Luận án tiến sĩ triết học: Nhân tố người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay - Pdf 47

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
•&œ

LÊ THỊ CHIÊN

NHÂN TỐ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁT TRIỂN
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT HIỆN ĐẠI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2017


HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ CHIÊN

NHÂN TỐ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁT TRIỂN
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT HIỆN ĐẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 62 22 03 02

Người hướng dẫn khoa học:
1. GS,TS NGUYỄN HÙNG HẬU
2. PGS,TS ĐẶNG QUANG ĐỊNH


6

1.2. Những nghiên cứu liên quan đến thực trạng của nhân tố người lao động
trong lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay

16

1.3. Những nghiên cứu liên quan đến quan điểm, giải pháp nhằm phát triển
nhân tố người lao động đáp ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt
Nam hiện nay

22

1.4. Giá trị của những công trình nghiên cứu đã tổng quan và những vấn đề
đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm

28

Chương 2: NHÂN TỐ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
HIỆN ĐẠI - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

2.1. Lực lượng sản xuất và lực lượng sản xuất hiện đại

32
32

2.2. Vai trò và những yêu cầu cơ bản của người lao động trong lực lượng
sản xuất hiện đại

55

yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam

114

4.2. Những giải pháp cơ bản để phát triển nhân tố người lao động đáp ứng
yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam

120

KẾT LUẬN

137

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

140

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

142


DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

STT

TÊN BẢNG

TRANG


Cơ cấu lao động phân chia theo loại hình kinh tế thời
kỳ 2009 - 2014 (đơn vị tính: %)

109


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự phát triển của xã hội loài người
chính là sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội
trong lịch sử được đặc trưng bởi một phương thức sản xuất nhất định. Phương thức sản
xuất là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt của quá trình sản xuất vật chất là lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có quan
hệ biện chứng với nhau, tạo ra sự vận động và biến đổi của phương thức sản xuất. Mọi
sự biến đổi của phương thức sản xuất và sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội
xét đến cùng đều bắt nguồn từ sự thay đổi của lực lượng sản xuất, cho nên lực lượng
sản xuất là yếu tố quyết định mọi sự thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội.
Lực lượng sản xuất được cấu thành từ nhiều yếu tố, trong đó người lao động là
yếu tố quyết định. Mặc dù ngày nay, khoa học - công nghệ đã có bước phát triển mạnh
mẽ, khoa học đã từng bước trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp nhưng có thể khẳng
định,người lao động vẫn là yếu tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện
đại.
Kế thừa quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong quá trình
xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta cũng nhấn mạnh trước hết đến sự phát triển lực
lượng sản xuất để tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức
và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã đưa ra quan điểm: “Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản
xuất" [29, tr.30-31]; nhất là "phát triển lực lượng sản xuất hiện đại” [31, tr.27]

tiên hàng đầu là phát triển nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại,
tạo ra bước đột phá để thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững cho đất nước.
Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi chọn vấn đề “Nhân tố người lao động trong phát
triển lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu trong
luận án tiến sĩ triết học.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng nhân tố người lao động trong lực lượng sản
xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay, luận án đề xuất những quan điểm, giải pháp cơ bản
để phát triển nhân tố người lao động đáp ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại ở
Việt Nam trong những năm tiếp theo.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu


