Đảng bộ tỉnh bắc giang lãnh đạo công tác hút và dùng nhân tài - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI CÔNG VĨ

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60 31 20

HÀ NỘI -2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÙI CÔNG VĨ

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60 31 20

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Đắc Hiến

HÀ NỘI -2012



28

1.2.3. Một số vấn đề đặt ra đối với việc thu hút, sử dụng nhân tài của
Đảng bộ tỉnh Bắc Giang

48

Chƣơng 2: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC THU HÚT
VÀ SỬ DỤNG NHÂN TÀI CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG

52

2.1. Phƣơng hƣớng lãnh đạo công tác thu hút và sử dụng nhân tài của
Đảng bộ tỉnh Bắc Giang

52

2.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng lãnh đạo
công tác thu hút và sử dụng nhân tài của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang 55
2.2.1. Giải pháp chung

55

2.2.2. Giải pháp cụ thể

64

KIẾN NGHỊ



:

Hội đồng nhân dân

Nxb

:

Nhà xuất bản

UBND

:

Uỷ ban nhân dân

VN

:

Việt Nam


MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Cán bộ là cái gốc
của mọi công việc” [29, tr.269] và “muôn sự thành công hay thất bại đều do
cán bộ tốt hay xấu” [29, tr.240]. Thực tiễn cách mạng nước ta qua các giai
đoạn cũng đã chứng minh những lời di huấn trên của Người là hoàn toàn

cơ quan tổ chức cán bộ cấp ủy tỉnh, tác giả nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan
trọng của việc lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác thu hút và
sử dụng nhân tài, vì vậy tác giả mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài: Đảng
bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo công tác thu hút và sử dụng nhân tài. Đây
không chỉ là vấn đề cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn cả nước nói chung
mà còn có ý nghĩa thiết thực đối với tỉnh Bắc Giang nói riêng.
2. Tình hình, lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết ở trong và ngoài
nước của các tác giả về vấn đề nhân tài dưới nhiều góc độ khác nhau. Điển
hình là một số công trình sau đây:
- Bí quyết nhận biết người tài - Long Tử Dân, Nxb Văn hoá Thông Tin,
Hà Nội, 2005.
- Dự án thí điểm phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân
lực tài năng phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Ban Tổ chức Trung
ương Đảng, 2005.
- Đào tạo, sử dụng người tài và chuyển giao quyền lực trong lãnh đạo,
quản lý - Phạm Minh Hạc, chuyên đề trong Tập bài giảng chương trình cao
cấp lý luận chính trị - hành chính, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội, 2009.
- Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, sử
dụng và đãi ngộ người tài- Nguyễn Trọng Bảo, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996.
- Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong
lịch sử VN - Phạm Hồng Tung, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008.
- Một số giải pháp phát hiện và sử dụng nhân tài ở nước ta hiện nay TS. Nguyễn Minh Phương, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 4/2010.


- Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng
của đất nước - Ban Tổ chức Trung ương Đảng, Tập Bài giảng phục vụ lớp
đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công
tác tổ chức cán bộ Ngành tổ chức xây dựng Đảng, 2007.
- Tài năng và đắc dụng (nghiên cứu về một số nhân tài tiêu biểu ở VN và

nêu trên đã có những đóng góp nhất định về mặt lý luận và thực tiễn, song
còn chưa đề cập một cách toàn diện, có hệ thống đến sự lãnh đạo của ĐBBG
đối với việc thu hút và sử dụng nhân tài. Vì vậy đề tài nghiên cứu của tác giả
luận văn không trùng lặp với các công trình đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ thực trạng việc lãnh đạo công tác thu hút, sử dụng
nhân tài của ĐBBG, luận văn đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ
yếu nhằm nâng cao hiệu quả lãnh đạo của ĐBBG đối với công tác này.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nhân tài và việc thu
hút, sử dụng nhân tài;
- Phân tích thực trạng việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác thu hút, sử dụng
nhân tài của ĐBBG những năm vừa qua và rút ra một số bài học kinh nghiệm;
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu
quả lãnh đạo công tác thu hút, sử dụng nhân tài của ĐBBG giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự lãnh đạo của ĐBBG đối với
công tác thu hút, sử dụng nhân tài.


