TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
ĐINH THỊ NGA
ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
CÁC DI SẢN VĂN HÓA TỪ NĂM 1996
ĐẾN NĂM 2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
HÀ NỘI - 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====
ĐINH THỊ NGA
ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
CÁC DI SẢN VĂN HÓA TỪ NĂM 1996
ĐẾN NĂM 2010
KHÓA LUẬN TỐT NGHỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
GV. Phạm Văn Giềng
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của
giảng viên Phạm Văn Giềng. Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của
riêng tôi. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Tháng 05 năm 2013
Sinh viên
Đinh Thị Nga
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN
VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA TẠI TỈNH NAM ĐỊNH ............. 6
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ............................................................................. 6
1.1.1. Một số khái niệm về văn hóa ........................................................ 6
1.1.2. Khái niệm di sản văn hóa ............................................................ 11
1.1.3. Khái niệm bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa ...................... 13
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN ......................................................................... 14
1.2.1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của tỉnh Nam Định .................. 14
1.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định .............................. 16
1.2.3. Vai trò của di sản văn hoá đối với đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân tỉnh Nam Định ................................................................ 18
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH NAM ĐỊNH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC BẢO
TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA TỪ NĂM 1996 ĐẾN
NĂM 2010 ................................................................................................... 32
2.1. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC DI
SẢN VĂN HÓA TRƯỚC NĂM 1996 ..................................................... 32
2.1.1. Chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Nam Định về
của các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh. Bởi vậy, công tác bảo tồn và phát huy
các di sản văn hóa đang được đặt ra như một nhu cầu tất yếu trong đời sống
của đại đa số tầng lớp người dân mà Đảng bộ tỉnh Nam Định phải quan tâm,
chú trọng và tiến hành lãnh đạo để góp phần giữ gìn, kế thừa và phát huy
truyền thống đạo đức của dân tộc. Với những lí do trên tôi quyết định chọn đề
1
tài “Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các di
sản văn hóa từ năm 1996 đến năm 2010” để nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Vấn đề về công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa trong những
năm gần đây được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn. Trước tiên phải kể
đến cuốn sách “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc”
(1997) của Hoàng Vinh. Cuốn sách nêu những tiền đề lí luận về di sản văn
hoá dân tộc, thực trạng và một số kiến nghị về chính sách bảo tồn, phát triển
di sản văn hoá dân tộc ở Việt Nam.
Cuốn “Di sản văn hóa bảo tồn và trùng tu” (2002) của Hoàng Đạo Kinh
là cuốn sách tập hợp các bài tiểu luận về các di sản văn hóa Việt Nam và nêu
các định hướng bảo tồn và trùng tu các kiến trúc, các di sản văn hóa.
Cuốn “Một con đường tiếp cân di sản văn hóa” (2006) do Phạm Quang
Nghị chủ biên. Cuốn sách giới thiệu những bài viết về di sản văn hóa vật thể
và phi vật thể, bảo tàng và công tác bảo tồn, tôn tạo ở Việt Nam.
Cuốn “Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển” (2008) của Nguyễn Đình
Thanh đã tập hợp những bài nghiên cứu về hoạt động phát triển văn hóa ở
Việt Nam, một số kinh nghiệm bảo tồn di sản văn hóa của một số nước trên
thế giới.
Cuốn “Quản lý di sản văn hóa” (2012) do Th.S Nguyễn Thị Kim Loan
chủ biên đã nêu vai trò của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế xã hội, trình
bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa để làm rõ sự quan tâm của Đảng bộ đối
với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện nhiệm vụ Nghị quyết
Trung ương 5 (khóa VIII) đề ra là “xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà
bản sắc văn hóa dân tộc”.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích của đề tài, khóa luận phải giải quyết nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu về những di sản văn hóa của tỉnh Nam Định và vai trò của các
di sản văn hóa đó đối với đời sống. Từ đó làm rõ vai trò của công tác bảo tồn
và phát huy các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh.
