hc: GS.TS NGUYN HNG HU
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập.
Các kết quả số liệu nêu trong luận án là trung thực, có
nguồn gốc rõ ràng, chính xác của các cơ quan chức năng đã
công bố. Những kết luận khoa học của luận án là mới và chưa
có tác giả công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.
Tác giả luận án
Trần Thị Hồng Minh
MỤC LỤC
Trang
MMỞ ĐẦU
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI VẤN ĐỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY DI SẢN
VĂN HÓA Ở THỪA THIÊN HUẾ HIỆN NAY
5
1.1. Các công trình nghiên cứu tổng quát về văn hóa, di sản văn hóa
và vấn đề giữ gìn, phát huy di sản văn hóa dân tộc 5
1.2. Các công trình nghiên cứu trực tiếp đến việc giữ gìn và phát huy
di sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay 13
Chương 2: GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
152
PHỤ LỤC
162
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DSVH : Di sản văn hóa
KTTT : Kinh tế thị trường
UBND : Ủy ban nhân dân
TTBTDTCĐ : Trung tâm bảo tồn di tích cố đô
TTH : Thừa Thiên Huế
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Trang
Bảng 3.1: Tổng số khách du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển
hơn trong những năm gần đây 101
Bảng 3.2: Doanh thu của tỉnh Thừa Thiên Huế từ 2006-2012 101
Bảng 3.3: Lượt khách và doanh thu của nhà hát Duyệt Thị Đường và
Minh Khiêm Đường từ 2003 đến 2009 104
Biểu đồ 3.1: Doanh thu vé tham quan từ năm 1996- 2011 102
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, bất kỳ dân tộc nào cũng có quá
trình lịch sử phát triển riêng của mình, đồng thời sản sinh ra giá trị văn hóa
dân tộc và chính giá trị văn hóa đó đã làm nên diện mạo, cốt cách riêng của
mỗi dân tộc để tạo nên sự phong phú đa dạng của nền văn hóa chung của
nhân loại. Thực tế ngày càng khẳng định vai trò to lớn của DSVH dân tộc đối
với quá trình phát triển của xã hội. Một quốc gia không thể phát triển bền
vững nếu thiếu một nền tảng văn hóa nội sinh, nếu các giá trị DSVH bị mai
một hoặc không được giữ gìn, phát huy đúng đắn, có hiệu quả.
Hiện nay, công tác giữ gìn và phát huy DSVH ở nước ta đã thu được
ngành nghề truyền thống cũng được nghiên cứu, phục dựng và phát huy giá
trị. Nhìn chung, DSVH ở TTH đã vượt qua giai đoạn khó khăn và đang
chuyển dần vào giai đoạn ổn định phát triển theo hướng bền vững. Những
giá trị DSVH vật thể và phi vật thể tưởng chừng bị mai một đã dần dần
sống lại trong sinh hoạt cộng đồng, trong nếp nghĩ và việc làm người dân
cố đô Huế, góp phần mở rộng giao lưu và hội nhập trong đời sống văn hóa
của dân tộc Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, do hậu quả nặng nề của chiến tranh và do thiên tai tàn phá,
nhiều di tích văn hóa ở TTH vẫn thường xuyên bị đe dọa. Những nỗ lực trong
công tác trùng tu, bảo vệ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của một quần thể di
tích có quy mô lớn, đa dạng, phức tạp và chưa tương xứng với tiềm năng văn
hóa vốn có của tỉnh TTT. Không gian hoang phế ở các khu di tích còn lớn,
một số công trình văn hóa nghệ thuật tiêu biểu cho bộ mặt hoàng cung Huế
vẫn chưa khôi phục, môi trường văn hóa và cảnh quan thiên nhiên, hệ thống
nhà vườn vẫn còn bị xâm phạm; kho tàng văn hóa phi vật thể: ca múa nhạc
cung đình, các lễ hội dân gian, các ngành nghề truyền thống vẫn chưa được
khai thác triệt để và đầu tư hiệu quả. Vai trò chủ thể của nhân dân TTH trong
việc giữ gìn và phát huy DSVH cũng chưa được khẳng định.
