HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
NGUYN ANH TUN
NHậN THứC MớI Về DÂN CHủ Xã HộI CHủ NGHĩA
Và XÂY DựNG NềN DÂN CHủ Xã HộI CHủ NGHĩA
ở VIệT NAM THờI Kỳ ĐổI MớI
TểM TT LUN N TIN S TRIT HC
CHUYấN NGNH: CH NGHA X HI KHOA HC
Mó s: 62 22 03 08
H NI - 2016
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Viết Thông
Phản biện 1:.........................................................
.........................................................
Phản biện 2:.........................................................
.........................................................
Phản biện 3:.........................................................
.........................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
ta trong điều kiện mới. Với mong muốn góp phần từng bước giải quyết
những công việc phức tạp và hệ trọng nói trên, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn
đề “Nhận thức mới về dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời kỳ đổi mới” làm đề tài luận án Tiến sĩ
Triết học, chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Từ việc phân tích cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, phân tích những nội
dung mới và những vấn đề đặt ra trong nhận thức về dân chủ XHCN và xây
dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới, luận án đề xuất
2
những quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức về
dân chủ XHCN và xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, từ đó, xác định sự
cần thiết và các nội dung luận án tập trung nghiên cứu; Phân tích cơ sở lý
luận, thực tiễn của nhận thức về dân chủ XHCN và xây dựng nền dân chủ
XHCN ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; Phân tích, làm rõ những nội dung
mới và những vấn đề đặt ra trong nhận thức về dân chủ XHCN và xây dựng
nền dân chủ XHCN ở nước ta trong thời kỳ đổi mới; Đề xuất một số quan
điểm, giải pháp tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức về dân chủ XHCN và
xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Những nhận thức mới về dân chủ XHCN và xây dựng nền dân chủ
XHCN ở Việt Nam thời kỳ đổi mới.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam thời kỳ đổi mới; Phân tích những
vấn đề đặt ra và đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm tiếp tục bổ sung, phát
triển nhận thức về dân chủ XHCN và xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt
Nam trong điều kiện hiện nay.
6. Ý nghĩa thực tiễn của của luận án
Góp phần để công tác tư tưởng, lý luận của Đảng vươn lên phản ánh
đúng đắn, sâu sắc quy luật, tính quy luật của quá trình dân chủ hóa XHCN ở
Việt Nam; Góp phần tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động để toàn
Đảng, toàn dân ta thực hiện tốt hơn việc phát huy dân chủ XHCN cũng như
phê phán các quan điểm sai trái về dân chủ và dân chủ XHCN; Có thể dùng
làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập các nội dung
liên quan đến dân chủ và hệ thống chính trị trong Chủ nghĩa xã hội khoa học
và các chuyên ngành khoa học khác.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các công trình của tác giả đã được công
bố, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương, 10 tiết.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN
CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới về dân chủ và dân chủ xã hội
chủ nghĩa
Luận án phân tích 6 công trình đã dịch và lưu hành ở nước ta như: cuốn
Chế độ dân chủ, nhà nước và xã hội của N.M.Voskresenskaia, N.B.
Davletshina; Bài phát biểu tại lễ kỷ niệm 30 năm cải cách mở cửa của Hồ
Cộng sản Trung Quốc...
1.2.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam về xây dựng nền dân chủ và xây
dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
Luận án phân tích 68 công trình, tiêu biểu như: cuốn Dân chủ, nhân
quyền - giá trị toàn cầu và đặc thù quốc gia của Hội đồng Lý luận Trung
ương; cuốn Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay
của Đỗ Trung Hiếu; Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay của Lê Minh Quân; Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Vũ
Hoàng Công; Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm
đổi mới (1986-2016) của Đảng Cộng sản Việt Nam; bài Phát huy dân chủ
trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền của Nguyễn Văn Huyên;
Một số quan điểm cần nắm vững trong đổi mới mối quan hệ giữa Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ của Bùi Đình Bôn; Xây dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: những vấn đề lý luận, thực tiễn cần
làm sáng tỏ trong điều kiện hiện nay của Nguyễn Quốc Phẩm; Xây dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam qua gần 30 năm đổi mới của Đỗ
Thị Thạch - Nguyễn Văn Quyết; luận án Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá trình
độ phát triển dân chủ ở Việt Nam hiện nay của Trần Thị Thu Huyền...