3

Để đạt được được mục tiêu trên, luận án thực hiện được những nhiệm vụ cụ thể
sau:
Một là, tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến lực lượng sản
xuất hiện đại, nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại;
Hai là, làm rõ khái niệm, biểu hiện của lực lượng sản xuất hiện đại; vai trò và
yêu cầu của nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại;
Ba là, phân tích thực trạng của nhân tố người lao động trong phát triển lực
lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay trên cả hai phương diện là ưu điểm và hạn chế;
đồng thời chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đó;
Bốn là, đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản để phát triển nhân tố
người lao động nhằm đáp ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam
trong những năm tiếp theo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
5.1. Ý nghĩa khoa học của luận án
- Luận án góp phần nghiên cứu sâu thêm, làm phong phú thêm một số vấn đề lý
luận về lực lượng sản xuất. Đặc biệt, luận án làm rõ thêm vai trò của nhân tố người lao
động trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng để làm tài liệu tham khảo
cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy triết học Mác - Lênin nói riêng và các ngành
khoa học xã hội khác nói chung.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần làm sáng tỏ thêm thực trạng của nhân tố người lao động
trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay; đặc biệt là góp phần làm rõ hơn những
ưu điểm và hạn chế của người lao động là công nhân trong các doanh nghiệp, các cơ
sở sản xuất kinh doanh ở nước ta trong thời gian qua.
- Luận án cũng có giá trị tham khảo trong việc hoạch định chính sách về phát
triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam nói chung và phát triển lực lượng sản xuất ở các tỉnh,
thành trong cả nước nói riêng.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 4
chương với 11 tiết.


5

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Lực lượng sản xuất và nhân tố người lao động trong phát triển lực lượng sản
xuất vốn là một trong những vấn đề rất cơ bản của triết học Mác - Lênin. Vì vậy, cho
đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Liên quan đến nội dung của
luận án, tác giả đã tổng quan những tài liệu đó thành ba nhóm chính theo bố cục ba
chương của luận án.

xuất mới không chỉ bao hàm khoa học công nghệ mà còn bao hàm cả các ngành khoa
học xã hội. Những đặc điểm trên đã cho thấy sự khác biệt rất lớn của lực lượng sản
xuất mới so với lực lượng sản xuất trước kia. Từ đó, các tác giả khẳng định, tri thức
chính là sức mạnh nòng cốt của lực lượng sản xuất mới:
Vì tri thức có vai trò quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế nên lực lượng sản
xuất mới không chỉ có mặt trong những ngành sản xuất mới xuất hiện mà
nó còn lan tỏa, cải tạo, đổi mới các ngành sản xuất cũ của nền kinh tế. Như
vậy, lực lượng sản xuất mới cuối cùng sẽ thay thế hoàn toàn lực lượng sản
xuất cũ, qua một quá trình phát triển biện chứng, có sử dụng triệt để những
tiền đề mà lực lượng sản xuất cũ tạo ra [17, tr.145-146].
Từ những phân tích chung đó, trong chương 18 với tên gọi: “Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta”, các tác giả đã khẳng định
đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức của Đảng ta
hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, góp phần vào mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để thực hiện được mục tiêu
đó cần thiết phải phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại.
Cuốn sách của các tác giả là một công trình khoa học khá công phu đã cung cấp
những vấn đề lý luận rất quan trọng và mới mẻ về lực lượng sản xuất hiện đại, diện
mạo của lực lượng sản xuất hiện đại, vai trò của lực lượng sản xuất hiện đại đối với sự
phát triển xã hội. Tuy nhiên, cần phân tích thêm những nhận định về khoa học trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Vấn đề này sẽ được tác giả trình bày trong nội dung
luận án.
Bài viết: “Những đặc điểm của hệ thống công nghệ mới và lực lượng sản xuất
mới tác động quyết định đến quá trình hình thành kinh tế tri thức”, của tác giả Vũ Đình
Cự [16] đã đưa ra những quan niệm về lực lượng sản xuất mới. Theo tác giả, hệ thống
công nghệ mới thực chất chính là hệ thống công nghệ cao được hình thành từ giữa thế
kỷ XX đã có tác động to lớn đến sự biến đổi của lực lượng sản xuất, cho ra đời của lực
lượng sản xuất mới. Tác giả đã đưa ra quan niệm về lực lượng sản xuất mới như sau:



của con người không bị giới hạn bởi những khuôn khổ chật hẹp trong một vùng, một
lãnh thổ, một quốc gia nhất định mà luôn có tính xã hội hóa, tính quốc tế rất cao. Vì
vậy, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, muốn phát triển lực