2
Vậy làm thế nào để khắc phục tình trạng nói trên, để các giá trị DSVH
của TTH tiếp tục được phát huy có hiệu quả, góp phần xây dựng TTH trở
thành một tỉnh vững về chính trị, giàu về kinh tế, đẹp về văn hóa, tôi quyết
định chọn đề tài: “Vấn đề giữ gìn và phát huy di sản văn hóa ở Thừa Thiên
Huế hiện nay" để làm luận án tiến sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực
tiễn của vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH; phân tích, đánh giá thực trạng giữ
gìn và phát huy DSVH ở TTH hiện nay; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của việc giữ gìn và phát huy các DSVH tại địa phương này
của Nhà nước Việt Nam về văn hóa, DSVH, giữ gìn và phát huy DSVH. Cơ
sở thực tiễn của luận án là phân tích kinh nghiệm của một số nước và đánh
giá thực trạng giữ gìn và phát huy DSVH ở tỉnh TTH.
- Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụng các phương pháp cụ thể: Phương pháp
phân tích- tổng hợp, phương pháp thu thập và xử lý thông tin. Đồng thời có sự
kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
5. Những đóng góp về khoa học của luận án
- Làm rõ thực trạng giữ gìn và phát huy DSVH ở tỉnh TTH với những nét
đặc thù riêng có của một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung bao gồm:
những kết qủa đạt được, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của vấn đề giữ
gìn và phát huy DSVH ở tỉnh TTH trong thời gian tới.
6. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài luận
án gồm 4 chương, 10 tiết.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
VẤN ĐỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA
Ở THỪA THIÊN HUẾ HIỆN NAY
Trong thời gian gần đây, vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH được nhiều
nhà khoa học quan tâm và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học có
giá trị, đã công bố rộng rãi dưới dạng sách tham khảo, bài báo cáo khoa học…
Để đảm bảo tính kế thừa và khẳng định những đóng góp của luận án, luận án
chia các công trình nghiên cứu khoa học theo 2 nhóm vấn đề: nhóm công
trình nghiên cứu tổng quát về văn hóa, DSVH và vấn đề giữ gìn phát huy
DSVH dân tộc; nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề giữ gìn và
phát huy DSVH ở TTH. Trên cơ sở sự phân định đó, luận án tiến hành chọn
lọc có thực hiện tổng quan những công trình nghiên cứu khoa học liên quan
tại khái niệm DSVH theo nghĩa đích thực của nó.
- Chính sách về bảo tồn và phát triển DSVH dân tộc của nước ta trong
thời gian qua thông qua các kỳ đại hội của Đảng.
- Một số bài học kinh nghiệm từ việc bảo tồn và phát huy DSVH tại
Nhật Bản: Luôn coi bảo tồn và khai thác tài sản văn hóa là một vấn đề quan
trọng được quy định trong các văn bản pháp luật, chính sách. Thể hiện việc
bảo tồn các DSVH được nhấn mạnh trong nhận thức của mỗi người dân và
thể hiện chức năng, vai trò của di sản trong qúa trình phát triển của đất nước
Nhật Bản theo hướng bền vững. Từ những nhận thức trên, Nhật Bản đã thực
hiện hóa DSVH trong đời sống thực tiễn bằng một loạt biện pháp cụ thể như:
Tổ chức bộ máy hành chính và ngân sách hoạt động, khai thác các giá trị văn
hóa trên cơ sở đưa chúng thâm nhập vào đời sống hiện đại của cộng đồng…
Tuy nhiên, cuốn sách này chỉ nghiên cứu giá trị DSVH nói chung mà chưa
đi sâu nghiên cứu về vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH ở một số thành phố có
nhiều tài sản văn hóa đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển như TTH. Những
gợi ý đối với việc giữ gìn và phát huy DSVH dân tộc ở Việt Nam nêu trên mới ở
tầm vĩ mô và ở phương diện lý luận chung, chưa đưa ra một cách cụ thể gắn với
một loại hình DSVH nào, nhất là đối với TTH, một thành phố đang lưu giữ rất
6
nhiều tài sản văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, tác giả luận án xem đây là một công
trình khoa học có thể kế thừa để làm những căn cứ tìm ra các giải pháp thích hợp
nhằm giữ gìn và phát huy DSVH ở TTH.