1.3. GIÁ TRỊ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH TỔNG QUAN VÀ NHỮNG
NỘI DUNG LUẬN ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.3.1. Giá trị của các công trình tổng quan
1.3.1.1. Giá trị của các công trình nghiên cứu về dân chủ và dân chủ
xã hội chủ nghĩa
Một là, có nhận thức chung về nội hàm của khái niệm dân chủ: từ
nghĩa gốc dân chủ là mọi quyền lực thuộc về nhân dân, dân chủ được tiếp
6
sử không ngừng vươn lên để đạt những giá trị dân chủ ngày một cao, sâu sắc
7
và phổ biến. Xây dựng, phát triển nền dân chủ là xu thế tất yếu khách quan
của sự tiến hóa lịch sử nhân loại. Con đường tạo lập dân chủ, biện pháp phát
triển dân chủ bao hàm sự thống nhất biện chứng giữa giá trị, nguyên tắc, biện
pháp chung, phổ biến với giá trị, nguyên tắc, biện pháp riêng, đặc thù. Mỗi
loại hình dân chủ, mỗi chế độ dân chủ ở từng quốc gia, dân tộc, trong những
thời kỳ, điều kiện lịch sử khác nhau sẽ có cách thức, con đường, biện pháp
khác nhau để thiết lập và phát triển nền dân chủ. Trong đó, xuyên qua các
loại hình dân chủ, con đường, biện pháp chung để xây dựng, phát triển dân
chủ đó là thiết lập, tạo dựng các cơ sở, điều kiện về chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội theo các yêu cầu và chuẩn mực dân chủ.
Thứ hai, có những nghiên cứu về nội dung, giải pháp xây dựng nền dân
chủ XHCN: ở những góc độ, mức độ khác nhau, có nhiều công trình nghiên
cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền dân chủ
vô sản, dân chủ XHCN. Có công trình nghiên cứu quan điểm của Đảng Cộng
sản Trung Quốc về xây dựng nền dân chủ XHCN đặc sắc Trung Quốc trong
cải cách mở cửa; nghiên cứu quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
về xây dựng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân; nghiên cứu quan điểm của
Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng, phát triển nền dân chủ XHCN ở Việt
Nam trong thời kỳ đổi mới. Các nhóm nội dung, điều kiện, giải pháp có tính
tất yếu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội được bàn luận trong các nghiên
cứu là phải xây dựng, phát triển nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường, văn
hóa dân chủ và xây dựng, phát triển xã hội phù hợp với điều kiện hoàn cảnh
của mỗi quốc gia, dân tộc dưới sự lãnh đạo của chính đảng theo chủ nghĩa
Mác - Lênin.
Tóm lại, các công trình ở trong và ngoài nước nghiên cứu về dân chủ,
nước ta hiện nay.
9
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NHẬN THỨC MỚI
VỀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ XÂY DỰNG NỀN
DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NHẬN THỨC MỚI VỀ DÂN CHỦ XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VÀ XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1.1. Quan niệm chung về dân chủ, nền dân chủ và xây dựng nền
dân chủ
2.1.1.1. Quan niệm chung về dân chủ
Từ nghĩa gốc của khái niệm (dân chủ là mọi quyền lực thuộc về nhân
dân), trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tùy theo sự vận
động biến đổi của thực tiễn dân chủ, khái niệm dân chủ được nhận thức cũng
đa dạng. Đến nay, mặc dù vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau nhưng hầu
như đã có những nhận thức chung tương đối thống nhất về những nội dung
cơ bản của khái niệm dân chủ. Theo đó, dân chủ được hiểu với nghĩa rộng
với 5 nội dung cơ bản: Một, chế độ chính trị, hình thức nhà nước bảo đảm
nhân dân là chủ thể quyền lực; Hai, quyền thống trị, quyền làm chủ của giai
cấp thống trị; Ba, biểu thị thành quả đấu tranh của nhân dân chống lại áp bức,
bóc lột; Bốn, cơ chế, nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của các tổ chức cộng đồng
và các tổ chức chính trị - xã hội trên cơ sở sự tự do, bình đẳng giữa các thành
viên, thiểu số phục tùng đa số và tôn trọng, bảo vệ thiểu số; Năm, giá trị xã
hội, giá trị nhân văn phản ánh trạng thái, mức độ giải phóng con người trong
tiến trình phát triển xã hội...
