ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THANH BÌNH
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG
THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ TỪ NĂM 2000 ĐẾN 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THANH BÌNH
ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG
THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ TỪ NĂM 2000 ĐẾN 2012
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thành Vinh
Hà Nội - 2013
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH
: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNXN
: Chủ nghĩa xã hội
DCCS
: Dân chủ ở cơ sở
GD – ĐT
: Giáo dục và đào tạo
GDP
: Tổng sản phẩm quốc dân
GS.PGS.TS
: Giáo sƣ, Phó giáo sƣ, Tiến sĩ
HĐND
: Hội đồng nhân dân
tiễn. Coi đây là một trong những nội dung thể hiện bản chất của chế độ, là
quy luật hình thành, phát triển và tự hoàn thiện của hệ thống chính trị xã hội
chủ nghĩa. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới,
nhất là việc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đồng thời thực hiện nghĩa vụ đầy đủ của thành viên tổ chức thương mại thế
giới (WTO).
Xây dựng và thực hiện DCCS là chủ trương quan trọng của Đảng và
Nhà nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VIII (tháng 6 năm 1997) khẳng định, khâu quan trọng và cấp bách trước
mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Triển khai Nghị quyết
của Trung ương nhằm phát huy đầy đủ, hiệu quả quyền làm chủ trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 18 tháng 12 năm 1998
Bộ Chính trị (khóa VIII) ban hành chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực
hiện Quy chế DCCS.
Từ đó, thực hiện dân chủ cơ sở luôn là vấn đề mang tính thời sự và đòi
hỏi phát triển không ngừng. Trong đó vừa phải đi sâu nghiên cứu và hoàn
thiện về lý luận, vừa phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để tìm ra hình thức,
biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp đưa các quy định về dân chủ vào cuộc sống.
Trong công cuộc cách mạng nói chung và trong sự nghiệp xây dựng
nền dân chủ nói riêng, quần chúng nhân dân có vai trò hết sức quan trọng.
Cách mạng chỉ có thể giành thắng lợi, khi cách mạng tập hợp được đông đảo
lực lượng quần chúng tham gia. Xây dựng và thực hiện QCDC cũng vậy,
không thể không có sự tham gia đông đảo của quần chúng. Chính vì vậy,
1
trong việc xây dựng và thực hiện Quy chế DCCS, Đảng ta luôn coi công tác
VĐQC là trách nhiệm của toàn Đảng và hệ thống chính trị. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng trong công các VĐQC thực hiện quy chế DCCS, đã được triển khai
triển lý luận về dân chủ và thực hiện DCCS. Vì những lý do trên nên học viên
chọn đề tài: “ Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo công tác vận động quần
chúng thực hiện dân chủ cơ sở từ năm 2000 đến 2012” làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác lãnh đạo quần chúng xây dựng và thực hiện quy chế DCCS là
vấn đề được Đảng, Nhà nước, các cơ quan cũng như nhiều tác giả nghiên cứu
quan tâm. Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu từ các hướng tiếp
cận khác nhau như: Triết học, chính trị học, xây dựng Đảng, lịch sử, lịch sử
Đảng… của các cá nhân, tập thể được công bố như:
Trong cuốn sách Công tác dân vận của Đảng thời kì đẩy mạnh công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2003 đã tập trung phân tích một số vấn đề chung về công tác dân vận;
thực trạng tình hình các giai cấp, tầng lớp nhân dân và công tác VĐQC của
Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể xã hội trong thời kỳ đổi
mới; đề xuất một số định hướng và giải pháp tăng cường công tác dân vận của
Đảng trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Cuốn sách Dân chủ và tập trung dân chủ, lý luận và thực tiễn của tác
giả Nguyễn Tiến Phồn (2001), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
Ngoài việc xây dựng và phân tích các khái niệm về dân chủ, tập trung dân
chủ, tác giả đã tập trung bàn luận những nội dung về lý luận và thực tiễn của
việc thực hiện dân chủ và tập trung dân chủ. Từ đó, khẳng định vai trò quan
trọng của dân chủ và tập trung dân chủ trong xây dựng Đảng, quyết định
sức mạnh của bộ máy chính quyền Nhà nước.