- Cuốn sách “Văn hóa mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội”, ”
[54] đã nghiên cứu bản chất của văn hóa nhằm chứng minh văn hóa vừa là
mục tiêu phấn đấu vươn lên của xã hội loài người vừa là động lực mạnh mẽ
có ý nghĩa quyết định trong việc thúc đẩy quá trình phát triển xã hội theo
hướng nhân văn; từ đó vận dụng nguyên tắc về mối quan hệ thống nhất giữa
mục tiêu và động lực của văn hóa (văn hóa- phát triển- tiến bộ) vào quá trình
xây dựng và phát triển xã hội Việt Nam hiện nay.
Nội dung của cuốn sách liên quan đến đề tài chủ yếu nằm ở chương I,
trị văn hóa mới, là tiền đề để mở rộng giao lưu văn hóa với các dân tộc khác
trên thế giới. DSVH không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của nhân
dân, góp phần khẳng định niềm tự hào dân tộc mà còn là nguồn lực để phát
triển kinh tế - xã hội” [37, tr.177].
- Cuốn “Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội”
[8] đã làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn kinh nghiệm bảo tồn, phát huy giá trị của
DSVH vật thể Thăng Long - Hà Nội, tiếp thu những quan điểm mới về quản
lý di sản một số nước trên thế giới để vận dụng vào công tác bảo tồn, phát huy
các giá trị di sản vật thể Thăng Long - Hà Nội; xuất phát từ thực trạng DSVH
vật thể Thăng Long - Hà Nội làm rõ giá trị của nó trong thời kỳ công nghiệp
hóa- hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở chỉ ra những nguy
cơ, thách thức của công cuộc bảo tồn DSVH, cuốn sách đã đề xuất các giải
pháp nhằm phát huy hiệu quả của công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di
sản vật thể Thăng Long - Hà Nội. Sách gồm 5 chương và những nội dung của
cuốn sách liên quan trực tiếp đến đề tài luận án tập trung chủ yếu ở chương 2
và chương 5. Từ kết quả nghiên cứu của cuốn sách, tác giả có thể chọn lọc, kế
thừa và phát triển trong quá trình viết luận án là:
- Các văn bản của Đảng ta về công tác bảo tồn và phát huy các giá trị
DSVH, đặc biệt một mốc đánh dấu quan trọng về định hướng của Đảng đó là
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa
8
VIII) viết: “DSVH là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của
bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa”.
- Thông qua các nhóm giải pháp về: Nâng cao năng lực quản lý DSVH;
cơ chế chính sách kinh tế - tài chính; luật pháp; huy động sự tham gia của
cộng đồng; nâng cao nhận thức của người dân, cán bộ trong và ngoài ngành
văn hóa, thể thao và du lịch về giá trị của di sản và việc bảo tồn và phát huy
giá trị của di sản; xây dựng lưu trữ tài liệu, thông tin; hợp tác quốc tế… tác
giả luận án có thể áp dụng vào chính thực tiễn của công tác bảo tồn và phát
huy các giá trị DSVH ở TTH hiện nay.
- Trong cuốn “Giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam trong bối cảnh toàn
cầu hóa hiện nay” [42] đã khằng định, vấn đề bản sắc dân tộc và việc giữ gìn
bản sắc dân tộc là mối quan tâm của nhiều quốc gia trong bối cảnh toàn cầu
hóa. Vì một trong những thách thức mà toàn cầu hóa đặt ra đối với sự phát
triển của các nước là sự nhạt nhòa, mai một bản sắc dân tộc. Đòi hỏi mỗi quốc
gia phải có những phương thức xử lý để không những đưa đất nước phát triển
đi lên, hội nhập cùng thế giới và phát huy được sức mạnh vốn có của mình,
đưa bản sắc dân tộc thành động lực nội sinh thúc đẩy dân tộc phát triển.
Trong cuốn sách, tác giả khẳng định: “Dân tộc Việt Nam phải giữ gìn…
bản sắc dân tộc một cách sáng tạo, linh hoạt; phải kết tinh lại và nâng lên tầm
cao mới mọi đặc điểm tích cực của dân tộc và những đặc điểm tích cực mới
của thế giới” [42, tr.69]. Với cách nhìn nhận này, tác giả luận án có thể tiếp
thu vào công tác giữ gìn và phát huy DSVH ở TTH, vì suy cho đến cùng,
DSVH là biểu hiện rõ nét bản sắc văn hóa dân tộc. Hay nói cách khác, giữ gìn
DSVH là giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
- Cuốn“Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn hóa
Việt Nam” [61] là kết quả nghiên cứu của hai tác giả tổng hợp qua các bài viết
được đăng tải trên các tạp chí về lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển văn
hóa Việt Nam trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế dưới sự chỉ đạo của
Đảng: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần
nhân văn, dân chủ tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm nhuần
10
vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh
nội sinh quan trọng của phát triển”.
