HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN TH HNG MINH
vấn đề giữ gìn và phát huy di sản văn hóa
ở thừa thiên huế hiện nay
Chuyờn ngnh : CNDVBC & CNDVLS
Mó s : 62 22 80 05
tóm tắt Luận án tiến sĩ triết học
Hà Nội - 2014
Công trình đợc hoàn thành
tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Ngời hớng dẫn khoa học: gs.TS NGUYễN HùNG HậU
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2014
Có thể tìm hiểu luận án tại: Th viện Quốc gia
và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
TTH là trung tâm văn hóa - du lịch quốc gia và quốc tế hấp dẫn, đã
được Tổ chức UNESCO công nhận hai DSVH của nhân loại. Nơi đây hiện
đang lưu giữ trong lòng nhiều DSVH vật thể và phi vật thể chứa đựng giá
trị biểu trưng cho trí tuệ và tâm hồn của dân tộc Việt Nam. Trong nhiều
năm qua, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, cùng sự giúp đỡ của
cộng đồng quốc tế, đặc biệt là sự tham gia đầy nhiệt huyết của các cấp
chính quyền địa phương, cán bộ, Đảng viên và nhân dân TTH, công tác
trùng tu, giữ gìn và phát huy các DSVH ở TTH đã có những chuyển biến
lớn lao và đạt nhiều thành tựu to lớn, vượt qua giai đoạn khó khăn và đang
cơ sở và một số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ
gìn và phát huy DSVH tại địa phương trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu hoạt động giữ gìn và phát huy DSVH ở tỉnh TTH
dưới góc độ triết học. Chủ yếu nghiên cứu thực trạng giữ gìn và phát huy
DSVH ở TTH trên những nét tiêu biểu gắn liền với quần thể di tích Cố đô
Huế do TTBTDTCĐ Huế quản lý.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Qua quá trình điền dã thực tế, kế thừa từ các kết quả
nghiên cứu của các công trình đi trước, tác giả luận án lựa chọn và tập
trung khảo sát chủ yếu các DSVH ở TTH gắn liền với quần thể di tích cố
đô Huế.
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng giữ gìn và phát huy các giá trị
DSVH ở TTH với trọng tâm số liệu được giới hạn trong khoảng thời gian
từ 1996 đến năm 2013, các giải pháp đưa ra cho thời kỳ đến năm 2020.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng, chính
sách của Nhà nước Việt Nam về văn hóa, DSVH, giữ gìn và phát huy
DSVH. Cơ sở thực tiễn của luận án là phân tích kinh nghiệm của một số
nước và đánh giá thực trạng giữ gìn và phát huy DSVH ở tỉnh TTH.
3
- Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụng các phương pháp cụ thể: Phương pháp
phân tích- tổng hợp, phương pháp thu thập và xử lý thông tin. Đồng thời
có sự kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
5. Những đóng góp về khoa học của luận án
- Làm rõ thực trạng giữ gìn và phát huy DSVH ở tỉnh TTH với những
nét đặc thù riêng có của một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung
GÌN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở THỪA THIÊN HUẾ HIỆN NAY
1.2.1. Từ góc độ sử học gồm
Các công trình nghiên cứu đã bổ sung cho tác giả luận án một cách
phong phú hơn để có thể tiếp cận một cách cụ thể, hiểu thêm kiến trúc, các
loại hình DSVH ở TTH để từ đó có cơ sở đưa ra một số kiến nghị nhằm
bảo vệ, giữ gìn và phát huy có hiệu quả các công trình DSVH đó.
1.2.2. Từ góc độ văn hóa học, quản lý văn hóa
Các bài viết đã cho tác giả cái nhìn tổng quát về những thành tựu đạt
được của việc giữ gìn và phát huy DSVH của TTH trong giai đoạn hiện nay.
Như vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giữ gìn và phát
huy DSVH với những kết quả đáng trân trọng. Những kết quả đó có giá trị
tham khảo, nên tác giả đã kế thừa và phát triển để hoàn thành luận án với đề
tài: “Vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH ở Thừa Thiên Huế hiện nay”.