trong lĩnh vực chính trị, trong đó, cơ bản là xây dựng nhà nước pháp quyền.
Thứ ba, xây dựng điều kiện văn hóa của nền dân chủ và thực hiện dân chủ
trong lĩnh vực văn hóa, trong đó, cốt lõi là phát triển dân trí, tự do tư tưởng,
tự do ngôn luận và đa dạng văn hóa. Thứ tư, xây dựng điều kiện xã hội của
nền dân chủ và thực hiện dân chủ trong lĩnh vực xã hội, trong đó, cơ bản là
xây dựng, phát triển xã hội công dân, xã hội dân sự, bảo đảm an sinh xã hội.
Trong luận án, tác giả sử dụng cách tiếp cận toàn diện, chỉnh thể về dân
chủ, dân chủ XHCN, xây dựng nền dân chủ và xây dựng nền dân chủ
XHCN. Khái niệm dân chủ (và dân chủ XHCN) được hiểu với 5 nội dung và
khái niệm xây dựng nền dân chủ (và xây dựng nền XHCN) được hiểu với 4
nội dung cơ bản.
11
2.1.2. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
xã hội chủ nghĩa
Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ XHCN gồm
các nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, dân chủ XHCN là hệ thống chuyên chính
vô sản (CCVS), nhà nước CCVS kiểu dân chủ cộng hòa. Thứ hai, dân chủ
XHCN thể hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân rộng
rãi. Thứ ba, dân chủ XHCN là thành quả đấu tranh cách mạng của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Thứ tư,
dân chủ XHCN sử dụng tập trung dân chủ hay dân chủ tập trung làm nguyên
tắc tổ chức, sinh hoạt cơ bản của các cộng đồng và các tổ chức chính trị - xã
hội. Thứ năm, dân chủ XHCN là sự kết tinh các giá trị xã hội, giá trị nhân
văn, văn minh phản ánh trạng thái, mức độ giải phóng con người một cách
toàn diện và triệt để trong tiến trình cách mạng XHCN.
2.1.3. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
nước ta, trong đó đáng chú ý là những tác động của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và đặc biệt là tác động từ
tính phức tạp của quá trình dân chủ hóa ở các nước trên thế giới.