3
Đi sâu và làm rõ quá trình triển khai Nghị quyết của Trung Đảng của
Đảng bộ tỉnh Nam Định trong việc lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy các
di sản văn hóa. Đánh giá những kết quả đạt được và chỉ ra những hạn chế
chưa được khắc phục, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để bảo tồn và phát
huy các di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu về đường lối của Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo công
tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa từ năm 1996 đến năm 2010.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Thời gian: Từ năm 1996 đến năm 2010
- Không gian: Tỉnh Nam Định
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên thế giới quan, phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đồng thời, sử
dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu sau: phân tích, tổng hợp,
so sánh, điều tra, khảo sát, thống kê, hệ thống hóa…
PHÁT HUY CÁC DI SẢN VĂN HÓA TẠI TỈNH NAM ĐỊNH
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Một số khái niệm về văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, hiện nay có khoảng 5000 khái niệm về văn hóa.
Ở phương Đông, từ văn hóa đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm.
Trong Chu Dịch (Trung Quốc) có viết “quan hồ nhân dĩ hóa thành thiên hạ”
nói đến phép tắc để giáo hóa làm cho thiên hạ được khai hóa. Người sử dụng
từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 77 – 6 trước công nguyên) thời
Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hóa con người – văn trị giáo
hóa. Văn hóa ở đây được dùng đối lập với vũ lực.
Theo ngôn ngữ của phương Tây, từ tương ứng với văn hóa của tiếng
Việt (culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức, kultura
trong tiếng Nga ...) những từ này lại có chung gốc Latinh là chữ cultus animi
là trồng trọt tinh thần. Ban đầu, từ “cult” có nghĩa là canh tác đất đai và gieo
trồng thực vật. Sau này với sự phát triển của lịch sử thì nó mang ý nghĩa mới,
đó là sự mở rộng kiến thức, bồi dưỡng về thể chất và tinh thần hay còn gọi là
“trồng trọt tinh thần”. Sang thế kỉ XVII - XVIII thuật ngữ “văn hóa” có nghĩa
là “canh tác tinh thần”, bên cạnh nghĩa gốc là canh tác nông nghiệp cho đến
thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hóa” được các nhà nhân loại học phương Tây sử
dụng như một danh từ chính.
Năm 1871, E.B. Tylor cho rằng: Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa
rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo
đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người
6
chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội. Theo E.B. Tylor thì văn hóa
có khả năng xây dựng được nền móng cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tất
cả chỉ là tùy ở lực lượng văn hóa của giai cấp vô sản và của đội tiền phong
của nó”. [15;74]
Xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến có tính chất xã hội chủ nghĩa, thấm
nhuần nội dung và hình thức dân tộc, gắn với những yêu cầu của thời đại mới,
thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ, đồng thời là một mục
tiêu quan trọng của cách mạng tư tưởng và văn hóa. Nền văn hóa đó được
Lênin gọi là văn hóa vô sản, văn hóa xã hội chủ nghĩa kết hợp được truyền
thống với hiện đại, vừa giữ gìn và phát huy được bản sắc, tinh hoa của dân tộc
vừa kế thừa được những thành quả tốt đẹp, ưu tú nhất của văn hóa nhân loại
qua các thời đại lịch sử. Một mặt, phải sáng tạo ra một nền văn hóa phong
phú, đa dạng và hiện đại. Mặt khác, phải làm cho giai cấp công nhân và quần
chúng lao động tham gia tích cực vào quá trình sáng tạo văn hóa, trở thành
chủ thể sản xuất, tiêu dùng và cảm thụ các giá trị văn hóa nghệ thuật, xây
dựng môi trường văn hóa lành mạnh để giáo dục và đào tạo con người xã hội
chủ nghĩa.
Đời sống văn hóa tinh thần của xã hội chủ nghĩa vừa như một môi
trường xã hội với chất lượng cao về đạo đức, văn hóa và lối sống, lại vừa
đồng thời là sự tổng hợp phong phú các hoạt động văn hóa của xã hội hướng
vào sự phát triển cá nhân và cộng đồng nhằm tạo ra văn hóa nhân cách của cá
nhân, văn hóa gia đình và văn hóa của xã hội. Chất lượng sáng tạo, cảm thụ
văn hóa, giao tiếp văn hóa được tạo ra từ đó, như điều mà Lênin đã khẳng
định: phải làm cho những người lao động có thể thực sự hưởng được tất cả
những phúc lợi của nền văn hóa, văn hóa, văn minh và dân chủ.