Những kết luận và vấn đề đặt ra cho nghiên cứu tiếp theo của luận án
Thứ nhất, trong thời gian qua, DSVH, giữ gìn và phát huy DSVH là
một trong những chủ đề thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
và đạt được những kết quả đáng trân trọng. Những kết quả đó có giá trị
tham khảo cho tác giả luận án.
Thứ hai, trên cơ sở kế thừa và tiếp thu kết quả nghiên cứu của các nhà
khoa học đi trước, việc bổ sung vào khoảng trống các vấn đề nghiên cứu
còn bỏ ngõ để hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc
giữ gìn và phát huy DSVH được luận án xác định là hướng phát triển
nghiên cứu tiếp theo.
5
Thứ ba, luận án cho rằng, còn một số vấn đề sau đây cần tiếp tục để
nghiên cứu:
- Luận án cần thiết làm sáng tỏ các quan niệm khác nhau về văn hóa;
DSVH; giữ gìn và phát huy DSVH; vị trí và vai trò của nó trong đời sống
xã hội hiện nay.
- Luận án đánh giá nhân tố quan trọng tác động trực tiếp đến vấn đề
và văn hóa phi vật thể trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận
biết, qua đó tiến hành giữ gìn và phát huy nhằm đáp ứng những nhu cầu
và đòi hỏi của cuộc sống hiện tại.
DSVH được chứa đựng các yếu tố sau: thứ nhất, trong DSVH chứa
đựng vốn kinh nghiệm và tri thức sống của con người. Thứ hai, là hội tụ
những yếu tố, phẩm chất: đúng, tốt đẹp, có ích. Thứ ba, phải biểu hiện
thành những hiện tượng văn hóa. Thứ tư, tính lịch sử sẽ làm cho vốn
DSVH có bề dày về thời gian, có sự phong phú về loại hình.
2.1.2. Các quan điểm của UNESCO, Đảng và Nhà nước Việt Nam
về giữ gìn, phát huy di sản văn hóa
- Quan điểm của UNESCO về giữ gìn và phát huy DSVH
Nguyên Tổng Giám đốc UNESCO, F.Mayor cũng nhấn mạnh: Kinh
nghiệm của hai thập kỷ qua cho thấy rằng trong mọi xã hội ngày nay, bất
luận ở trình độ phát triển kinh tế nào hoặc theo xu hướng chính trị nào, văn
hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau ( ). Hễ nước nào tự đặt ra
cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì
nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn
văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều. Một sự
phát triển chân chính đòi hỏi phải sử dụng một cách tối ưu nhân lực và vật
lực của mỗi cộng đồng. Vì vậy phân tích đến cùng, các trọng tâm, các
động lực và các mục đích của phát triển phải được tìm trong văn hóa ( ).
Từ nay trở đi văn hóa cần coi mình là một nguồn bổ sung trực tiếp cho
phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vị trí
trung tâm, một vai trò điều tiết xã hội
Ở phương diện pháp lý, UNESCO đã có nhiều công ước về bảo vệ
DSVH nhằm kêu gọi các quốc gia hành động để giữ gìn và phát huy
các DSVH.
7
- Quan điểm của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam về giữ gìn và
phát huy DSVH.
DSVH đối với đời sống xã hội được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
8
Thứ nhất, DSVH là một bộ phận quan trọng tạo nên môi trường văn
hóa của các cộng đồng dân tộc.
Thứ hai, DSVH là yếu tố cơ bản tạo nên bản sắc dân tộc, cơ sở lựa
chọn và sáng tạo những giá trị văn hóa mới, tạo điều kiện cho sự phát
triển của văn hóa dân tộc trong giai đoạn tiếp theo.
Thứ ba, DSVH là một bộ phận hợp thành nền tảng tinh thần xã hội,
tạo nên động lực tinh thần của xã hội.
Thứ tư, DSVH là tài sản vô giá, là nguồn lực phát triển kinh tế của đất nước.
Thứ năm, DSVH là cơ sở để giao lưu văn hóa trong nước và quốc tế, làm
cho văn hóa dân tộc và văn hóa nhân loại ngày càng phát triển đa dạng.