Những khái niệm như: cộng đồng mạng, công dân toàn cầu, hội nghị
trực tuyến, chính phủ điện tử... đã phản ánh những thay đổi, tiến bộ chưa
từng có trong đời sống chính trị - xã hội của nhân loại dưới tác động của
khoa học - công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa. Tuy nhiên,
cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức và toàn cầu hóa
không chỉ đem đến cho nhân loại cũng đặt các giá trị dân chủ, các thể chế
dân chủ, các nền dân chủ ở các quốc gia, dân tộc đứng trước nhiều thử thách,
nguy cơ. Đã có những quốc gia, dân tộc lâm vào cảnh xung đột, huynh đệ
tương tàn; các giá trị dân chủ đã bị chà đạp, bị tước đoạt bởi chiến lược “diễn
biến hòa bình”, bởi chiêu bài, thủ đoạn can thiệp, áp đặt các chuẩn mực dân
chủ, nhân quyền của Mỹ và phương Tây…
Quá trình dân chủ hóa ở các nước trên thế giới trong ba thập kỷ qua
cho chúng ta những kinh nghiệm quý báu. Theo đó, dân chủ hóa ở mỗi nước
không chỉ phải căn cứ vào đặc điểm xu thế thời đại mà phải xuất phát từ
những nhu cầu nội tại khách quan đáp ứng lợi ích của nhân dân và đất nước;
phải dựa trên những giá trị dân chủ có tính toàn nhân loại và phải căn cứ vào
những điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử của đất nước
mình; phải được nhận thức, tổ chức, thúc đẩy một cách thận trọng, khoa học
với lộ trình, mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp…
13
2.2.2. Những yếu tố trong nước tác động tới nhận thức mới về dân
chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam thời kỳ đổi mới
- Những thành tựu, hạn chế trong bước đầu xây dựng và thực hiện dân
chủ ở nước ta trong giai đoạn 1945-1985 có tác động sâu sắc đến tư duy,
Chương 3
NHỮNG NỘI DUNG MỚI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
TRONG NHẬN THỨC VỀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VÀ XÂY DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
3.1. NHỮNG NỘI DUNG MỚI TRONG NHẬN THỨC VỀ DÂN CHỦ
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI
3.1.1. Nhận thức rõ và đầy đủ hơn về dân chủ xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam với tính cách là chế độ chính trị, hình thức nhà nước bảo đảm
quyền lực thuộc về nhân dân
Thay cho khái niệm nhà nước CCVS, hệ thống CCVS, Đảng ta đã sử
dụng khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị XHCN.
Làm rõ cơ chế tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị XHCN ở nước ta và
các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Theo đó,
dân chủ XHCN ở Việt Nam trước hết được thể hiện và thực hiện thông qua
Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN và hệ thống chính trị XHCN vận
hành theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Nhận thức này là kết quả của sự kế thừa có phát triển sáng tạo những quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cả những quan
điểm của Đảng ta ở thời kỳ trước đổi mới và là sự bổ sung những quan điểm,
tư tưởng ấy trong những điều kiện mới của đất nước và thời đại.
3.1.2. Nhận thức đúng và sâu sắc hơn về sự thống nhất biện chứng
giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và tính
nhân loại của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trước đổi mới, do hiểu không đầy đủ, vận dụng máy móc quan điểm
của các nhà kinh điển về tính chất của nền dân chủ XHCN, Đảng ta đã sai lầm
khi đề cao quá mức tính giai cấp, chưa nhận thức đúng tính nhân loại và xem
nhẹ tính dân tộc của nền dân chủ XHCN. Trong đổi mới, khắc phục hạn chế
nói trên, Đảng ta không những đã nhận thức đúng quan điểm của các nhà
mới ở Việt Nam.
3.1.4. Nhận thức đầy đủ hơn về các cơ chế, nguyên tắc tổ chức, vận
hành của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Từ chỗ xem nhẹ dân chủ, nhấn mạnh quá mức tập trung đến chỗ nhận
thức biện chứng, đầy đủ và sâu sắc hơn về quan hệ giữa dân chủ với tập
trung. Ở Việt Nam, dân chủ và tập trung gắn bó tự nhiên, chặt chẽ trong cơ
16
chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Điều này được
biểu hiện ở sự thống nhất giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; thiểu
số phục tùng đa số; cấp dưới phục tùng cấp trên; cá nhân phục tùng tổ chức;
dân chủ gắn với đoàn kết toàn dân và đồng thuận xã hội trên cơ sở lấy mục
tiêu độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
làm điểm tương đồng; quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công,
phối hợp và kiểm soát lẫn nhau, đồng thời, bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất
của Trung ương…
Phân định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ và giải quyết tốt hơn mối quan
hệ giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà
nước ban hành Hiến pháp, pháp luật nhưng tổ chức đảng và đảng viên của
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; Đảng gắn bó mật
thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân và chịu
trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Nhà nước pháp
quyền XHCN được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. Nhân
dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua Nhà nước do Đảng lãnh
đạo; làm chủ thông qua các tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức thành viên; và tự mình trực tiếp thực hiện các quyền dân chủ
theo luật định. Nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về quan hệ giữa quyền và
nghĩa vụ, trách nhiệm trong nền dân chủ XHCN. Trước đổi mới, ở quan hệ
bào các dân tộc, tôn giáo, đồng bào định cư ở nước ngoài...