4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của ĐBBG đối với
công tác thu hút, sử dụng nhân tài ở các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính
trị Tỉnh, từ năm 2005 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,

1.1. QUAN NIỆM NHÂN TÀI

1.1.1. Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
và Đảng Cộng sản VN về nhân tài và việc thu hút, sử dụng nhân tài
1.1.1.1. Quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin
Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhân tài được thể hiện ở một
số nội dung cơ bản sau:
- Quần chúng nhân dân là kho báu nhân tài lớn nhất; nhân tài được
sinh ra từ thực tiễn sinh động.
Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng quần chúng nhân dân lao động tiềm ẩn
một nguồn nhân tài cực kỳ phong phú, là kho báu nhân tài lớn nhất; là lực
lượng quyết định sự phát triển của lịch sử, bởi: Một là, tư tưởng xã hội không
bao giờ là tư tưởng thuần tuý của một cá nhân mà là phản ánh tồn tại xã hội
dưới các dạng và trình độ khác nhau, được tổng hợp lại qua một số nhà tư
tưởng nào đó. Hai là, tư tưởng chỉ có giá trị khi nó dẫn đến hành động làm biến
đổi lịch sử; sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động làm phát triển xã hội chỉ
có thể xảy ra qua hoạt động của quần chúng. Ba là, xét đến cùng, lực lượng sản
xuất là cái quyết định đến sự biến đổi lịch sử, trong đó nhân dân lao động là lực
lượng sản xuất cơ bản. Bốn là, quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của
cách mạng xã hội. Năm là, do phân công lao động dẫn đến tạo ra một lớp người
chuyên về sáng tạo tinh thần tư tưởng, nhưng hoạt động này của họ cũng chỉ
được diễn ra trên cơ sở đời sống tinh thần và sáng tạo của quần chúng.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quần chúng nhân dân và
cá nhân (lãnh tụ, thiên tài) trong lịch sử không tách rời nhau. Lãnh tụ là những


cá nhân ưu tú, có tài, đức hơn người, là người có năng lực và phẩm chất tiêu
biểu trong phong trào của quần chúng, có khả năng tập hợp quần chúng và
được quần chúng tin yêu [33, tr45]. Trong quan hệ với quần chúng, lãnh tụ là
người dẫn dắt, định hướng hoạt động của quần chúng; còn cá nhân ưu tú, lãnh

địa vị thống trị.
+ Bất cứ một nhân vật tài năng kiệt xuất nào cũng đều mang đặc trưng
của thời đại, có tính hạn chế lịch sử nhất định. Lịch sử nhân loại đã chứng
minh, không có một nhân tài nào là hoàn hảo cho mọi thời đại, mà ít nhiều họ
đều bị chi phối bởi hoàn cảnh sống lúc đương thời.
- Lựa chọn và sử dụng đúng nhân tài là yếu tố then chốt quyết định sự
thành bại của cách mạng. Khi thực hiện Chính sách kinh tế mới, V.I. Lênin
chỉ ra rằng, then chốt trước mắt là ở con người, ở việc lựa chọn nhân tài. Để
lựa chọn đúng nhân tài phải xác định được các tiêu chuẩn rõ ràng. Các nhà
mác-xít đưa ra tiêu chuẩn để lựa chọn nhân tài là phải vừa có cả đức lẫn tài,
V.I. Lênin nhấn mạnh là phải lựa chọn được người có “đầu óc tỉnh táo và bản
lĩnh thực tế”.
- Quan tâm bồi dưỡng con người mới phát triển toàn diện. Đây là một
trong những nội dung quan trọng trong quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về nhân tài. Con người phát triển toàn diện được các nhà mác-xít quan niệm
là con người có thể thông hiểu toàn bộ hệ thống sản xuất, có thể căn cứ vào
nhu cầu của xã hội và sở trường của cá nhân mình để chuyển từ một ngành
sản xuất này sang một ngành sản xuất khác, nhằm phát huy toàn diện tài năng
của họ. Chủ nghĩa Mác cho rằng, lao động sản xuất kết hợp với trí lực và thể
dục là phương pháp duy nhất để tạo ra con người phát triển toàn diện…
- Phát hiện, bồi dưỡng, coi trọng và mạnh dạn sử dụng nhân tài trẻ
tuổi. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đều rất quan tâm, coi trọng
và đánh giá cao nhân tài trẻ tuổi. Ngay từ năm 1919, V.I. Lênin đã từng nói:


Cần có lực lượng trẻ. Tôi thật muốn đề nghị bắn ngay tại chỗ những kẻ nào cả
gan nói rằng không có nhân tài. Nhân tài của nước Nga rất nhiều, có điều cần
thu hút một cách rộng rãi hơn và mạnh dạn hơn. Trước mắt đang là thời chiến.
Kết cục của toàn bộ cuộc đấu tranh đều do thanh niên, do sinh viên trẻ và đặc
biệt là công nhân trẻ quyết định. Hãy vứt bỏ đi mọi thói quen cũ cứng đờ chỉ

năng, sáng kiến, thì gửi cho Chính phủ, cái gì có thể thực hành ngay, thì sẽ
thực hiện ngay. Người dạy: “Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào
những điều kiện quá khắt khe… Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ ta cắt làm
việc nhỏ, ai có năng lực vào việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy” [28, tr.39].
Từ thực tiễn phong trào cách mạng, Hồ Chí Minh rút ra kết luận:
“Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng.
Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết
với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gũi họ, đem tài năng của họ
giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước” [29, tr.276].
- Sử dụng nhân tài phải công tâm, khách quan, mới có thể phát huy hết
năng lực, sở trường của họ.
Nhân tài là phải sử dụng đúng người đúng việc: "Nhân tài: Người nào
có năng lực làm việc gì, thì đặt vào việc ấy. Nếu dùng không đúng, người giỏi
nghề thợ mộc thì giao cho việc thợ rèn, người giỏi nghề rèn thì giao cho việc
thợ mộc, như thế thì hai người đều thất bại cả hai". [29, tr.633].
Bác nhấn mạnh: Mục đích lựa chọn cán bộ là dùng nhân tài cần phải
hợp lý, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn” và cho họ hiểu rõ mọi mặt các
công việc họ phải phụ trách [29, tr.230]. Đồng thời Người nhắc nhở: "Mình
có quyền dùng người thì phải dùng những người có tài năng, làm được việc.
Chớ vì bà con bầu bạn mà kéo vào chức nọ chức kia. Chớ vì sợ mất địa vị mà
dìm những kẻ có tài năng hơn mình" [29, tr.105].


- Cơ quan quản lý có vai trò quan trọng trong việc phát hiện, trọng
dụng nhân tài.
Trong thông điệp ngày 20/11/1946 với tiêu đề “Tìm người tài đức” hay
còn gọi là “Chiếu cầu hiền tài” nêu rõ tình hình đất nước như ngàn cân treo sợi
tóc, hơn bao giờ hết cần có nhân lực tốt, cần nhiều người tài giỏi. Người viết:
"Chính phủ nghe không đến, không thấy khắp, đến nỗi những bậc tài đức
không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa điều đó,