2.3. KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG
VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA
Qua một số kinh nghiệm của các nước như Trung Quốc, Nhật
Bản,Thái Lan, Ấn Độ, Vương Quốc Anh về giữ gìn và phát huy DSVH,
chúng ta có thể rút ra nhận xét như sau:
- DSVH nói chung là tài sản của mỗi quốc gia, là cơ sở hình thành nên
bản sắc dân tộc. Tùy vào điều kiện của mỗi quốc gia, việc giữ gìn và phát
huy DSVH ngoài những vấn đề có tính nguyên tắc vẫn có những đặc trưng
riêng. Tuy nhiên, dù theo cách thức nào thì vai trò của chủ thể văn hóa
cũng quyết định lớn đến thành công hay thất bại của sự nghiệp giữ gìn và
phát huy DSVH của mỗi nước.
- Trong việc giữ gìn và phát huy DSVH, chú ý vai trò chủ đạo của
Nhà nước. Cần có chính sách đầu tư thích hợp của Nhà nước, trong đầu tư
chú ý cân nhắc kỹ lưỡng về thứ hạn, mức độ như kinh nghiệm của Trung
Quốc. Cần có sự phân cấp rõ ràng trong việc quản lý DSVH như kinh
nghiệm từ Vương quốc Anh. Đồng thời, Nhà nước phải thật sự quan tâm
đến vấn đề quy hoạch bảo tồn DSVH, đào tạo đội ngũ cán bộ am hiểu về
văn hóa cho công tác này, phải xem DSVH như là tài sản quý báu quốc gia
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HOÁ Ở THỪA THIÊN HUẾ
HIỆN NAY:THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẤN ĐỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT
HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở THỪA THIÊN HUẾ HIỆN NAY
3.1.1. Điều kiện tự nhiên - xã hội của Thừa Thiên Huế ảnh hưởng
đến vấn đề giữ gìn và phát huy di sản văn hóa
10
- Về vị trí địa lý.
TTH là một trong 7 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
TTH có diện tích 503.320,53 ha nằm trên trục giao thông quan trọng
xuyên Bắc- Nam, trục hành lang Đông- Tây nối Thái Lan- Lào- Việt Nam
theo đường chính. TTH ở vào vị trí trung độ của cả nước, nằm giữa thành
phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng
kinh tế phát triển chính của Việt Nam, nằm ở khu vực tập trung nhiều di
sản của miền Trung Việt Nam hội tụ những tinh hoa văn hóa nhân loại và
được UNESSCO công nhận là các DSVH thế giới như Quần thể di tích cố
đô Huế, nhã nhạc cung đình Huế.
- Về địa hình, khí hậu
Nằm ở giữa Việt Nam, TTH có vùng khí hậu chuyển tiếp giữa khí hậu
miền Bắc (Bắc đèo Hải Vân) và khí hậu miền Nam, từ đồng bằng ven biển
lên vùng núi cao. Chế độ khí hậu, thủy văn ở đây có đặc tính biến động lớn
và hay xảy ra thiên tai bão lụt. Đặc điểm nổi bật của khí hậu TTH là lượng
mưa lớn nhất cả nước, vùng đồng bằng hẹp thường chịu nhiều lũ lụt mà
việc hạn chế ngập rất khó khăn.
Về chế độ mưa, lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/năm. Mùa
mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn
nhất, chiếm tới 30% lượng mưa của cả năm. Độ ẩm trung bình trong năm
là 85%- 86%. Đặc điểm mưa ở TTH là mưa không đều, lượng mưa tăng
dần từ Đông sang Tây, từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng
với cường độ mưa lớn do đó dễ gây lũ lụt, xói lở đã tác động nghiêm
còn chậm, thu nhập còn thấp, các ưu đãi đối với DSVH còn hạn chế cộng
với nguồn nhân lực đáp ứng cho công cuộc giữ gìn, phát huy DSVH ở
TTH còn thiếu so với nhu cầu cũng là một trong những khó khăn khiến các
DSVH của tỉnh chưa phát huy hết tác dụng.