Dân chủ XHCN ở Việt Nam được tổ chức, vận hành bằng những cơ
chế, hình thức, phương thức, thể chế kinh tế, chính trị hiện đại phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, chính trị, truyền thống lịch sử, văn hóa Việt
Nam và được lãnh đạo bởi một Đảng Cộng sản có trí tuệ, bản lĩnh, kinh
nghiệm luôn đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động và cả dân tộc Việt Nam. Do đó, dân chủ XHCN ở Việt Nam kết
tinh trong mình những giá trị dân chủ của giai cấp công nhân, của nhân dân,
dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, của nhân loại tiến bộ và những giá
trị văn minh thời đại.
3.2. NHỮNG NỘI DUNG MỚI TRONG NHẬN THỨC VỀ XÂY
DỰNG NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM THỜI KỲ
ĐỔI MỚI
3.2.1. Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
đổi mới, dân chủ hóa tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị dưới sự
lãnh đạo của Đảng - điều kiện chính trị và nội dung thực hiện dân chủ xã
hội chủ nghĩa trong lĩnh vực chính trị ở Việt Nam trong đổi mới
Trong đổi mới, Đảng ta đã hình thành hệ thống các quan điểm lý luận
về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN; quan điểm lý luận về
18
đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, về tổ chức, hoạt động của
Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Theo đó, phải đổi
mới căn bản, đồng bộ, dân chủ hóa toàn diện tổ chức, hoạt động của hệ thống
chính trị XHCN với hình thức, bước đi phù hợp; xây dựng, hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; không
ngừng bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, quy định, quy chế dân chủ;
3.2.3. Xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng với đặc trưng dân tộc, nhân
văn, dân chủ, khoa học - điều kiện văn hóa và nội dung thực hiện dân
chủ xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực văn hóa ở Việt Nam trong đổi mới
Trong đổi mới, Đảng ta đã hình thành về cơ bản hệ thống các quan
điểm, chủ trương xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng với đặc trưng dân tộc, nhân văn,
dân chủ, khoa học. Theo đó, phải bảo đảm hệ tư tưởng của giai cấp công
nhân, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hoá dân tộc, những tinh
hoa văn hoá thế giới giữ vai trò nền tảng và chiếm vị trí chủ đạo trong đời
sống tinh thần xã hội; làm cho vǎn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và
hoạt động xã hội. Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo
Hiến pháp và pháp luật các quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do
sáng tạo, thông tin, báo chí, quyền hưởng thụ, tiếp cận các giá trị văn hóa,
tham gia đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa. Xây dựng, phát triển
văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý;
Nhà nước và nhân dân cùng làm văn hóa; mọi cấp, mọi ngành, mọi cơ quan,
đơn vị, mọi người đều có nghĩa vụ, trách nhiệm tham gia hoạt động văn hóa;
nhân dân là chủ thể sáng tạo văn hóa, đồng thời hưởng thụ ngày càng nhiều
thành quả văn hóa; đội ngũ nhân tài, trí thức, văn nghệ sĩ giữ vai trò quan
trọng trên mặt trận văn hóa, tư tưởng. Văn hóa là nền tảng tinh thần vững
chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, là mục tiêu, động lực của
đổi mới và phát triển bền vững đất nước. Đây là sự vận dụng, phát triển tư
tưởng xây dựng nền văn hóa vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng về
xây dựng nền văn hóa mới của Hồ Chí Minh và của chính Đảng ta thời kỳ
trước đổi mới, trong đó có tinh thần dân tộc, khoa học, đại chúng từ Đề
cương văn hóa Việt Nam (1943) của Đảng. Tất nhiên, trong đổi mới, vấn đề
thực hiện dân chủ XHCN trong lĩnh vực văn hóa ngày càng được Đảng ta đặt