Năm 2002, UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: Văn
hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn,
vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội
8
9
* Quan điểm về xây dựng một nền văn hóa mới
Cùng với định nghĩa về văn hóa, Hồ Chí Minh còn đưa ra 5 điểm lớn
định hướng cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc:
1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.
2. Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.
3. Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của
nhân dân trong xã hội.
4. Xây dựng chính trị: dân quyền
5. Xây dựng kinh tế. [17;431]
Như vậy, ngay từ sớm, Hồ Chí Minh đã quan tâm đến văn hóa, đã thấy
rõ vai trò, vị trí của văn hóa trong đời sống xã hội. Điều này cắt nghĩa vì sao
ngay sau khi giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã bắt tay ngay vào việc xây
dựng, kiến tạo một nền văn hóa mới ở Việt Nam trên tất cả mọi lĩnh vực, từ
kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức đến tâm lý con người, đã sớm đưa văn hóa
vào chiến lược phát triển đất nước.
PGS. Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hóa mang tính chất thao
tác luận, khác với những định nghĩa trước đó, theo ông đều mang tính tinh
thần luận:
Không có cái vật gì gọi là văn hóa cả và ngược lại bất kì vật gì
cũng có cái mặt văn hóa. Văn hóa là một quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế
giới biểu tượng và thế giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa
chọn riêng của một tộc người, một cá nhân khác. Nét khác biệt giữa các kiểu
lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa khác nhau,
tạo thành những nền văn hóa khác nhau là độ khúc xạ. Tất cả mọi cái mà tộc
người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh
vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác. [19;28]
Trong Nghị quyết Trung ương 5 ( Khóa VIII), Đảng ta khẳng định: Văn
bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo
vật quốc gia”. [16;13]
11
Đề cập về di sản văn hóa phi vật thể, ngày 17-10-2003, UNESCO đã
phê chuẩn Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể:
Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức
thể hiện, biểu đạt tri tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ
vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các
nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là phần di
sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản
văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái
tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự
nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc
và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và
tính sáng tạo của con người. [4;84]
Theo định nghĩa này thì di sản văn hóa phi vật thể không chỉ là các tập
quán , các hình thức thể hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng mà còn là những công
cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan.
Luật Di sản văn hóa của Việt Nam định nghĩa:
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử,
văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng
truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền
khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học,
ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công
truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang
phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. [16;13]
Di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể có liên quan mật
năng riêng biệt. Bên cạnh đó, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phải tuân
thủ các nguyên tắc trùng tu, tôn tạo và bảo quản.
Di sản văn hóa là những nét tinh tú nhất, đặc sắc nhất của một nền văn
hóa vượt qua được thử thách của thời gian, lịch sử đến với thế hệ hiện tại, vì
thế nó chính là tấm gương phản ánh thật rõ nét bản sắc văn hóa của dân tộc ta.
13
Đó chính là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí độc lập tự cường bất khuất, đạo lí
uống nước nhớ nguồn sâu sắc, tinh thần tương thân tương ái đoàn kết cộng
đồng vững chắc và tấm lòng bao dung rộng mở. Đây chính là những nét tạo
nên bản lĩnh, cốt cách của dân tộc Việt Nam. Hệ thống di sản văn hóa không
chỉ minh chứng, khẳng định bản lĩnh, cốt cách dân tộc mà còn cho ta thấy rõ
những nếp sống, nếp sinh hoạt và suy nghĩ rất riêng của dân tộc ta thông qua
hệ thống phong tục tập quán thật đa dạng và phong phú.
Do đó, bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hóa chính là giữ gìn, phát huy
các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, nó có ý nghĩa to lớn đối với các thế hệ
nối tiếp. Di sản văn hóa là “bức thông điệp” của thế hệ cha ông gửi lại cho thế
hệ mai sau. Như vậy, bảo tồn, tôn tạo và khai thác các di sản văn hóa trở thành
vấn đề lớn của mỗi dân tộc chứ không phải của riêng cá nhân, tổ chức nào.