8

lượng sản xuất theo hướng hiện đại, muốn gia nhập vào quá trình toàn cầu hóa lực
lượng sản xuất cần chú trọng đến việc phát huy nguồn lao động có tri thức, có trình độ
tay nghề cao.
Như vậy, trong bài viết, tác giả không chỉ đưa ra nội hàm khái niệm lực lượng
sản xuất mới hay lực lượng sản xuất hiện đại mà còn chỉ ra tác động của lực lượng sản
xuất mới đối với sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như với quá trình toàn cầu hóa kinh
tế, toàn cầu hóa lực lượng sản xuất.
Trong bài viết: “Để khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt trong
việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại” [72], tác giả Đoàn Công Mẫn trình bày vai
trò to lớn của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển của xã hội nói chung và lực
lượng sản xuất nói riêng: “Chính sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất
mới đã từng bước đưa nhân loại tiến vào nền kinh tế tri thức ở mức độ khác nhau,
trong đó động lực chủ yếu làm nên sự tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của xã hội là
khoa học và công nghệ” [72, tr.29].
Trong phần hai của bài viết, tác giả đã phân tích thực trạng phát triển lực lượng
sản xuất ở nước ta hiện nay. Theo tác giả, lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay còn
chậm phát triển và không đều, chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ của thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những hạn chế đó được thể hiện trên cả ba
phương diện là người lao động, tư liệu sản xuất và việc ứng dụng khoa học - công
nghệ, trong đó quan trọng nhất là những hạn chế về khoa học - công nghệ. Bởi vậy, để
tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ nhằm thúc đẩy lực lượng sản
xuất lên trình độ hiện đại, cần có một giải pháp đồng bộ, toàn diện và phù hợp với thực
tiễn sản xuất. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra bảy giải pháp để phát triển khoa học và

phục tự nhiên mà còn phải thích nghi với giới tự nhiên nên khi đề cập đến phạm trù
lực lượng sản xuất mà chỉ nhấn mạnh đến hoạt động chinh phục, xem nhẹ hoạt động
thích nghi là phiến diện. Tác giả nhấn mạnh thêm: “Quan niệm như vậy không chỉ hạn
chế nội hàm của khái niệm lực lượng sản xuất mà còn khó dung nạp với sự phát triển
bền vững, phát triển liên tục” [90, tr.10]. Hệ quả của quan điểm này theo tác giả là
“con người tìm mọi cách chinh phục, khai thác sao cho được nhiều nhất của cải từ
thiên nhiên, bất chấp mọi hậu quả” [90, tr.10].
Từ sự phê phán đó, theo tác giả, cần có những thay đổi trong quan niệm về phát
triển lực lượng sản xuất. Tác giả cho rằng, nếu con người biết chung sống hòa bình với
giới tự nhiên, con người sẽ được hưởng nhiều lợi ích từ nó, sẽ có những hiểu biết sâu
sắc hơn về giới tự nhiên. Do đó, khả năng chung sống hòa bình với thiên nhiên là một
phương diện có ý nghĩa rất quan trọng trong quan niệm về lực lượng sản xuất. Trên cơ
sở đó, tác giả đã đưa ra quan niệm mới về lực lượng sản xuất: “Thuật ngữ “lực lượng


10

sản xuất” là khái niệm thể hiện không chỉ hoạt động đấu tranh mà còn thể hiện sự kết
hợp hài hòa giữa con người và giới tự nhiên” [90, tr.9].
Tác giả đã chỉ ra trong lịch sử loài người đã và đang trải qua ba giai đoạn phát
triển của lực lượng sản xuất. Giai đoạn 1: Lực lượng sản xuất phát triển một cách tự
phát. Đây là giai đoạn mà kinh nghiệm sản xuất trực tiếp của người lao động sinh ra kỹ
thuật. Nó xảy ra trước cách mạng công nghiệp. Giai đoạn 2: Lực lượng sản xuất phát
triển bằng mọi giá. Đây là giai đoạn sau cách mạng công nghiệp, con người đã tận
dụng những thành quả của khoa học và kỹ thuật để khai thác ngày càng nhiều tự nhiên
nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Giai đoạn 3: Lực lượng sản xuất phát triển một cách
có chọn lọc. Do mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ngày càng xung khắc, biểu
hiện qua những thiên tai, lũ lụt nên con người từng bước điều chỉnh hoạt động sản xuất
vật chất của mình, chuyển hướng sang phát triển lực lượng sản xuất một cách có chọn
lọc, tránh làm tổn hại đến tự nhiên. Theo tác giả, đây là giai đoạn mà loài người đã và

