HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ CHIÊN
NHÂN TỐ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÁT TRIỂN
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT HIỆN ĐẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số: 62 22 03 02
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. GS.TS. Nguyễn Hùng Hậu
2. PGS,TS. Đặng Quang Định
Phản biện 1: ..................................................................
...............................................................
Phản biện 2: ..................................................................
...............................................................
Phản biện 3: ..................................................................
“điểm nghẽn” đang cản trở sự phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta nói riêng và
phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Đại hội XI xác định phát triển, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu
tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Quan điểm này tiếp tục được
Đại hội XII nhấn mạnh thêm thông qua việc thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính
sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Trong những năm qua, mặc dù đội ngũ người lao động tham gia vào quá trình
sản xuất vật chất ở nước ta ngày càng tăng lên về số lượng; được cải thiện về thể lực;
nâng cao về trình độ, tay nghề, có đóng góp lo lớn vào sự nghiệp xây dựng và phát
triển đất nước. Tuy nhiên, so với yêu cầu của nền sản xuất hiện đại, người lao động ở
nước ta còn nhiều bất cập. Nhìn chung, sức khỏe, thể lực còn kém; trình độ, tay nghề
2
còn thấp; ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức đạo đức nghề nghiệp, ý thức bảo vệ môi
trường sinh thái chưa cao, tính tích cực trong lao động sản xuất chưa được phát huy
một cách tối đa… Những hạn chế đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển
của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam như nền kinh tế chủ yếu vẫn phát triển
theo chiều rộng, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố về vốn, tài
nguyên, lao động trình độ thấp, chưa dựa vào tri thức và khoa học công nghệ, thiếu
nhiều lao động có kỹ năng, năng suất lao động thấp, tốc độ phát triển kinh tế chưa
cao, đời sống nhân dân chậm được cải thiện. Ngoài ra, những hạn chế đó còn tạo ra
những rào cản đáng kể khi người lao động nước ta tham gia vào thị trường lao động
thế giới cũng như các nước trong cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Do vậy, để hiện
đại hóa nền sản xuất xã hội, một trong những vấn đề cốt lõi nhất, cần được ưu tiên
hàng đầu là phát triển nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại, tạo
ra bước đột phá để thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững cho đất nước.
Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi chọn vấn đề “Nhân tố người lao động trong phát
- Phạm vi đối tượng nghiên cứu: Luận án giới hạn trong phạm vi khảo sát,
phân tích thực trạng người lao động là công nhân trong các doanh nghiệp, các cơ sở
sản xuất kinh doanh vì lực lượng lao động này chiếm tỷ lệ lớn và cũng phản ánh nét
đặc trưng cơ bản về trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay.
- Phạm vi thời gian và không gian nghiên cứu: nhân tố người lao động ở Việt
Nam từ khi đổi mới (năm 1986) đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về lực lượng sản
xuất, về vai trò của nhân tố người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất. Luận
án cũng dựa trên những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính
sách, pháp luật của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong việc phát triển nhân tố
con người nói chung và phát triển nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất
hiện đại. Ngoài ra, luận án cũng kế thừa giá trị của những công trình nghiên cứu
trước đó những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, như phương pháp trừu tượng hóa
4
khoa học, phương pháp lôgíc - lịch sử... Ngoài ra, luận án còn sử dụng các phương
pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê... để triển khai các nội dung của luận án.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
5.1. Ý nghĩa khoa học của luận án
- Luận án góp phần nghiên cứu sâu thêm, làm phong phú thêm một số vấn đề
lý luận về lực lượng sản xuất. Đặc biệt, luận án làm rõ thêm vai trò của nhân tố người
lao động trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại.