Hiện nay trong quá trình đổi mới, với sự tác động của nền kinh tế thị
trường, ngoài những thuận lợi còn có những mặt hạn chế đã và đang phát triển
cả ở thành thị và nông thôn, tạo thành nguy cơ ảnh hưởng không tốt đến môi
trường cảnh quan và những giá trị của các di sản văn hóa. Bởi vậy công tác
bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa sẽ góp phần giữ gìn, kế thừa và phát
huy truyền thống đạo đức của dân tộc là hết sức cần thiết, hết sức có ý nghĩa.
Bởi nếu không có giải pháp bảo tồn, phát huy một cách thiết thực, có hiệu quả
thì nhiều di sản văn hóa cả vật thể và phi vật thể sẽ nhanh chóng bị hủy hoại
bởi thời gian, bởi môi trường thiên nhiên khắc nghiệt và bởi mặt trái của toàn
lạnh nhất là các tháng 12 và 1, với nhiệt độ trung bình từ 16 – 17 °C. Tháng 7
nóng nhất, nhiệt độ khoảng trên 29 °C.
Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.750 – 1.800 mm, chia làm 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 2
năm sau. Số giờ nắng trong năm: 1.650 – 1.700 giờ. Độ ẩm tương đối trung
bình: 80 – 85%. Mặt khác, do nằm trong vùng vịnh Bắc Bộ nên hàng năm Nam
Định thường chịu ảnh hưởng của bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4 – 6
cơn/năm. Thuỷ triều tại vùng biển Nam Định thuộc loại nhật triều, biên độ triều
trung bình từ 1,6 – 1,7m lớn nhất là 3,31m và nhỏ nhất là 0,11m.
15
Với khí hậu thời tiết của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa đã tạo ảnh hưởng
đến các di sản văn hóa. Trước tiên ảnh hưởng đến sự hình thành các phong tục,
tập quán của người dân nơi đây, đó cũng là nguồn gốc để tạo nên nét ẩm thực
vô cùng đa dạng phong phú và ấn tượng của Nam Định. Bên cạnh đó cũng gây
ảnh hưởng xấu đến các di tích lịch sử, với lượng mưa tương đối nhiều, độ ẩm
thấp và hàng năm phải hứng chịu nhiều cơn bão đã phá hủy và xuống cấp nhiều
di tích lịch sử.
Nam Định là vùng đất nằm giữa hạ lưu hai con sông lớn của đồng bằng
Bắc Bộ là sông Hồng và sông Đáy. Dòng chảy của sông Hồng và sông Đáy kết
hợp với chế độ nhật triều đã bồi tụ tại vùng cửa hai sông tạo nên 2 bãi bồi lớn
ven biển là Cồn Lu, Cồn Ngạn (Giao Thuỷ) và vùng Cồn Trời, Cồn Mờ (Nghĩa
Hưng). Ngoài hai con sông lớn, trong tỉnh còn có những chi lưu của sông Hồng
chảy sang sông Đáy hoặc đổ ra biển. Từ bắc xuống nam có sông Đào làm địa
giới quy ước cho hai vùng nam bắc tỉnh, sông Ninh Cơ đổ ra cửa Lác (thường
gọi là Gót Chàng), sông Sò (còn gọi là sông Ngô Đồng) đổ ra cửa Hà Lạn.
Tính đến năm 2000, toàn tỉnh có 4.723 ha rừng các loại, chủ yếu là rừng
phòng hộ, cây trồng chính là sú, vẹt, phi lao, bần. Hệ thực vật chiếm khoảng
Nam Định nằm trong vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thực phẩm
của đồng bằng Bắc Bộ. Đồng thời, có nền sản xuất công nghiệp phát triển
tương đối sớm với nhiều ngành nghề truyền thống, là một trong những trung
tâm dệt may hàng đầu của cả nước. Tổng giá trị hàng xuất khẩu trên địa bàn đạt
210 triệu USD (kế hoạch 200 triệu USD). Tổng nguồn vốn đầu tư xã hội trên
địa bàn tỉnh ước thực hiện 8800 tăng 19,4% (kế hoạch tăng 10%). Năm 2010,
ước tính GDP tỉnh đạt 10.920 tỷ đồng. Năm 2009, Cơ cấu kinh tế là: Nônglâm-thuỷ sản: 30%; Công nghiệp-xây dựng: 32%; Dịch vụ: 38%.