từ công nhân, chuyên gia trên các lĩnh vực; bồi dưỡng nhân tài theo định
hướng quy hoạch. Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp
cao… Có chính sách, quy chế tôn vinh những người có công; bố trí, sử dụng
đúng những người có năng lực, hết lòng vì dân, vì nước; khuyến khích những
người năng động, sáng tạo, có sáng kiến, có ý tưởng mới…Có cơ chế, chính
sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng
đáng người có đức, có tài; thay thế kịp thời những người kém năng lực và
kém phẩm chất, có khuyết điểm nghiêm trọng. [15, tr.987-988]
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ chín (khóa X) nêu
rõ: Xây dựng … chiến lược quốc gia về nhân tài đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy
mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước và chủ động hội
nhập quốc tế.
Văn kiện Đại hội lần thứ XI tiếp tục nhấn mạnh: Khuyến khích, tạo thuận
lợi để người lao động học tập, nâng cao trình độ, tay nghề, đồng thời có cơ
chế, chính sách phát hiện, trọng dụng nhân tài... Thực hiện đồng bộ chính
sách đào tạo, thu hút, trọng dụng, đãi ngộ xứng đáng nhân tài khoa học, công
nghệ... Có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước...
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài. Phát triển
nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Thực hiện các
chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực
chủ yếu, mũi nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo
nhân lực cho phát triển kinh tế trí thức… [17, tr.100, 106, 130]
Tóm lại, nhân tài là một khái niệm hiện có nhiều cách diễn giải và đôi
khi, các quan niệm chưa có sự trùng khít về nội hàm, một số quan niệm về nhân
tài như: “nhân tài: người có tài” [46, tr.1239]; “nhân tài (nhân: người, tài: tài


năng): Người có tài năng, có thể đảm đương việc khó” [26, tr.1318]; tài năng,
là năng lực xuất sắc, khả năng làm giỏi và sáng tạo một công việc gì [32,
tr.884]; “nhân tài là người có động cơ vì lợi ích xã hội, cộng đồng, sử dụng

ngược lại, người hoàn thành tốt, xuất sắc nhiệm vụ chính là minh chứng của
người có phẩm chất, trình độ, năng lực. Các yếu tố phẩm chất, trình độ, năng
lực phải được thể hiện ra bằng kết quả, công trạng, thành tích xuất sắc. Nhiều
người có trình độ cao, được đánh giá là có phẩm chất, trình độ, năng lực sáng
tạo, nhưng khi tham gia vào hoạt động thực tiễn không hoàn thành tốt, xuất
sắc nhiệm vụ thì cũng không thể coi đó là nhân tài.
1.1.2. Đặc trƣng và vai trò của nhân tài
1.1.2.1. Đặc trưng của nhân tài
Với quan niệm như trên, nhân tài có những đặc trưng chủ yếu sau đây:
- Về phẩm chất đạo đức:
Nhân tài là người có lý tưởng, mục đích sống phù hợp với xu thế phát
triển của xã hội và có động cơ sống trong sáng vì xã hội. Có tình thương yêu
đồng loại, bao dung, vị tha sâu sắc, giàu tính nhân văn, sống không chỉ cho
riêng mình mà luôn mong muốn và phấn đấu vì hạnh phúc của mọi người. Có
tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, khiêm tốn học hỏi, cầu tiến bộ, có
ý chí phấn đấu vươn lên mãnh liệt với tinh thần chủ động, độc lập cao. Không
dùng tài năng cá nhân để mưu cầu hạnh phúc riêng mà thường đem tài năng
ấy đóng góp cho sự tiến bộ và phát triển của cộng đồng, đất nước cũng như
của cả nhân loại.
Yêu cầu đối với nhân tài của VN phải là người có lòng yêu nước, có ý
thức và lòng tự tôn dân tộc chân chính, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo
đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước;
gương mẫu về đạo đức, lối sống; trung thực, không cơ hội, vụ lợi, không tham


nhũng; có tác phong dân chủ, khoa học, có khả năng đoàn kết và phát huy
năng lực, sở trường của cộng sự để hoàn thành nhiệm vụ.
- Về năng lực tư duy sáng tạo:
Nhân tài thường là người có trí thông minh, có năng lực tư duy vượt
trội, không bị bó hẹp trong những khuôn mẫu sẵn có, luôn sáng tạo để tìm ra