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng để làm tài liệu tham
đã có những bước phát triển đáng kể, theo hướng hiện đại. Vì vậy, gần đây có một số
công trình bàn về lực lượng sản xuất hiện đại, lực lượng sản xuất mới. Trong giới hạn
của vấn đề nghiên cứu, luận án không tổng quan những công trình nghiên cứu về lực
lượng sản xuất nói chung mà chỉ đi sâu tổng quan những công trình nghiên cứu về
lực lượng sản xuất hiện đại, lực lượng sản xuất mới. Dưới góc độ đó, có thể kể đến
những công trình nghiên cứu tiêu biểu là: Cuốn sách Lực lượng sản xuất mới và kinh
tế tri thức do hai tác giả Vũ Đình Cự, Trần Xuân Sầm chủ biên (NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2009); bài viết: “Những đặc điểm của hệ thống công nghệ mới và lực
lượng sản xuất mới tác động quyết định đến quá trình hình thành kinh tế tri thức” của
tác giả Vũ Đình Cự, (Tạp chí Lý luận chính trị, số 2, 200); bài viết: “Để khoa học và
công nghệ thực sự là động lực then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện
đại” tác giả Đoàn Công Mẫn (Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 5/2011)… Trong các công
trình này, các tác giả đã bàn đến vai trò của khoa học - công nghệ trong phát triển lực
lượng sản xuất hiện đại; đồng thời chỉ ra những biểu hiện của lực lượng sản xuất hiện
đại.
Ngoài những quan điểm về lực lượng sản xuất mới, lực lượng sản xuất hiện
đại, có tác giả cũng cho rằng cần có những quan niệm mới về lực lượng sản xuất để
6
bắt nhịp với sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thời đại ngày nay. Tiêu biểu là
tác giả Lý Hân trong bài viết: “Quan niệm mới về phát triển lực lượng sản xuất”
(Thông tin những vấn đề lý luận, số 19/2008). Theo tác giả, cần có những thay đổi
trong quan niệm về phát triển lực lượng sản xuất. Tác giả cho rằng, nếu con người
biết chung sống hòa bình với giới tự nhiên, con người sẽ được hưởng nhiều lợi ích từ
nó, sẽ có những hiểu biết sâu sắc hơn về giới tự nhiên. Do đó, khả năng chung sống
hòa bình với thiên nhiên là một phương diện có ý nghĩa rất quan trọng trong quan
niệm về lực lượng sản xuất.
1.1.2. Những nghiên cứu lý luận liên quan đến nhân tố người lao động trong
như: bài viết “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức” của tác giả Nguyễn Văn Sơn (Tạp
chí Triết học, số tháng 9, năm 2007); bài viết “Những khó khăn trong hoạt động đào tạo
nghề cho công nhân kỹ thuật tại doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Vân Thùy Anh ( Tạp
chí Lao động và xã hội, số 438, năm 2012); bài viết “Nguồn nhân lực trình độ Đại học ở
Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị” của tác giả Phạm Văn Nam (Tạp chí Lao
động và Xã hội, số 440, năm 2012)… Trong những công trình trên, các tác giả đã chỉ ra
những ưu điểm của người lao động ở nước ta như có tinh thần cần cù, chịu khó; có khả
năng thích nghi nhanh với những biến đổi của sản xuất nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều
hạn chế cả về thể lực, trình độ chuyên môn; tỉ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp chưa
đáp ứng được yêu cầu của sản xuất hiện đại…
1.3. Những nghiên cứu liên quan đến quan điểm và giải pháp nhằm phát
triển nhân tố người lao động đáp ứng nhu cầu của lực lượng sản xuất ở Việt
Nam hiện nay
Ngoài việc phân tích, đánh giá những ưu điểm, hạn chế của nhân tố người lao
động trong phát triển lực lượng sản xuất còn có một số công trình nghiên cứu đề xuất
những quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người nói
chung và nhân tố người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất nói riêng. Tiêu biểu
là những công trình như: Luận án Tiến sĩ Triết học năm 2014: Giáo dục - đào tạo với
việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay của tác giả
Lương Công Lý (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh); bài viết “Dạy nghề đáp
ứng nhu cầu của doanh nghiệp: Xu thế và giải pháp” của tác giả Nguyễn Hồng Minh
(Tạp chí Lao động và Xã hội, số 455, năm 2013); bài viết “Những khó khăn trong
hoạt động đào tạo công nhân kỹ thuật tại doanh nghiệp - Nguyên nhân và giải pháp”
8
của tác giả Nguyễn Vân Thùy Anh (Tạp chí Lao động và Xã hội, số 438, năm 2012);
“Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền
Trên cơ sở tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung của
luận án, tác giả nhận thấy có một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và làm sáng
tỏ thêm như sau:
Thứ nhất, cần phải phân tích rõ những đặc điểm của lực lượng sản xuất hiện
đại, đồng thời tiếp tục luận giải vai trò của nhân tố người lao động trong điều kiện
khoa học - công nghệ hiện đại đang góp phần quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất
phát triển. Từ đó, cũng cần chỉ ra những yêu cầu của nhân tố người lao động trong
phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, phân tích các yếu tố thể lực, trí lực, tâm lực của người lao động ở Việt
Nam đã đáp ứng ở mức độ nào yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại và chưa đáp
ứng như thế nào so với yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại.