3.1.2. Về nhận thức của các cấp chính quyền Trung ương và tỉnh
Thừa Thiên Huế đối với công tác giữ gìn và phát huy di sản văn hóa
Trong nhiều năm gần đây, lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta luôn dành sự
quan tâm đặc biệt đối với công tác giữ gìn phát huy DSVH ở TTH. Nhiều
dự án đã được Chính phủ phê duyệt đã tạo một cơ sở pháp lý vững chắc
cho công tác giữ gìn và phát huy DSVH ở TTH.
12
Tỉnh ủy, UBND tỉnh TTH trong nhiều năm qua cũng đã có nhiều chiến
lược cho vấn đề giữ gìn và phát huy các DSVH, tạo điều kiện để làm sống
lại mọi tiềm năng văn hóa, xem đó là nguồn lực nội sinh mạnh mẽ thúc
đẩy tăng tưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Nhiều quyết định quan trọng
nhằm chỉ đạo công tác này của tỉnh ủy, UBND tỉnh TTH được ban hành và
chú trọng đến việc đầu tư ngân sách địa phương cho công tác giữ gìn và
phát huy DSVH, kịp thời chỉ đạo phân công, phân cấp các ngành các cấp
địa phương cùng phối hợp triển khai đồng bộ công tác giữ gìn và phát huy
các giá trị DSVH. Đồng thời tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế trong
quá trình giữ gìn trùng tu các di tích.
3.1.3. Về nhận thức của nhân dân Thừa Thiên Huế trong việc giữ
gìn và phát huy các di sản văn hóa
Tồn tại trong gần 160 năm (1788-1945), với tư cách là Kinh đô, Phú
Xuân - TTH là điểm hội tụ tinh hoa của dân tộc, mang đậm bản sắc văn
hoá truyền thống của Việt Nam, chứa đựng những sắc thái văn hoá rất
riêng của vùng đất Thuận Hoá - Phú Xuân - TTH. Vì vậy, trong nhận thức
của người dân TTH, các DSVH có một ý nghĩa to lớn trong đời sống tinh
thần của họ. Họ xem đây là tài sản vật chất quý giá cần được lưu truyền và
giáo dục lịch sử dân tộc cho các thế hệ mai sau. Việc góp sức cả về vật
lớn là dòng nhạc chuyên nghiệp và dòng nhạc dân gian. Điển hình có Nhã
nhạc cung đình Huế, đây là một trong những loại hình âm nhạc cung đình,
được xem là quốc nhạc, sử dụng trong các cuộc tế, lễ của triều đình quân
chủ. Về âm nhạc dân gian Huế như hát ru, hò, vè hay những lễ nhạc tôn
giáo, nhạc lễ cổ truyền thì ca Huế làm môn nghệ thuật xuất phát từ cách
chơi của giới quý tộc sau đó dần dần được dân gian hóa.
Trong các lễ hội truyền thống: Nhìn tổng quát lễ hội ở TTH tuy
không phong phú như miền Bắc, nhưng cũng khá đa dạng với hai loại lễ
hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian.
- Trong sinh hoạt ẩm thực: TTH hiện còn lưu giữ những giá trị nghệ
thuật ẩm thực với gần 1.700 món ăn cung đình và dân gian độc đáo, hấp dẫn.
Với người dân xứ Huế, ẩm thực là một nét văn hóa, một nghệ thuật, có tính
triết lý riêng được hình thành bởi nhiều yếu tố lịch sử- địa lý- xã hội.
14
Những DSVH đó tồn tại đến ngày nay và ngày càng thể hiện những
giá trị đặc sắc sau:
- Thứ nhất, trong kho tàng DSVH dân tộc, TTH là nơi duy nhất còn
giữ lại một quần thể di tích kinh đô lịch sử của chế độ quân chủ phong
kiến cuối cùng ở Việt Nam, phản ánh khá trung thực cơ chế của triều đình
nhà Nguyễn từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng tầng. Là kho sử liệu vật
chất phong phú về một giai đoạn lịch sử của đất nước. Chính các công
trình kiến trúc đã ghi lại dấu ấn sinh động của hầu hết các nhân vật lịch sử,
các danh nhân tiêu biểu của Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến đầu
thế kỷ XX.