Những nội dung của cuốn sách này liên quan trực tiếp trực tiếp đến đề
tài luận án tập trung chủ yếu ở phần 2, gồm:
- Kinh nghiệm của Trung Quốc về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong
xu thế toàn cầu hóa, xem “phát triển văn hóa dân tộc phải gắn với trình độ
khoa học kỹ thuật” [61, tr.77], “Phải có những phương thức thích hợp trong
được tầm quan trọng đó, Đảng ta đã ra nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm động viên
tối đa nguồn lực nội sinh và ngoại sinh để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Tác giả Nguyễn Văn Huyên trong bài “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc” [55] khẳng định quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực chất tự bản thân nó chính là một quá trình
biến mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội, đặc biệt là hoạt động sản
xuất tinh thần và đời sống văn hóa từng bước lên trình độ tiên tiến và hiện
đại. Trong đó, bản sắc văn hoá là cơ sở bảo đảm cho sự phát triển ổn định
và trường tồn của văn hoá đất nước. Theo phương châm đó, CNH, HĐH ở
Việt Nam phải lấy văn hóa truyền thống làm nền tảng và động lực, lấy việc
làm đậm đà bản sắc văn hóa làm mục tiêu.
- Tác giả Nguyễn Chí Bền trong bài viết “Bảo tồn DSVH phi vật thể ở
nước ta hiện nay” [7] xuất phát từ khái niệm DSVH phi vật thể đến chính
sách đối với nó và các vấn đề đang đặt ra, tác giả đã khẳng định: Trong công
cuộc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc, việc sưu tầm, nghiên cứu và bảo tồn, phát huy DSVH phi vật thể các
dân tộc đang được đặt ra rất nhiều vấn đề đòi hỏi phải giải quyết cả ở tầm vĩ
mô lẫn vi mô, cả ở phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
- Tác giả Ngô Phương Thảo trong bài “Bảo vệ di sản, cuộc chiến từ
những góc nhìn” [87] đã đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo vệ DSVH hiện nay.
Theo tác giả thì “Mỗi ngày, DSVH càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất phát
từ những hệ lụy của cuộc sống hiện đại. Cũng mỗi ngày, ý thức về trách
12
nhiệm phải gìn giữ các giá trị văn hoá đã tồn tại với thời gian càng lan toả sâu
rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng đồng để dẫn tới những chương trình
dự án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn giữ các giá trị văn hoá vật thể
và phi vật thể”.
- Giáo sư Hoàng Chương trong bài báo “Thực trạng vấn đề bảo tồn và
Hệ thống các DSVH của TTH như sông hương, núi Ngự Bình, cầu Trường tiền,
Kinh thành, Hoàng thành, Đàn Nam giao, Điện hòn chén, chùa Linh mụ đồng
thời khẳng định giá trị của nó đối với sự phát triển của tỉnh TTH.
Với cuốn sách này tác giả luận án tiếp thu để có cái nhìn một cách có hệ
thống các giá trị DSVH ở Huế một cách chi tiết và khá đầy đủ.
- Tác giả Phan Thuận An trong cuốn“Kiến trúc cố đô Huế” [2] cho rằng,
Huế ngày nay còn bảo lưu được một khối lượng lớn những di sản vật chất và
tinh thần mang tính văn hóa nghệ thuật truyền thống của Việt Nam. Trong
gần 400 năm (1558- 1945), Huế là trung tâm chính trị và văn hóa của Đàng
trong, rồi trở thành Kinh đô của cả đất nước thống nhất. Huế đã được xác
nhận là một trung tâm văn hóa du lịch của Việt Nam, và quần thể di tích cố đô
Huế đã được công nhận là một DSVH Thế giới. Sau đó một thập niên, nhã
nhạc triều Nguyễn lại được tổ chức UNESSCO công nhận là kiệt tác di sản
phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại.