tinh túy, có giá trị nhất của nguồn nhân lực. Bằng sức sáng tạo của mình, tài
năng đem lại cho xã hội một chất lượng mới của sự phát triển. Lịch sử nhân
loại đã chứng minh, từ xưa đến nay, nhân tài là nhân tố góp phần tới sự hưng
thịnh của mỗi quốc gia, nhân tài đặt đúng vị trí thì nước mạnh, đặt không
đúng vị trí thì nước yếu. Vì thế, nhiều nước trên thế giới coi phát triển nhân
tài là quốc sách của mọi quốc sách, là bí quyết để xây dựng đất nước phồn
vinh, người dân ấm no, hạnh phúc.
Nói về vai trò của nhân tài, V.I. Lênin coi nhân tài, các chuyên gia là
những con người đặc biệt và phải trân trọng, giữ gìn như giữ gìn con ngươi
của mắt, nếu không như thế “thì không có thể nói đến một thành công quan
trọng nào cho sự nghiệp kiến thiết xã hội chủ nghĩa được” [42, tr. 429, 430].
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đánh giá cao vai trò của nhân tài đối với sự
nghiệp kiến thiết đất nước. Người viết: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến
thiết cần có nhân tài” [28, tr. 451].
Đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và quan
hệ với nhân dân, nhân tài có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, góp phần to lớn
để xây dựng Đảng, hệ thống chính trị vững mạnh, tăng cường mối quan hệ
giữa Đảng với nhân dân, nâng cao uy tín, vị thế, năng lực lãnh đạo của Đảng
trong việc tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối của
Đảng. Và suy cho đến cùng, những nhân tài trên lĩnh vực này là một nhân tố
quyết định thắng lợi cả trong đấu tranh giành chính quyền và trong xây dựng
đất nước. V.I. Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và những cán bộ tài giỏi của
Đảng ta là những người như thế.


Thực tiễn đã chứng minh, ở bất cứ hoàn cảnh nào, nếu những người
lãnh đạo đất nước quy tụ được nhiều hiền tài cống hiến cho đất nước, cho
nhân dân thì cho dù đất nước gặp muôn vàn khó khăn cũng sẽ vượt qua và
phát triển.
Tóm lại, trong mọi giai đoạn lịch sử, vai trò của nhân tài đều được

hoạt động sáng tạo của người lao động trong quá trình sản xuất nhằm vừa
tăng thêm cơ hội tìm kiếm việc làm, góp phần giải quyết tình trạng thất
nghiệp, vừa tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững cho xã hội; nhờ đó, tạo
ra những khả năng thực tế để con người phát triển toàn diện.
1.2. ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC THU HÚT VÀ
SỬ DỤNG NHÂN TÀI - THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

1.2.1. Đặc điểm tình hình tỉnh Bắc Giang và Đảng bộ tỉnh Bắc Giang
1.2.1.1. Khái quát đặc điểm, tình hình tỉnh Bắc Giang
Bắc Giang là một tỉnh miền núi, nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, có
vị trí cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía bắc, cách thành phố Hải Phòng hơn
100 km về phía đông, nằm giữa trung tâm giao lưu của vùng tam giác trọng
điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; có vĩ độ 210 - 21027’ Bắc, kinh độ
105053’ - 106011’ Đông. Phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía nam giáp tỉnh Bắc
Ninh, phía tây giáp tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội, phía đông giáp tỉnh Hải Dương
và Quảng Ninh.
Đơn vị hành chính của tỉnh có thành phố Bắc Giang là trung tâm và 09
huyện: Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Yên Dũng,
Việt Yên, Tân Yên và Hiệp Hoà. Dân số toàn tỉnh khoảng 1,6 triệu người, mật
độ bình quân 413 người/km2. Dân cư phân bố không đều, dân sống ở nông
thôn 94,7%, ở đô thị 5,3%, phần lớn tập trung ở thành phố Bắc Giang và các
huyện vùng trung du. Bắc Giang có 16 dân tộc thiểu số với 93.627 người,


gồm các dân tộc Tày (chiếm 2,05%), Nùng, Sán dìu, Sán chí, Cao lan, Dao,
Hoa... Số người trong độ tuổi lao động chiếm 62% dân số. Số lao động tham
gia hoạt động kinh tế khoảng 830.000 người.
Bắc Giang có tiềm năng to lớn là lao động và đất đai, nhất là đồi rừng,
thích hợp với nhiều loại cây ăn quả như vải thiều, nhãn, hồng không hạt, dứa,
na, cam, chuối… hiện nay ở tỉnh đã hình thành những các vùng trồng lúa, lạc,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status