Thứ ba, để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay cần có
những quan điểm và giải pháp có tính khả thi, gắn liền với thực tiễn hiện nay của
nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế
tri thức và hội nhập quốc tế.
Chương 2
NHÂN TỐ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
HIỆN ĐẠI - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
2.1. Lực lượng sản xuất và lực lượng sản xuất hiện đại
2.1.1. Lực lượng sản xuất
2.1.1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là một khái niệm trung tâm của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Việc nghiên cứu rõ nội hàm của khái niệm này là cơ sở để hiểu toàn bộ sự vận động
và phát triển của quá trình sản xuất vật chất trong lịch sử xã hội loài người. Vì vậy,
các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã sớm nghiên cứu về khái niệm lực lượng sản
xuất. Trong các tác phẩm của mình, mặc dù C.Mác không trực tiếp đưa ra khái niệm
lực lượng sản xuất nhưng nội hàm của khái niệm này đã được ông đề cập đến ngay từ
những tác phẩm đầu tay.
sản xuất mới, khác về chất so với lực lượng sản xuất trước kia - lực lượng sản xuất
hiện đại.
11
Có thể hiểu lực lượng sản xuất hiện đại là khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp
giữa người lao động ở trình độ cao với tư liệu sản xuất tiên tiến, dựa trên hệ thống
công nghệ hiện đại để tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, có tính bền
vững và thân thiện với môi trường sinh thái.
2.1.2.2. Đặc điểm của lực lượng sản xuất hiện đại
Lực lượng sản xuất hiện đại có những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, trong lực lượng sản xuất hiện đại, khoa học được thẩm thấu vào tất cả
các yếu tố cấu thành của nó, làm thay đổi đáng kể trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất so với những thời đại trước kia.
Thứ hai, trong lực lượng sản xuất hiện đại; trình độ, tri thức trở thành yếu tố
quan trọng nhất của người lao động. Nó được kết tinh ngày càng nhiều vào các sản
phẩm lao động, làm cho những sản phẩm đó có giá trị gia tăng lớn.
Thứ ba, trong lực lượng sản xuất hiện đại có sự phân công lao động xã hội
ngày càng hợp lý và khoa học hơn. Sự phân công lao động tất yếu dẫn đến sự chuyển
dịch cơ cấu lao động theo hướng ngày càng hợp lý hơn trong nền sản xuất hiện đại.
Thứ tư, lực lượng sản xuất hiện đại có tính toàn cầu hoá vì đầu ra của lực lượng
sản xuất hiện đại không còn là sản phẩm riêng của lao động ở một quốc gia nữa mà là
sản phẩm mang tính toàn cầu.
2.2. Vai trò và những yêu cầu cơ bản của nhân tố người lao động trong
lực lượng sản xuất hiện đại
2.2.1. Vai trò của nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại
Người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại là những người tham gia vào
quá trình sản xuất vật chất với trình độ cao; có khả năng kết hợp với công nghệ tiên
tiến để tạo ra những sản phẩm có hàm lượng trí tuệ lớn, có tính bền vững và thân
tinh ở sản phẩm ngày càng tăng. Đây cũng là tiêu chí đánh giá tính hiện đại của người
lao động trong lực lượng sản xuất.