hóa thành các phương tiện kỹ thuật và công nghệ. Kỹ thuật, công nghệ hiện đại
với tư cách là phần vật chất trong thành phần của lực lượng sản xuất dù năng
động và cách mạng đến mấy chẳng qua cũng chỉ là sản phẩm của bàn tay và
khối óc của con người và phải chịu sự điều khiển giám sát của con người [20,
tr.50].
Nhận định trên đã cho thấy vai trò to lớn của con người trong bối cảnh hiện nay.
Điều đó cũng cho thấy, khoa học muốn trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp phải thông
qua hoạt động của con người.
Trong cuốn sách: Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất
ở Việt Nam hiện nay [76], tác giả Phạm Công Nhất cũng đã trình bày những vấn đề cơ bản
về vai trò của nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam. Trong
chương 1, tác giả đã đưa ra khái niệm nhân tố con người:
Nhân tố con người là tổng thể các yếu tố có liên quan đến con người, là sự
thống nhất biện chứng giữa các mặt chủ quan và khách quan để tạo nên năng
lực, phẩm chất và trí tuệ của con người được hình thành và phát huy tác dụng
vào trong thực tiễn sản xuất vật chất hay quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi cộng đồng, quốc gia trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [76,
tr.25].
Từ khái niệm đó, tác giả đã chỉ ra bốn đặc điểm cơ bản của nhân tố con người
trong lực lượng sản xuất. Đứng trên lập trường mácxít, tác giả tiếp tục khẳng định vai trò
quyết định của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất. Theo tác giả, để thúc đẩy sự
phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, kể cả lực lượng sản xuất hiện đại thì yếu tố có
tính quyết định không phải là tư liệu sản xuất, cũng không phải là khoa học - kỹ thuật mà


12

chính là yếu tố con người. Trong thời đại ngày nay, nói đến nhân tố con người trong phát
triển sản xuất là nói tới những người công nhân, những người lao động. Ngoài ra, tác giả
còn phân tích những yếu tố tác động đến việc phát huy nhân tố con người trong lực lượng

13

từng bước được thay thế bằng lao động trí tuệ nhưng lao động cơ bắp không mất đi; yếu
tố trí tuệ quan trọng hơn yếu tố vật liệu tự nhiên trong lao động sản xuất; lao động quản lý
dần chiếm ưu thế so với lao động sản xuất trực tiếp. Từ ba xu thế trên, có thể nhận thấy,
trong nền sản xuất hiện đại, yếu tố tri thức, trí tuệ của người lao động giữ vai trò và vị trí
chi phối. Đây cũng chính là điểm khác biệt cơ bản của nền kinh tế tri thức so với những
nền kinh tế trước đó trong lịch sử. Vì vậy, lực lượng sản xuất hiện đại và kinh tế tri thức
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong Luận án Tiến sĩ Triết học: Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với
vấn đề đào tạo người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
hiện nay (Qua thực tiễn đồng bằng sông Cửu Long [37], tác giả Trần Thanh Đức cũng bàn
về nhân tố con người trong lực lượng sản xuất. Theo tác giả:
Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất không chỉ là bộ phận cấu thành
mà còn giữ vai trò trung tâm trong lực lượng sản xuất. Chính mặt hoạt động
của nhân tố con người tạo ra phương thức kết hợp tốt nhất giữa các yếu tố cấu
thành của lực lượng sản xuất, qua đó, nó giữ vai trò quyết định đối với sự phát
triển của lực lượng sản xuất [37, tr.46].
Như vậy, tác giả đã khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người trong
phát triển lực lượng sản xuất. Trong luận án, tác giả đã đi sâu phân tích sự tác động của
nhân tố con người với những yếu tố cấu thành khác của lực lượng sản xuất như nhân tố
con người với tư liệu sản xuất, nhân tố con người với cách mạng khoa học - công nghệ.
Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra những yêu cầu đào tạo người lao động Việt Nam nhằm phát
triển nhân tố con người trong lực lượng sản xuất của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Những yêu cầu cơ bản đó là: Người lao động cần phải có kiến thức, kỹ năng
nghề nghiệp cao và tư duy mới - tư duy sáng tạo và biện chứng; người lao động phải có
tính tự chủ và sáng tạo; người lao động phải có khả năng thích nghi; người lao động phải
có văn hóa, có những giá trị nhân bản, nhân đạo, nhân văn; người lao động phải có thể lực
tốt . Đây chính là những yêu cầu khá toàn diện và cần thiết của người lao động để đáp ứng
nhu cầu của phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện

hệ xã hội nhất định. Cho nên cái quyết định trình độ của lực lượng sản xuất
không phải là chất của công cụ sản xuất mà phải là sự tổng hợp của nhiều yếu
tố, trong đó trình độ phát triển của con người là quyết định nhất [91, tr.40].
Quan điểm này cùng những tranh luận của tác giả Dương Văn Thịnh với tác giả
Nguyễn Chí Dũng trong bài viết trên đã giúp tác giả luận án hiểu rõ hơn về tính khoa học
trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác khi bàn đến vai trò của nhân tố
người lao động trong lực lượng sản xuất.


15

Từ việc tổng quan những công trình nghiên cứu trên cho thấy, có khá nhiều công
trình nghiên cứu bàn đến lực lượng sản xuất nói chung, lực lượng sản xuất hiện đại nói
riêng và nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại. Những công trình đó
đã cung cấp cho tác giả luận án những ý nghĩa nhất định trong việc phân tích những vấn
đề lý luận về lực lượng sản xuất hiện đại và nhân tố người lao động trong phát triển lực
lượng sản xuất hiện đại.
1.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG NGƯỜI LAO
ĐỘNG TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngoài những công trình nghiên cứu về lực lượng sản xuất hiện đại, còn có những
công trình nghiên cứu đi sâu phân tích thực trạng của nhân tố người lao động trong phát
triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay được luận án chọn để tổng quan. Đó là
những công trình tiêu biểu sau:
Trong cuốn sách Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt
Nam hiện nay [20], tác giả Hồ Anh Dũng đã dành hầu hết chương 2 để phân tích những
ưu thế, hạn chế, và xu hướng phát triển của con người lao động Việt Nam. Theo tác giả,
ưu điểm nổi bật của con người lao động Việt Nam là có số lượng đông đảo, chủ yếu là lao
động trẻ; có đức tính cần cù, chăm chỉ, có khả năng thích ứng nhanh chóng với sự biến
đổi của cơ chế thị trường; trình độ của người lao động đang ngày một tăng lên. Tuy nhiên,

một lợi thế lớn về khả năng cung ứng nguồn nhân lực trong phát triển lực lượng sản xuất
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, dân số đông
trong điều kiện ở một quốc gia còn nghèo như nước ta cũng tạo ra những sức ép không
nhỏ về công ăn việc làm. Ngoài ra, theo tác giả, việc phân bố lao động ở nước ta chưa hợp
lý vì lao động ở khu vực nông thôn vẫn chiếm tỉ lệ lớn. Điều này cho thấy cơ cấu lao động
hiện nay của nước ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Về chất lượng nguồn nhân lực, tác giả đánh giá cao vai trò của
giáo dục và đào tạo trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ở Việt Nam, “những
thành tựu đạt được trong quá trình giáo dục, đào tạo đã nâng cao trình độ văn hóa, chuyên
môn kỹ thuật nguồn nhân lực. Đó là lực lượng có khả năng tiếp thu nhanh khoa học công nghệ hiện đại, có trình độ và kỹ năng khéo léo để sử dụng trang thiết bị kỹ thuật tiên
tiến” [76, tr.127]. Tuy nhiên, cũng theo tác giả Phạm Công Nhất, chất lượng của nguồn
nhân lực nước ta chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động phát triển, đặc biệt
tại các vùng kinh tế trọng điểm và các khu độ thị tập trung, thiếu nhiều lao động có tay
nghề, có chuyên môn giỏi, việc đào tạo nghề của người lao động còn nhiều bất cập. Từ
đó, tác giả phân tích những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó và những vấn đề đặt
ra với việc phát triển nhân tố con người ở Việt Nam hiện nay. Có thể nói, ở chương 2, tác
giả đã cung cấp một bức tranh khá toàn cảnh về thực trạng của việc phát huy nhân tố con