Thứ hai, đi liền với tổng thể kiến trúc kinh đô Huế là di sản nghệ thuật
cung đình Việt Nam, di sản nghệ thuật truyền thống của vùng đất cố đô,
trung tâm nghệ thuật Việt Nam ở thế kỷ XIX. Giá trị của nghệ thuật cung
đình và nghệ thuật dân gian cố đô là sự tập trung của tinh hoa tài năng của
dân tộc.
Thứ ba, DSVH TTH là cơ sở, tiền đề để nâng cao mức hưởng thụ cho
+ Công tác bảo quản cấp thiết như chống dột, chống sập, chống mối
mọt, chống cây cỏ xâm thực, gia cố và thay thế các bộ phận bị lão hóa đã
được triển khai trên phạm vi rộng với hàng trăm công trình. Nhờ vậy mà
trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt xảy ra liên tiếp, các di tích vẫn được
giữ gìn và kéo dài tuổi thọ.
+ Cơ sở hạ tầng các khu di tích như: Hệ thống đường, điện chiếu sáng
khu vực: Đại Nội, Quảng trường Ngọ Môn- Kỳ Đài, điện đường đến các
lăng Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định đã được đầu tư, nâng
cấp. Hệ thống sân vườn sân vườn các di tích Hưng Miếu, Thế Miếu, cung
Diên Thọ, Cung An Định được tu bổ hoàn nguyên đáp ứng kịp thời công
tác tu bổ và phục vụ du lịch.
Công tác giữ gìn, tôn tạo cảnh quan môi trường đô thị và thiên nhiên
gắn liền với di tích cũng được thực hiện một cách có hiệu quả. Trong
những năm qua, phần lớn các di tích chính đã được đầu tư tu bổ và tôn
tạo hệ thống sân vườn, cảnh quan và trồng cây bổ sung ở các khu vực
đệm. Nổi bật như việc trồng lại vành đai xanh lăng vua Minh Mạng, tôn
16
tạo phục hồi cảnh quan vườn Cơ Hạ,… Đồng thời, việc nâng cấp cơ sở
hạ tầng và các trục đường Thành phố Huế đã được quan tâm, nhất là các
trục đường trong Kinh Thành, đường đến một số điểm di tích. Đặc biệt
là việc chỉnh trang, tôn tạo 2 bên bờ sông Hương, nạo vét sông Ngự Hà
và tu bổ kè Hộ Thành Hào đã tạo điều kiện để phát triển dân sinh và
chỉnh trang đô thị. Việc giải tỏa gần 300 hộ dân ở khu vực Bến Me và
Hộ Thành Hào, hơn 50 hộ dân ở Thượng thành mặt Nam, hàng chục hộ
dân ở đàn Xã Tắc, Võ Miếu, gần 100 hộ dân dọc theo Ngự Hà…với kinh
phí hàng chục tỉ đồng phần nào trả lại cảnh quan cho mặt Nam Kinh
thành Huế.
Hoạt động quy hoạch khoanh vùng bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa
Theo báo cáo của TTBTDTCĐ Huế, tính đến thời điểm tháng 8 năm
2013, số lượng hồ sơ quy hoạch khoanh vùng bảo vệ di tích do bộ phận
được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức như Unesco, ACCU, …thực hiện, đã
giúp bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về những giá trị DSVH Huế. TTBTDTCĐ
Huế cũng đã tiếp nhận dự án sản xuất phim giới thiệu về việc phục dựng
khu Hoành Thành Huế bằng công nghệ kỹ thuật số và phim 3D về di tích
Hổ Quyền do Tổng cục DSVH Quốc gia Hàn Quốc tài trợ.