Các khu công nghiệp trong tỉnh Nam Định: Khu Công nghiệp Hòa Xá,
khu Công nghiệp Mỹ Trung, khu Công nghiệp Thành An, khu Công nghiệp
Bảo Minh, khu Công nghiệp Hồng Tiến, khu Kinh tế Ninh Cơ và nhiều cụm
công nghiệp khác.
17
1.2.3. Vai trò của di sản văn hoá đối với đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân tỉnh Nam Định
1.2.3.1. Khái quát chung về các di sản văn hóa của tỉnh Nam Định
Nam Định nằm ở trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng, không
chỉ là mảnh đất địa linh nhân kiệt, nơi đây còn là nơi phát tích của vương triều
Trần - một trong những triều đại phát triển hưng thịnh nhất trong lịch sử
phong kiến Việt Nam. Là nơi hội tụ và bảo lưu nhiều giá trị văn hóa truyền
thống thể hiện ở các công trình kiến trúc như đình, chùa, đền, miếu, phủ, lăng,
mộ, nhà thờ, từ đường dòng họ,… tất cả hệ thống di sản văn hoá đó đã và
đang hội tụ những giá trị tư tưởng, đạo đức, tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần
hun đúc nên nhân cách con người Nam Định, luôn hướng tới Chân - Thiện Mỹ và Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín. Các di tích lịch sử, văn hoá là nơi ghi
dấu công sức, tài năng của các thế hệ qua từng thời đại, là bằng chứng xác
thực, cụ thể về đặc điểm văn hóa mỗi vùng, miền. Các di tích lịch sử văn hóa
hầu như vẫn giữ được khá đầy đủ và liên tục về mạch truyền thống kiến trúc
dân tộc.
văn hóa. Đây là một khu di tích bề thế, thờ Thiên sư rất nổi tiếng thời Lý được
xây dựng năm 1062. Toàn bộ công trình kiến trúc từ thế kỉ XVII này có nhiều
bia kí, cổ vật, cổ thư.
- Khu di tích Phủ Giầy, bao gồm phủ Tiên Hương, phủ Văn Cát, Lăng
và hơn 10 di tích khác tạo thành một quần thể di tích văn hóa. Chúng ta có thể
tìm thấy ở đây tín ngưỡng thờ Mẫu – một tín ngưỡng cổ xưa và phát triển
mạnh ở thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX.
- Chùa Phổ Minh, một trong những ngôi chùa cổ nhất của Phật giáo
nước ta đã được tu bổ đúng với bố cục kiến trúc ban đầu.
- Chùa Cổ Lễ nơi thiền sư Nguyễn Minh Không trụ trì (cùng với các
thiền sư Từ Đạo Hạnh và Giác Hải là Nam thiền tam tổ)
19
- Phủ Quảng Cung (Phủ Nấp) thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh, giáng sinh lần
thứ nhất ở xã Yên Đồng, Ý Yên
- Quần thể các di tích thờ Vua Đinh Tiên Hoàng ở Nam Định gồm Đền
Vua Đinh (Yên Thắng), đền Thượng, đình Thượng Đồng, đình Cát Đằng ở
Yên Tiến, Ý Yên và đền Vua Đinh ở làng việt cổ Bách Cốc, Vụ Bản.
- Tháp chuông chùa Phổ Minh ngày trước có vạc Phổ Minh là một
trong An Nam tứ đại khí, chùa Vọng Cung.
- Mộ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, tại núi Phương Nhi, xã
Yên Lợi phía bắc huyện Ý Yên.
- Mộ nhà thơ Tú Xương, tại Công viên Vị Xuyên, thành phố Nam Định.
- Làng Tức Mặc, Phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định xưa là phủ
Thiên Trường là quê hương của các vua nhà Trần, một trong những triều đại
lừng danh nhất trong lịch sử Việt Nam với chiến tích 3 lần chiến thắng
Nguyên Mông.
Ngoài ra, còn rất nhiều các di tích có giá trị khác như dền Bảo Lộc, đền