17

người ở Việt Nam. Theo tác giả, đó là một việc làm cần thiết vì “cho phép chúng ta có
thêm cơ sở khoa học để có thể đề ra những phương hướng và giải pháp phù hợp nhằm
phát huy có hiệu quả nhân tố con người trong việc tiếp tục phát triển lực lượng sản xuất
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thời gian tới” [76, tr.181].
Trong đề tài khoa học cấp Bộ: “Một số định hướng chuẩn bị nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ
XXI” [88], các tác giả cũng đã chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của nguồn nhân lực Việt
Nam. So với các nước trên thế giới, Việt Nam có nguồn nhân lực trẻ. Điều đó tạo ra
những ưu thế về sức khỏe, trình độ văn hóa, khả năng tiếp thu nhanh những kiến thức

Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan… nhằm chỉ ra những hạn chế về trí lực của nguồn nhân
lực Việt Nam. Những đánh giá của tác giả có giá trị tham khảo nhất định đối với việc
đánh giá chất lượng nguồn lao động của Việt Nam.
Ngoài những công trình nghiên cứu viết về thực trạng của nguồn nhân lực nói
chung còn có một số bài viết bàn về thực trạng của nguồn nhân lực trong những ngành cụ
thể. Trong bài viết “Những khó khăn trong hoạt động đào tạo nghề cho công nhân kỹ
thuật tại doanh nghiệp” [3], tác giả Nguyễn Vân Thùy Anh đã chỉ ra một thực tế phổ biến
trong các doanh nghiệp sản xuất ở nước ta hiện nay là hầu hết công nhân không có trình
độ cơ bản, không đáp ứng được yêu cầu sản xuất của doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn về nguồn cung công nhân kỹ
thuật từ lực lượng học sinh tốt nghiệp các trường dạy nghề. Do hệ thống giáo
trình và máy móc thiết bị phục vụ thực hành lạc hậu nên một bộ phận học sinh
các trường dạy nghề có tay nghề yếu, không đáp ứng được yêu cầu sản xuất,
đặc biệt là trong những ngành công nghệ cao, sản phẩm thay đổi nhanh chóng
[3, tr.9].
Nhận định trên không những chỉ ra hạn chế của nguồn lao động công nhân trong
các doanh nghiệp ở nước ta mà cho thấy nguyên nhân của những hạn chế trên là do công
tác đào tạo nghề trong các trường dạy nghề còn nhiều bất cập. Vì vậy, tác giả cho rằng ở
nhiều doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay, khi tuyển dụng công nhân, họ không phân
biệt lao động phổ thông hay lao động đã được đào tạo vì sau đó họ đều phải tiến hành tự
đào tạo theo yêu cầu công việc của mình. Đây cũng là một thực tiễn cho thấy công tác đào
tạo nghề cho lao động ở nước ta chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của xã hội.
Ngoài những công trình nghiên cứu bàn về nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp
còn có bài viết bàn về thực trạng của nguồn nhân lực trình độ Đại học ở Việt Nam hiện
nay. Trong bài viết “Nguồn nhân lực trình độ Đại học ở Việt Nam - Thực trạng và một số
kiến nghị” [73], tác giả Phạm Văn Nam đã chỉ ra những bất cập về cơ cấu nhân lực trình
độ Đại học trong nhóm cơ cấu nhân lực có trình độ chuyên môn ở nước ta hiện nay bởi


19

người lao động có tri thức, có tay nghề cao thì chúng ta không thể thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [37, tr.110]. Đây là một nhận định thỏa



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status