Ngoài ra còn có nhiều cuốn sách đề cập đến nội dung dân chủ, vận
động quần chúng nhân dân thực hiện DCCS, như:
3
từ thực tiễn thành phố Hà Nội, luận văn thạc sỹ Quản lý Nhà nước, Học viện
Hành chính Quốc gia, Hà Nội.
Ngoài ra, còn một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các
đề tài đã được nghiệm thu, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khác, về vấn đề
VĐQC, dân chủ và dân chủ hóa ở nước ta. Tuy nhiên, vẫn còn ít công trình
nghiên cứu đến sự lãnh đạo, chỉ đạo VĐQC thực hiện DCCS, đặc biệt là việc
nghiên cứu tại một địa bàn cụ thể như tỉnh Bắc Giang.
Vì vậy, đề tài "Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo công tác vận động
quần chúng thực hiện dân chủ cơ sở từ năm 2000 đến năm 2012", là một đề tài
mới không trùng lặp với các công trình và đề tài nghiên cứu đã được công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Góp phần làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về công
tác vận động quần chúng để thực hiện DCCS. Trên cơ sở đó đánh giá tình
hình thực hiện DCCS tại tỉnh Bắc Giang rút ra một số kinh nghiệm trong quá
trình xây dựng và thực hiện quy chế DCCS.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên đề tài có những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và hệ thống quan điểm chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam tác
động đến việc lãnh đạo thực hiện DCCS tại Đảng bộ tỉnh Bắc Giang.
- Hệ thống hóa các nguồn tư liệu gắn liền với hoàn cảnh lịch sử của
tỉnh Bắc Giang trong 12 năm (2000 đến 2012).
- Phân tích, đánh giá những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
lãnh đạo công tác VĐQC tổ chức, triển khai thực hiện quy chế DCCS.
- Phân tích, đánh giá kết quả của công tác lãnh đạo quần chúng thực
hiện DCCS.
phương Bắc Giang liên quan đến đề tài và các tài liệu khác…
6
Để nghiên cứu về sự lãnh đạo quần chúng thực hiện DCCS của Đảng
bộ tỉnh Bắc Giang, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, logic và kết hợp
các phương pháp khác như: điều tra xã hội học, phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sánh…
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương, chính
sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về công tác
VĐQC xây dựng và thực hiện quy chế DCCS.
- Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
lãnh đạo công tác VĐQC xây dựng và thực hiện quy chế DCCS từ năm 2000
đến 2012.
- Từ những kết quả nghiên cứu, luận văn phân tích, làm rõ thêm một số
đề xuất, giải pháp và kiến nghị của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong quá trình
VĐQC xây dựng và thực hiện quy chế DCCS.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn bao gồm có 3 chương 8 tiết.
7
Chƣơng 1
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO CÔNG
TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ
1.1 Cơ sở lý luận
thể hiện đầy đủ, rõ ràng, đúng bản chất của khái niệm dân chủ xã hội chủ
nghĩa. Đúng với bản chất của xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.
Chế độ dân chủ của chúng ta không chỉ đảm bảo lợi ích cho mỗi cá nhân, mà
đảm bảo lợi ích cho toàn xã hội.
b, Những tiêu chí và nguyên tắc của một xã hội dân chủ
Dân chủ ngày nay được xem xét chủ yếu dưới các dạng: Chế độ nhà
nước (các hình thức, nguyên tắc, phương thức thực thi quyền lực nhà nước);
Nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của đời sống xã hội (nguyên tắc tổ chức và
sinh hoạt của các đảng chính trị, các tổ chức xã hội); Giá trị xã hội (thể hiện ở
trình độ đạt được về bảo đảm các quyền, nghĩa vụ, tự do của công dân và sự
tham gia của họ trong đời sống xã hội); Lý tưởng, nhân sinh quan, thế giới
quan, mục đích hoạt động của các lực lượng chính trị- xã hội.
Quan niệm về dân chủ cho đến nay còn khác nhau, phụ thuộc vào giai
cấp, dân tộc, tôn giáo, tập quán xã hội, và truyền thống văn hoá và chính trị.