trong mối tương quan mật thiết với các điều kiện, nội dung kinh tế, chính trị,
xã hội phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng Nhà
thống nhất, tinh gọn, dân chủ, pháp quyền, hiệu quả với thực trạng còn nhiều
bất cập trong cơ chế vận hành và sự cồng kềnh về tổ chức bộ máy của Đảng,
Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Hai là, mâu
thuẫn giữa yêu cầu giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích, bảo đảm đại đoàn
kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh công - nông - trí thức với những biểu
hiện “dân chủ phi giai cấp”, “nhân quyền không biên giới” và những xung
đột về lợi ích, sự chi phối của lợi ích nhóm trong quá trình phát triển dân chủ
21
XHCN. Ba là, mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo đảm dân chủ XHCN thực sự là
mục tiêu, động lực của đổi mới, phát triển đất nước với những biến đổi nhanh
chóng, phức tạp của cơ cấu xã hội, trong đó có cơ cấu xã hội giai cấp. Bốn là,
mâu thuẫn giữa yêu cầu thực hiện đầy đủ dân chủ XHCN bằng các cơ chế,
thể chế, pháp luật với tình trạng vừa thiếu vừa yếu trong xây dựng và thực thi
thể chế, pháp luật dân chủ XHCN. Năm là, mẫu thuẫn giữa yêu cầu bảo đảm
quyền công dân, quyền con người trong các lĩnh vực đời sống xã hội với điều
kiện nước ta còn nhiều hạn chế về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, pháp
luật, đặc thù văn hóa, phong tục và vấn đề bảo đảm quốc phòng, an ninh
quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
3.3.2. Những vấn đề đặt ra trong nhận thức lý luận về xây dựng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời kỳ đổi mới
Thứ nhất, mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo đảm nhân dân thật sự làm chủ
thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình
thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện với tình trạng Nhà nước pháp quyền
XHCN mới bước đầu xây dựng, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hiệu quả;
vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận và các tổ chức thành viên còn
hạn chế; Đảng chưa thực sự nêu gương thực hành dân chủ XHCN. Thứ hai,
mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo đảm định hướng XHCN, nhất là bảo đảm sự
cao dân sinh, dân trí, dân khí, dân quyền.
Bốn là, nhận thức về dân chủ XHCN và xây dựng nền dân chủ XHCN
ở Việt Nam phải gắn với việc đổi mới, dân chủ hóa và hoàn thiện hệ thống
chính trị.
Năm là, nhận thức về dân chủ XHCN và xây dựng nền dân chủ XHCN
ở Việt Nam phải gắn với việc chủ động đấu tranh chống quan điểm, hành
động sai trái, thù địch.
4.2. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN
NHẬN THỨC VỀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ XÂY DỰNG
NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
4.2.1. Nhóm giải pháp về tư tưởng
- Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, phổ biến, tuyên
truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về dân chủ cho cán bộ, đảng viên và
các tầng lớp nhân dân;
23
- Ngăn chặn các biểu hiện lệch lạc trong nội bộ gắn liền với đấu tranh
chống các tư tưởng, hành động sai trái, thù địch về dân chủ, nhân quyền;
- Nhận thức đầy đủ vai trò của công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu
lý luận về dân chủ và dân chủ XHCN.
4.2.2. Nhóm giải pháp về thể chế, chính sách
- Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế, thể chế, chính sách thúc đẩy
dân chủ hóa XHCN trên các lĩnh vực đời sống xã hội của đất nước;
- Tiếp tục đổi mới, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển đội
ngũ trí thức, chuyên gia lý luận;
- Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật bảo đảm
tự do, dân chủ trong nghiên cứu, sáng tạo và sinh hoạt lý luận.