Cuốn sách chủ yếu giới thiệu các công trình kiến trúc, thời gian và vật
liệu xây dựng các DSVH: Quách thành cung điện, kinh thành, Đại nội, Ngọ
môn, điện Thái Hòa, điện Long An, Lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng
Thiệu Trị, lăng Tự Đức, lăng Dục Đức, lăng Đồng Khánh, lăng Khải Định,
Văn Miếu Huế, đàn Nam Giao, Hổ Quyền, điện Hòn Chén, chùa Thiên Mụ.
Nhìn chung, cuốn sách này đã bổ sung cho tác giả luận án một cách nhìn
phong phú hơn: có thể tiếp cận một cách cụ thể, hiểu thêm kiến trúc các
DSVH ở TTH để từ đó có cơ sở đưa ra một số kiến nghị nhằm bảo vệ, giữ gìn
và phát huy có hiệu quả các DSVH đó.
1.2.2. Từ góc độ văn hóa học, quản lý văn hóa
Tập san kỷ niệm 5 năm thực hiện dự án quy hoạch bảo tồn và phát huy
giá trị di tích cố đô Huế: “Thời gian đã chứng minh” [108] gồm 42 bài viết
bàn về những thành tựu mà Huế đạt được sau 5 năm thực hiện dự án quy
14
hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố đô Huế. Trong đó các bài liên
quan đến trực tiếp đến luận án: Chặng đường ngắn trên con đường dài (Thái
“Kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại”. Huế đã trở thành
điểm hẹn hấp dẫn của du khách bốn phương và lượng khách không ngừng gia
tăng qua các năm. Từ năm 2000, Huế đã được chính phủ chọn làm thành phố
Festival đặc trưng của Việt Nam.
Các bài viết trong cuốn sách liên quan trực tiếp đến đề tài luận án: DSVH
Huế cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển của tác giả Phạm
Gia Khiêm; DSVH Huế- 10 năm hội nhập và phát triển của tác giả Phùng Phu;
Di tích Huế trên chăn đường chuẩn hóa trùng tu của tác giả Trần Bá Việt; Giá trị
của Nhã nhạc cung đình Huế của tác giả Trần Văn Khê; DSVH Huế trong giao
lưu và hội nhập với văn hóa Thế giới của tác giả Phan thuận An. Từ việc xây
dựng các cơ sở khoa học trong hồ sơ trình UNESCO công nhận di sản thế giới
đến thực tiễn công tác bảo tồn di tích Huế của tác giả TS. Phan Tiến Dũng.
Với những bài viết mang tính khái quát, tác giả luận án có thể kế thừa
những khía cạnh sau:
- Thành tựu 10 năm của tỉnh TTH trong việc giữ gìn các giá trị DSVH kể
từ khi UNESSO công nhận DSVH thế giới (1993- 2003) đã tạo điều kiện thuận
lợi cho việc phát huy các giá trị DSVH, làm động lực để phát triển du lịch địa
phương, đóng góp ngân sách cho sự phát triển của tỉnh nhà.
- Đánh giá quần thể di tích cố đô Huế trong công tác nghiên cứu, trùng tu
các di tích tiêu biểu của DSVH Huế: Lăng Khải Định, Điện Khải Hoàn, Lầu
Ngũ Phụng, cung An Định v.v…
- Có cái nhìn sâu hơn về giá trị lịch sử và giá trị nghệ thuật của Nhã nhạc
cung đình Huế, một kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu được tổ chức
UNESSCO công nhận năm 2003.
- Những chuyển biến tích cực của khu di tích Huế trong quá trình thực
hiện Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích Cố đô Huế giai đoạn
1996- 2010.
Kỷ yếu hội thảo: “DSVH Huế nghiên cứu và bảo tồn” [111] của Trung tâm
Bảo tồn di tích cố đô Huế gồm những bài viết về công tác bảo tồn, phát huy các
16
17
quyền địa phương, nhân dân TTH đã là cho DSVH ở TTH từng bước hồi sinh
diện mạo vốn có trong lịch sử và đang vươn mình với sức sống ngày càng
mãnh liệt. Cuộc vận động bảo vệ di tích Huế đã được Unesco đánh giá là một
trong hai cuộc vận động toàn cầu mang lại hiệu quả thiết thực nhất. Các bài
viết trong cuốn sách đã cho tác giả luận án một cái nhìn khái quát, hệ thống
quá trình giữ gìn và phát huy DSVH ở Huế giai đoạn 1993- 2013.
Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí liên quan đến đề tài luận
án như:
- Bài viết của tác giả Phan Tiến Dũng “Bảo tồn DSVH phi vật thể - một
yếu tố cơ bản làm cho giá trị quần thể di tích Huế luôn được tỏa sáng” [25]
đã khẳng định bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể là một công việc khó
khăn, phức tạp, đòi hỏi thời gian dài và sự quyết tâm của chính quyền, nhân
dân tỉnh TTH. Công tác bảo tồn sẽ đưa lại hiệu quả to lớn cho văn hóa - con
người xứ Huế: Bồi đắp cho Huế có được một diện mạo và tâm hồn sâu sắc, một
vùng đất luôn hấp dẫn mọi người đến tìm tòi, khám phá. Từ những thành quả
bước đầu của việc bảo tồn phi vật thể ở Huế, tác giả đã bàn đến một số định
hướng bảo tồn cho các giai đoạn tiếp theo.
- Tác giả Huỳnh Đình Két trong bài “Di tích cảnh quan Huế- một số
vấn đề về công tác bảo tồn” [62] khẳng định để làm tốt công tác bảo tồn di
tích cảnh quan Huế cần phải xem xét các mối quan hệ chi phối di tích cảnh
quan, từ đó đưa ra một số kiến nghị như phải xây dựng một cơ chế bảo vệ di
tích, cấp giấy chứng nhận di tích, cần có chế độ riêng đối với di tích đã được
xếp loại, xây dựng dư luận xã hội theo hướng bảo tồn di tích cảnh quan Huế
là đảm bảo lợi ích văn hoá của cộng đồng
- TS Lê Đình Phúc trong bài “Nhã nhạc cung đình Huế với việc phát
triển du lịch” [78] cho rằng, nhờ giá trị nổi bật của mình, Nhã nhạc có phạm
vi lan tỏa và ảnh hưởng rộng đến các loại hình âm nhạc khác ở Việt Nam.
Nhã nhạc được xem là tài sản chung của bốn nước trong khu vực: Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam. Sự tương đồng về nghệ thuật của Nhã
tồn di tích Huế chuyển sang giai đoạn ổn định và phát triển bền vững. Bài viết
đã cho tác giả cái nhìn tổng quát về những thành tựu đạt được của việc giữ
gìn và phát huy DSVH của TTH trong giai đoạn hiện nay.
19
Như vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giữ gìn và phát
huy DSVH với những kết quả đáng trân trọng. Những kết quả đó có giá trị
tham khảo, nên tác giả đã kế thừa và phát triển để hoàn thành luận án với đề
tài: “Vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH ở Thừa Thiên Huế hiện nay”.
Những kết luận và vấn đề đặt ra cho nghiên cứu tiếp theo của luận án
Thứ nhất, trong thời gian qua, DSVH, vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH
là một trong những chủ đề thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
và đạt được những kết quả đáng trân trọng. Những kết quả đó có giá trị tham
khảo cho tác giả luận án.
Thứ hai, tổng hợp các nghiên cứu về vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH
như đã trình bày ở trên cho thấy, từ mục tiêu, nhiệm vụ khác nhau, phạm vi
nghiên cứu khác nhau, cách tiếp cận khác nhau,…phần lớn các công trình chủ
yếu nghiên cứu về giữ gìn và phát huy DSVH thuần túy mà chưa đề cập nhiều
đến mối quan hệ giữa giữ gìn, phát huy DSVH với tác động của KTTT, giữa
giữ gìn với phát triển. Các công trình nghiên cứu một cách chuyên biệt, hệ
thống và quy mô về thực trạng giữ gìn và phát huy các DSVH ở TTH trong
giai đoạn hiện nay còn rất ít. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu kết quả
nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước, việc bổ sung vào khoảng trống các
vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngõ để hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận và
thực tiễn của vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH được luận án xác định là
hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu trước đây đã đề cập đến nhiều vấn đề
liên quan đến DSVH, việc giữ gìn và phát huy DSVH. Tuy nhiên, luận án cho
rằng, còn một số vấn đề sau đây cần tiếp tục để nghiên cứu:
- Luận án cần thiết làm sáng tỏ các quan niệm khác nhau về văn hóa;
DSVH; giữ gìn và phát huy DSVH; vị trí và vai trò của nó trong đời sống xã