Mặc dù vậy, có thể nói tới những nhận thức chung về dân chủ như sau: Nhân
dân được coi là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực nhà nước. Các cơ quan
quyền lực phải được nhân dân bầu hoặc bãi miễn thông qua bầu cử tự do, bình
đẳng và bỏ phiếu kín. Các thể chế chính trị và nhà nước phải hợp hiến, quản
lý xã hội bằng luật pháp, sự ngự trị tối cao của pháp luật. Không tập trung
tuyệt đối hoá quyền lực vào bất kỳ một chủ thể quyền lực nào, thực hiện
nguyên tắc phân quyền, tản quyền. Nhà nước thực thi quyền lực công cộng và
công khai. Nhà nước phải phối hợp hoạt động với xã hội công dân, tạo điều
kiện cho công dân tham gia công việc nhà nước và giám sát phê bình hoạt
động của nhà nước. Nhân dân dễ dàng tiếp cận các phương tiện thông tin đại
9
chúng. Thiểu số phục tùng quyết định của đa số và đa số tôn trọng, bảo vệ
những quyền chính đáng của thiểu số.
định pháp luật để có dân chủ trong thực tế.
Nâng cao dân trí, văn hoá, ý thức dân chủ và thói quen sinh hoạt dân
chủ của nhân dân; đào tạo và giáo dục đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, thừa
hành thực hiện dân chủ của nhân dân; xây dựng và hoàn thiện các thể chế dân
chủ trực tiếp và dân chủ đại diện… đó là những nhiệm vụ cơ bản trong công
cuộc xây dựng chế độ XHCN và cũng là những vấn đề đặt ta hiện nay.
Về hình thức, dân chủ được thể hiện qua dân chủ đại diện hoặc dân chủ
trực tiếp. Dân chủ trực tiếp là hình thức dân chủ được thực hiện bằng cách
nhân dân trực tiếp bày tỏ chính kiến của mình, trực tiếp tham gia quyết định
những vấn đề chung của cộng đồng xã hội. Còn dân chủ đại diện là nhân dân
thông qua các đại biểu của mình, đoàn thể của mình và các phương tiện khác
để bày tỏ chính kiến của mình, trực tiếp tham gia quyết định những vấn đề
chung của cộng đồng xã hội. Những hình thức dân chủ ấy được thể chế bằng
luật pháp nhà nước và được thực thi bằng cả hệ thống chính trị. Dân chủ trực
tiếp thường được thực hiện trong những cộng đồng dân cư ở cơ sở, như xã,
phường, thị trấn, cơ quan, trường học… Ở đây, nhân dân có thể trực tiếp bày
tỏ chính kiến của mình, trực tiếp quyết định và giám sát những công việc của
cộng đồng xã hội. Ở quy mô quốc gia, dân chủ trực tiếp được thực hiện dưới
hình thức trưng cầu dân ý để quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước,
đặc biệt là trong những trường hợp cần thiết.
Vai trò của dân chủ trong đời sống xã hội, đặc biệt trong xã hội hiện đại
là không thể phủ nhận. Dân chủ chính là điều kiện, môi trường đảm bảo cho
các quyền tự do, quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người. Dân
chủ là giải pháp hạn chế sự tha hoá quyền lực nhà nước và là phương tiện để
đấu tranh chống lại việc dùng quyền lực nhà nước và lạm dụng quyền lực để
mưu lợi ích riêng. Không thể hình dung được tiến bộ xã hội và sự phát triển
11
nguyện vọng của mình đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền
ở cơ sở.
DCCS là dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước và doanh
nghiệp nhà nước tức là ở từng đơn vị cơ sở, nơi diễn ra cuộc sống và hoạt
động của người dân. Dân chủ ở cấp xã mà chúng ta nghiên cứu ở đây là dân
chủ ở xã, phường, thị trấn với nghĩa là cấp cơ sở trong hệ thống các cấp quản
lý hành chính nhà nước. Thực hiện dân chủ ở cấp xã chính là thực hiện "Quy
chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn" (1998) nay được nâng lên thành
“Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” (từ sau Đại hội X).
d) Công tác vận động quần chúng: Nội hàm lý luận và ý nghĩa thực tiễn
Công tác vận động quần chúng là phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, tổ
chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng đối với quần chúng thông qua
các tổ chức xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng, nhằm thực hiện các
chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đạt hiệu quả cao nhất.