Đồng thời, TTBTDTCĐ Huế đã tiến hành các thủ tục để nghệ sĩ Nhà
hát NTTT Cung đình Huế đi biểu diễn Nhã nhạc tại các nước: Thái Lan,
Áo, Đức, Hàn Quốc…
3.2.3. Thực trạng của việc giữ gìn các giá trị di sản văn hóa phi
vật thể ở Thừa Thiên Huế hiện nay
Hoạt động sưu tầm, nghiên cứu các di sản văn hóa phi vật thể
TTBTDTCĐ Huế đã tổ chức trên 10 cuộc hội thảo, hội nghị quốc gia
và quốc tế về chủ đề nghiên cứu, giữ gìn các tài sản văn hóa phi vật thể,
TTBTDTCĐ Huế còn tổ chức nghiên cứu ứng dụng, sưu tầm và bảo tồn
được hàng chục tác phẩm âm nhạc cung đình quan trọng. Sưu tầm nghiên
cứu và dàn dựng thành công 15 điệu múa Cung đình tiêu biểu.
Hoạt động phục hồi các loại hình nghệ thuật cung đình và lễ hội
Có hơn 100 lễ hội dân gian, lễ hội truyền thống và hiện đại đã được
các địa phương ở TTH khôi phục và phát huy. Thông qua Festival Huế,
18
được định kỳ tổ chức hai năm một lần vào các năm chẵn và Festival Nghề
truyền thống Huế tổ chức hai năm một lần vào các năm lẻ, các hoạt động
văn hóa này đã trở thành một sinh hoạt văn hóa, lễ hội ấn tượng, đặc sắc,
tạo nên nét độc đáo cho vùng đất nhiều DSVH.
3.2.4. Thực trạng của việc phát huy có hiệu quả di sản văn hóa ở
Thừa Thiên Huế hiện nay
Kết quả mà ngành du lịch TTH đạt được chắc chắn có sự đóng góp
không nhỏ của các DSVH của địa phương. Tại các điểm di tích, số lượng
khách quan quan du lịch theo thống kê của TTBTDTCĐ Huế từ năm 1996
đến năm 2011, nguồn khách tham quan các khu di tích cho thấy, từ chổ chỉ
với việc nghiên cứu, giữ gìn và phát huy giá trị DSVH của tất cả các thời
kỳ lịch sử ở TTH.
Thứ hai, trong công tác giữ gìn các di tích, Huế đang thiếu một đội
ngũ chuyên gia bảo tồn di tích thật sự, thiếu các công nhân lành nghề để
đảm trách công việc này.
Thứ ba, trong công tác giữ gìn và phát huy DSVH phi vật thể vẫn còn
nhiều bất cập.
Thứ tư, những thách thức trong công tác phát huy giá trị DSVH ở TTH.
Nguyên nhân của những hạn chế trong việc giữ gìn và phát huy di
sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế
Thứ nhất, về nguyên nhân chủ quan:
- Mặc dù nhận thức của các ngành, các cấp và của toàn xã hội về vai
trò, ý nghĩa của DSVH và trách nhiệm của toàn xã hội đối với DSVH đã
được nâng cao nhưng chưa sâu sắc và toàn diện và cũng chưa được cụ thể
hóa bằng các biện pháp, kế hoạch và chương trình cụ thể.
- Trong quá trình triển khai việc giữ gìn và phát huy DSVH, chúng ta còn
lúng túng để xử lý một cách hài hòa mối quan hệ giữa giữ gìn và phát triển
- Do những chủ sở hữu các DSVH và những người trực tiếp tham gia
công tác giữ gìn và phát huy DSVH chưa thực sự am tường những DSVH
mà mình đang trực tiếp sở hữu, quản lý và giữ gìn, nên đã dẫn đến những
hành xử không đúng mực với DSVH.
- Do việc mưu cầu lợi ích cá nhân trong quá trình trùng tu, bảo quản
và phát huy DSVH. Vì các lợi ích này, người ta sẵn sàng làm sai lệch tính
20
nguyên gốc khi trùng tu di tích hay làm biến dạng DSVH phi vật thể vì
mục đích thương mại.