2.2.2. Những yêu cầu cơ bản của người lao động trong lực lượng sản xuất
hiện đại
Để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, người lao động với tính cách là nhân
tố quan trọng nhất của quá trình sản xuất vật chất cần có những yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại cần có thể lực tốt,
sức khỏe dồi dào, dẻo dai để có thể chịu áp lực cao, cường độ lao động lớn trong
13
công việc, thích ứng với sự thay đổi liên tục về nghề nghiệp và có khả năng thu thập,
xử lý thông tin một cách nhanh nhạy.
Thứ hai, người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại cần có tri thức, trí
tuệ dồi dào; có khả năng lao động sáng tạo; chủ động và tích cực ứng dụng những
thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại vào sản xuất.
Thứ ba, ngoài thể lực và trí lực, người lao động trong lực lượng sản xuất hiện
đại cần có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có đạo đức và văn hóa nghề nghiệp, có ý thức
trách nhiệm với việc bảo vệ môi trường sinh thái.
2.3. Những yếu tố chủ yếu tác động đến người lao động trong quá trình
xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay
2.3.1. Tác động của giáo dục - đào tạo đến người lao động trong quá trình
xây dựng lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay
Giáo dục - đào tạo có tác động trực tiếp đến việc nâng cao dân trí, trình độ, tay
nghề, kỹ năng cho người lao động. Để trở thành người lao động hiện đại thì không
thể không trải qua quá trình đào tạo. Giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề
nói riêng góp phần quan trọng trong việc trang bị cho người lao động những tri thức
về nghề nghiệp, kỹ năng trong lao động sản xuất, kỹ năng về khoa học - công nghệ để
họ có thể vận hành được những máy móc hiện đại. Ngoài những tri thức truyền thống
môn cao. Điều này cũng đặt ra một thách thức nếu người lao động không có trình độ
chuyên môn, không có kỹ năng lao động, không có ý thức tự đổi mới, phát huy tinh
thần tích cực, sáng tạo thì tất yếu sẽ trở nên lạc hậu, không bắt nhịp được với yêu cầu
của nền sản xuất hiện đại. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại cũng đặt ra
yêu cầu nếu các quốc gia không ưu tiên phát triển nhân tố người lao động theo hướng
chuyên sâu tất yếu sẽ không thể tạo ra những lợi thế có tính cạnh tranh.
2.3.4. Tác động của hợp tác quốc tế đến người lao động trong quá trình xây
dựng lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay
Hợp tác quốc tế về lao động là quá trình liên kết, hợp tác trên phạm vi khu vực
và thế giới về việc đào tạo, sử dụng lao động. Đây là một xu hướng tất yếu trong quá
trình toàn cầu hóa hiện nay. Hợp tác quốc tế về lao động tác động đến việc tạo ra một
đội ngũ những người lao động trong lực lượng sản xuất có những phẩm chất tiên tiến,
có khả năng thích ứng với nhiều doanh nghiệp, nhiều cơ sở sản xuất ở các quốc gia
khác nhau, đồng thời góp phần tác động đến sự phân công lao động quốc tế một cách
hợp lý hơn. Bên cạnh đó, khi tham gia vào thị trường xuất khẩu lao động, trình độ tay
nghề và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động cũng ngày càng được nâng cao.
Ngoài ra, hợp tác quốc tế về lao động cũng góp phần đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật,
công nghệ mới vào sản xuất.
15
Chương 3
NHÂN TỐ NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
HIỆN ĐẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG
NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN
3.1. Thực trạng của nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện
đại ở Việt Nam hiện nay
3.1.1. Những thay đổi tích cực của nhân tố người lao động trong lực lượng
sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay
bền, cường độ lao động cao, sự nhanh nhạy cùng những biến động của nền sản xuất
hiện đại.
Thứ hai, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, chất lượng đào tạo chưa cao so
với các nước trong khu vực và trên thế giới, trình độ của người lao động phần lớn
chưa đáp ứng được sự thay đổi về tư liệu sản xuất. Trong khi các loại máy móc theo
công nghệ tiên tiến liên tục được tạo ra và đưa vào sản xuất nhưng trình độ, tay nghề
của người lao động nước ta lại chậm biến đổi; không được đào tạo bài bản để tiếp
nhận sự chuyển giao công nghệ nên chưa thể tận dụng hết những lợi thế của công
nghệ hiện đại.