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, để đảm bảo cho cuộc đấu
tranh cách mạng giành được thắng lợi thì ít nhất hội tụ đủ hai yếu tố cơ bản:
Một là, phải tổ chức “giai cấp công nhân thành một chính đảng là vấn
đề cần thiết để bảo đảm thắng lợi của cách mạng xã hội và giành được mục
đích cuối cùng là thủ tiêu các giai cấp”.
Hai là, “bản thân quần chúng phải tự mình tham gia vào cuộc cải tạo
ấy, phải tự mình hiểu rằng vì sao mình phải đấu tranh… Nhưng muốn quần
chúng hiểu rõ là phải làm gì thì phải tiến hành một công tác lâu dài và kiên
nhẫn” [24 , 775].
Như vậy, công tác VĐQC là một công tác lâu dài và phải kiên trì thực
hiện. Đó là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân để giành lấy sự đồng tình,
giành lấy sự ủng hộ của đa số nhân dân lao động. Mỗi thời kỳ cách mạng khác
nhau phải có những hình thức công tác VĐQC khác nhau.
13
những vấn đề xã hội. Ảo tưởng nắm và sử dụng nhà nước của con người như
một công cụ thực hiện sự “phục sinh” những quyền dân chủ ban đầu trong xã
15
hội thị tộc dưới một hình thức cao hơn đã tan thành mây khói. Giai cấp chủ nô
nhân danh xã hội, chiếm đoạt nhà nước, biến nhà nước thành công cụ thực
hiện quyền lực chính trị của mình. Nhà nước chủ nô chính là hình thức, hình
thái đầu tiên của chế độ dân chủ trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai
cấp. Chính giai cấp chủ nô đã nhận diện được cái khát vọng của con người,
trong đó có khát vọng quyền lực chính trị, đã tổ chức nên chế độ nhà nước
chủ nô, vì lợi ích của giai cấp chủ nô. Như thế, để có một giai cấp chủ nô có
quyền dân chủ, loài người đã phải trả bằng một giá quá đắt là tuyệt đại bộ phận
con người bị đẩy xuống hàng nô lệ, thành “những con vật biết nói” [36, 135].
Theo C. Mác, trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gota (1875) dân chủ
tức là chính quyền của nhân dân. Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng,
Lênin cũng cho rằng: Chế độ dân chủ là một hình thức tổ chức nhà nước, một
trong những hình thái của nhà nước.
Kế thừa và phát triển những tư tưởng của Mác - Ănghen về dân chủ,
Lênin đã đưa ra con đường phát triển biện chứng của dân chủ “từ chuyên chế
đến dân chủ tư sản, từ dân chủ tư sản đến dân chủ vô sản, từ dân chủ vô sản
đến không còn dân chủ nữa” [38, 270]. Lênin cho rằng, dân chủ vô sản không
phải là chế độ dân chủ cho tất cả mọi người, nó chỉ là dân chủ với tất cả quần
chúng lao động và bị bóc lột, dân chủ vô sản là chế độ dân chủ vì lợi ích của
đa số, dân chủ trong chủ nghĩa xã hội bao quát hết tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội, dân chủ đó ngày càng hoàn thiện bao nhiêu càng nhanh đi tới tiêu
vong bấy nhiêu. Dân chủ vô sản loại bỏ tất cả quyền làm chủ của các giai cấp là
đối tượng của chuyên chính vô sản, nó đưa quảng đại quần chúng lên địa vị của
người chủ chân chính của xã hội. Từ tất cả những ý nghĩa đó, Lênin đã đi đến một
Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo xã hội và nhà nước. Dân chủ xã hội chủ
nghĩa phụ thuộc vào mức đọ hoàn thiên cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước
quản lý, nhân dân làm chủ, vào mức độ phân định chức năng, nhiệm vụ; đồng
thời, xác định được mối quan hệ giữa ba bộ phận trong bộ máy nhà nước,
giữa trung ương và địa phương. Thứ tư, dân chủ XHCN phụ thuộc vào mức
độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Pháp luật càng chi tiết, cụ thể bao
17
nhiêu, quy định càng rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm của nhà nước đối
với công dân, giữa công dân với nhà nước, giữa công dân với nhau thì càng
có điều kiện thực thi dân chủ.
b) Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, dân chủ cơ sở và công tác
VĐQC thực hiện DCCS.
Trong toàn bộ di sản văn hoá và tinh thần của Hồ Chí Minh, tư tưởng
dân chủ là một giá trị to lớn và đặc sắc.
Tư tưởng dân chủ, cũng như vai trò to lớn của quần chúng nhân dân
trong việc thực hiện dân chủ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ qua
các luận điểm.
1. “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân” [42, 279].
Quan niệm dân chủ của Hồ Chí Minh rất rộng, rất toàn diện. Từ việc “làm
sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình,
dám nói, dám làm” (Bài phát biểu với Tỉnh uỷ Hà Tây tháng 2/1967) đến việc
“giải quyết vấn đề kinh tế và tài chính thế nào cho hợp lý, cho lợi dân”) [40, 175].
Người quan niệm rằng: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh
phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”) [38, 56]. Như thế dân chủ
không chỉ là phương pháp thể hiện mới, tốt đẹp trong xã hội mà trên hết là nội
dung của cuộc sống mới của nhân dân, cuộc sống mà người dân là người chủ
thực sự của đất nước, của xã hội. Chỉ có một nền dân chủ thực sự thì người
- Phải có một bộ máy chính quyền có đủ năng lực, phẩm chất, bộ máy
phải tinh giản, hoạt động phải nhạy bén.
Người nêu rõ những nguyên tắc đặt nền móng để xây dựng một chính
quyền dân chủ “vì dân và do dân”. Bởi lẽ, chỉ có trong một thiết chế dân chủ
có hiệu quả thì nhân dân mới thực sự có quyền và kiểm soát được quyền lực,
mới có những điều kiện về cơ chế, về luật pháp và về tổ chức có thể “kiểm
soát” được bộ máy chính quyền, cái công cụ của mình, mà luôn luôn có
khuynh hướng thoát ly quyền lực của nhân dân để trở thành “quan chủ”.
Người còn chú ý đến nhiều điều kiện khác nữa, trong đó Người nhấn
mạnh đến giải pháp “dân trí”. Người từng nói “quan tham vì dân dại- nếu dân
19
hiểu biết không chịu đút lót thì “quan” dù không liêm cũng phải hoá ra liêm”.
Lời nói của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị đến ngày hôm nay. Đặc biệt
trong việc thực hiện DCCS trong mọi lĩnh vực, ví dụ trong việc thực hiện cải
cách thủ tục hành chính, thì vấn đề "dân trí" vô cùng quan trọng. Nếu dân
biết, dân hiểu thì dân sẽ thực hiện và giám sát.
Rõ ràng Đảng và Nhà nước ta không thể tự cải tạo, chỉnh đốn, đổi mới
nếu biệt lập nó với quá trình dân chủ hoá sâu sắc và mạnh mẽ, với quá trình
tôn trọng và phát huy dân trí và dân quyền của toàn xã hội.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân chủ vẫn còn giữ nguyên giá trị
trong việc củng cố và xây dựng một chính quyền Nhà nước dân chủ để phục
vụ nhân dân có hiệu quả, có hiệu lực, một chính quyền thật sự vì dân và do
dân, chứ không phải là quyền lực riêng của một cá nhân hoặc là của một
nhóm người nào.
4. “Đảng cũng ở trong xã hội”, “Đảng từ Trung ương đến xã do dân tổ
chức nên" [42,396].
Ngày nay, xây dựng nền dân chủ của nước nhà gắn liền với vai trò hoạt