Thứ hai, về nguyên nhân khách quan:
- Mặc dù, rất muốn thực hiện nhanh việc giữ gìn và phát huy DSVH
nhưng ở TTH hiện nay nguồn tài chính còn hạn hẹp và nguồn nhân lực cho
công tác này còn thiếu hụt.
hiện nay
Thứ nhất, thường xuyên quán triệt các quan điểm của Đảng đối với
việc giữ gìn và phát huy các giá trị DSVH ở TTH hiện nay.
Thứ hai, đảm bảo tính kế thừa và đổi mới trong việc giữ gìn và phát
huy DSVH ở TTH trong quá trình hội nhập và phát triển hiện nay.
Thứ ba, trong điều kiện KTTT, giá trị DSVH ở TTH cần thiết phải
được bảo vệ và phát triển.
4.1.2. Tầm nhìn về công tác giữ gìn và phát huy di sản văn hóa ở
tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020
Căn cứ vào kết luận 48 của Bộ Chính Trị, tỉnh TTH phấn đấu đến năm
2020 xây dựng TTH xứng tầm là trung tâm văn hoá, du lịch đặc sắc của cả
nước. Với mục tiêu phát huy truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng, giàu
bản sắc; khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển văn hóa, du lịch; xây dựng
môi trường văn hoá lành mạnh, đậm đà bản sắc văn hoá Huế gắn với bảo tồn,
phát huy giá trị các DSVH; gắn văn hoá với du lịch, phát triển du lịch thành
ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp tỷ lệ ngày càng cao trong GDP.
4.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA
VIỆC GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA Ở THỪA THIÊN
HUẾ HIỆN NAY
Thứ nhất, giải pháp về đẩy mạnh tuyên tuyền, giáo dục nhằm nâng
cao nhận thức về tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy DSVH ở
tỉnh TTH.
22
Thứ hai, thúc đẩy phát triển kinh tế, tăng tích lũy tạo điều kiện tăng
đầu tư cho việc giữ gìn và phát huy giá trị DSVH ở TTH.
Thứ ba, giải pháp về các chương trình hành động đối với từng loại
hình DSVH ở TTH.
Thứ tư, giải pháp nâng cao năng lực quản lý DSVH ở tỉnh TTH.
Thứ năm, giải pháp về quy phạm luật pháp, tăng cường đổi mới công
tác quản lý Nhà nước đối với vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH ở TTH.
chủ quan và khách quan, nhiều công trình di sản vẫn còn trong tình trạng
hư hỏng nặng nề, nhiều lễ hội, ngành nghề truyền thống trong quá trình
khôi phục chưa đáp ứng yêu cầu. Các nguyên nhân được rút ra từ thực tiễn
và những vấn đề đặt ra cần phải được nhận thức đúng để nâng cao hơn nữa
chất lượng của việc giữ gìn và phát huy DSVH ở TTH trong tình hình mới.
5. Nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc giữ gìn và phát huy DSVH
ở TTH trong giai đoạn hiện nay cần quán triệt quan điểm của Đảng về
DSVH, phải đảm bảo tính kế thừa, đổi mới và nhìn nhận sự cần thiết phải
bảo vệ DSVH trong điều kiện KTTT. Phải thực hiện hệ thống các giải
pháp toàn diện, đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng công tác này. Căn cứ
vào đặc điểm riêng của tỉnh TTH mà các chủ thể, tỉnh ủy, UBND và ngành
văn hóa cần vận dụng thực hiện cho phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác giữ gìn và phát huy DSVH ở TTH đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong
những giai đoạn tiếp theo.
6. Sự nghiệp giữ gìn và phát huy DSVH nói chung và ở tỉnh TTH nói
riêng phải không ngừng nổ lực, tìm tòi, tạo ra những sáng tạo mới, và đặc
biệt là sự quyết tâm của các cấp chính quyền địa phương cùng toàn thể
nhân dân nhằm góp phần vào sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
KIẾN NGHỊ
1. Đối với Trung ương
- Kiến nghị đưa dự án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích cố
đô Huế vào dự án ưu tiên của Nhà nước.
- Nhà nước nên xây dựng đề án thiết lập Quỹ quốc gia văn hóa Việt
Nam nhằm huy động các nguồn kinh phí, các tài sản hiến tặng