Thứ ba, tính kỷ luật, ý thức đạo đức nghề nghiệp, ý thức bảo vệ môi trường
sinh thái... của người lao động Việt Nam còn nhiều hạn chế. Do đó, các sản phẩm
được tạo ra chưa có tính cạnh tranh cao trên thị trường, chưa có giá trị gia tăng lớn.
3.2. Nguyên nhân chủ yếu của những mặt tích cực và hạn chế ở người lao
động trong lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay
3.2.1. Nguyên nhân chủ yếu của những mặt tích cực ở người lao động trong
lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay
Những thay đổi tích cực của người lao động Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới
bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ yếu như sau:
3.2.1.1. Đảng, Nhà nước có những chủ trương đúng đắn trong phát triển nguồn
nhân lực nói chung và phát triển người lao động trong lực lượng sản xuất nói riêng.
Do đó, người lao động đã có thêm nhiều điều kiện để học tập, nâng cao trình độ, ứng
dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất.
3.2.1.2. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với hội nhập quốc tế đã
góp phần thay đổi tích cực người lao động trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam như
làm thay đổi cơ cấu kinh tế và cách thức tổ chức sản xuất của người lao động; làm
xuất hiện đội ngũ công nhân mới - công nhân trí thức với trình độ tay nghề cao, biết
17
18
3.2.2.4. Sự phân bố lao động, nhất là lao động đã qua đào tạo còn bất hợp lý
giữa các vùng, các địa phương. Ở các đô thị và các vùng có điều kiện phát triển về
kinh tế - xã hội, có trình độ dân trí cao, tập trung nhiều, thậm chí dư thừa lao động
có trình độ; còn ở các vùng sâu, vùng xa trình độ dân trí nhìn chung còn lạc hậu, lao
động chủ yếu chưa được đào tạo chuyên môn, kỹ thuật.
3.2.2.5. Hợp tác quốc tế về lao động còn nhiều bất cập bởi phần lớn lao động
Việt Nam xuất khẩu sang nước ngoài chủ yếu là lao động phổ thông, chưa có trình
độ, tay nghề. Công tác xuất khẩu lao động còn thiếu tính chuyên nghiệp, chưa xuất
phát từ nhu cầu của thị trường. Hơn nữa, ở nước ta cũng chưa có chính sách định
hướng, hỗ trợ cho người lao động sau khi xuất khẩu lao động, gây nên tình trạng lãng
phí trong việc sử dụng nguồn nhân lực “hậu xuất khẩu”.
Chương 4
NHỮNG QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ PHÁT TRIỂN
NHÂN TỐ NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA
LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT HIỆN ĐẠI Ở VIỆT NAM
4.1. Những quan điểm cơ bản để phát triển nhân tố người lao động đáp
ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam
4.1.1. Coi người lao động là trung tâm, có ý nghĩa quyết định trong lực
lượng sản xuất hiện đại.
Quan điểm này cần được hiểu ở cả hai khía cạnh: người lao động vừa là điểm
xuất phát của mọi chiến lược phát triển, vừa là mục tiêu của sự phát triển lực lượng
sản xuất hiện đại. Người lao động không chỉ là xuất phát điểm của quá trình sản xuất
mà còn phải là mục tiêu của sự phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Khi lực lượng
sản xuất phát triển, năng suất lao động nâng cao, cần hướng đến việc tiếp tục phát
triển người lao động cả về thể lực, sức khỏe; tri thức, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp
cũng như đời sống tinh thần để họ phát triển một cách toàn diện hơn. Điều đó giúp
Để nâng cao thể lực và sức khỏe cho người lao động, Nhà nước cần xây dựng
chiến lược cụ thể về dinh dưỡng để cải thiện tầm vóc của người Việt Nam, từng bước
thoát khỏi tình trạng “thấp bé nhẹ cân”; phát triển hệ thống bảo hiểm, chăm sóc sức
khỏe cho người lao động; tích cực hạn chế tỉ lệ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;
tăng cường việc quản lý, giám sát về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp đối với
các cơ sở sản xuất kinh doanh; tuyên truyền, giáo dục cho họ ý thức bảo vệ môi
20
trường sinh thái, môi trường làm việc để đảm bảo sức khỏe, tránh những bệnh nghề
nghiệp, bệnh do ô nhiễm môi trường gây nên.
4.2.2. Đẩy mạnh phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ để
không ngừng nâng cao trình độ, tay nghề của người lao động
Để thực sự tạo nên những bước chuyển biến về chất của nhân tố người lao
động đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất hiện đại, cần đổi mới nội dung, chương trình
giáo dục - đào tạo cho người lao động theo hướng thiết thực, tập trung vào những
năng lực chuyên môn then chốt; đổi mới phương pháp, cách thức đào tạo nghề cho
người lao động theo hướng không chỉ cần trang bị kiến thức cho người học mà còn
hướng họ đến việc tự học, tự sáng tạo, tự nghiên cứu, đánh giá hoạt động học tập của
mình dưới sự hướng dẫn, dẫn dắt của người thầy; tích cực áp dụng những tiến bộ của
khoa học - công nghệ vào sản xuất để nâng cao trình độ, tay nghề cho người lao
động; đào tạo nghề cho người lao động cần gắn với định hướng nghề nghiệp và giải
quyết việc làm.
4.2.3. Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi, phù hợp tạo điều kiện
phát huy tốt những khả năng của người lao động Việt Nam
Để phát triển nhân tố người lao động đáp ứng nhu cầu của lực lượng sản xuất
hiện đại, cần chú ý đến việc phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của họ thông
qua việc xây dựng chính sách tiền lương hợp lý đảm bảo lợi ích kinh tế cho người lao
động; xây dựng môi trường dân chủ hóa đời sống kinh tế; tích cực cải thiện điều kiện
của Việt Nam; mở rộng thị trường xuất khẩu lao động sang các nước có nền kinh tế
phát triển để nâng cao chất lượng nguồn lao động Việt Nam.
22
KẾT LUẬN
Sau hơn 30 năm đổi mới, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam
đã có những bước phát triển đáng kể so với trước kia: Công cụ lao động và đối tượng
lao động ngày càng được cải tiến; khoa học - công nghệ được ứng dụng ngày càng
nhiều vào quá trình sản xuất, góp phần đáng kể trong việc giải phóng sức lao động,
tăng năng suất lao động và hiện đại hóa nền sản xuất. Đặc biệt, với quan điểm: Coi
con người là trung tâm của mọi sự phát triển, Đảng ta đã rất chú trọng đến việc phát
triển nhân tố con người, coi việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực
chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá chiến lược quan trọng. Do đó, người lao
động Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể về thể lực, sức khỏe; trình độ,
tay nghề; khả năng thích nghi, tính sáng tạo... Tuy nhiên, nhìn chung, con người Việt
Nam nói chung và người lao động nước ta vẫn còn còn nhiều hạn chế cả về thể lực và
trình độ tay nghề; ý thức đạo đức nghề nghiệp, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái
chưa cao. Điều đó ảnh hưởng đáng kể đến độ bền, sự dẻo dai, tính chuyên nghiệp,
khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền sản xuất hiện đại ở người lao động
nước ta.
Xuất phát từ thực trạng trên, để tiếp tục phát triển nhân tố người lao động đáp
ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam trong những năm tiếp theo,
cần quán triệt những quan điểm cơ bản như: luôn coi người lao động là trung tâm
trong sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại; phát triển lực lượng sản xuất hiện
đại nói chung và phát triển nhân tố người lao động nói riêng gắn với chiến lược phát
triển bền vững; phát triển nhân tố người lao động theo hướng toàn diện cả thể lực, trí
lực, tâm lực; trong đó chú trọng hơn đến yếu tố trí lực để đáp ứng với yêu cầu của sản
xuất hiện đại. Để phát triển nhân tố người lao động đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất