ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------
HOÀNG THỊ HÀ
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------
HOÀNG THỊ HÀ
ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO
CÔNG TÁC ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60220315
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Văn Thịnh
Hà Nội, 9/2017
Học viên
Hoàng Thị Hà
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TNCS: Thanh niên cộng sản
ĐVTN: Đoàn viên thanh niên
LHTN: Liên hiệp thanh niên
CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
BCH: Ban Chấp hành
BTV: Ban Thường vụ
UBND: Ủy ban nhân dân
TW: Trung ương
CLB: Câu lạc bộ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................3
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài....................................................4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................8
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu..................................................9
6. Đóng góp mới của luận văn........................................................................10
7. Kết cấu của luận văn...................................................................................10
Chương 1. CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN TỪ
NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010..........................................................................11
1.1. Một số yếu tố tác động đến sự lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào
3.1. Nhận xét..................................................................................................69
3.1.1. Ưu điểm.................................................................................................69
3.1.2. Hạn chế.................................................................................................77
3.2. Một số kinh nghiệm chủ yếu..................................................................82
Tiểu kết Chương 3.........................................................................................89
KẾT LUẬN....................................................................................................90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................93
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn dành sự quan
tâm đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Bác Hồ đã khẳng định: "Thanh niên là bộ phận
quan trọng của dân tộc, nước nhà thịnh hay suy; yếu hay mạnh phần lớn là do
thanh niên". "Họ là bộ phận năng động nhất của dân tộc, họ chỉ có thể phát
huy được sức mạnh khi họ đã được tổ chức, hướng dẫn hoạt động đúng".
Đảng ta đặt niềm tin sâu sắc vào thanh niên: “Thanh niên là rường cột của
nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa”.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ĐVTN cả nước đã tích cực tham gia cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong mọi thời
kỳ cách mạng, tuổi trẻ cả nước đều thể hiện tinh thần “đâu cần thanh niên có,
đâu khó có thanh niên”. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức có vai trò trực
tiếp đoàn kết, tập hợp thanh niên và hiện thực hóa chủ trương của Đảng về
công tác thanh niên. Thông qua công tác Đoàn, phong trào thanh niên, tổ chức
Đoàn ngày càng củng cố và phát triển. Mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên
được mở rộng; chất lượng chính trị của đoàn viên từng bước được nâng lên;
đạo kịp thời của Đảng bộ tỉnh. Để góp phần tìm hiểu chủ trương và sự chỉ đạo
công tác Đoàn, phong trào thanh niên tại Thanh Hoá, tôi chọn đề tài: “Đảng
bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào thanh niên từ năm
2006 đến năm 2015” để làm luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
4
Chủ nghĩa Mác- Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đều luôn
khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của thanh niên đối với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời rất quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác
thanh niên, xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn Thanh niên vững mạnh; chằng
hạn như trong các cuốn C.Mac- Ăngghen- Lênin (1982), Bàn về thanh niên,
NXB Thanh niên, Hà Nội; Nhiệm vụ của Đoàn thanh niên, V.I Lênin tuyển
tập, quyển 2 (1959), NXB Sự thật, Hà Nội; Hồ Chí Minh gửi thanh niên Việt
Nam (1950), NXB Sự thật, Hà Nội; các văn kiện, chỉ thị của Đảng về công tác
thanh niên…đều khẳng định rõ quan điểm trên. Nghiên cứu về công tác Đoàn
và phong trào thanh niên trên cả nước nói chung và trên phạm vi tỉnh Thanh
Hóa nói riêng cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan.
- Nghiên cứu về thanh niên và Đảng lãnh đạo công tác Đoàn, phong
trào thanh niên
Lê Xuân Đồng (1961), “Một vài vấn đề về phương pháp công tác của
Đoàn thanh niên”, NXB Thanh niên, Hà Nội; Đặng Quốc Bảo (1997), “Tuổi
trẻ cống hiến và trưởng thành”, NXB Thanh niên, Hà Nội; Dương Tự Đam
(2000), Những tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng,
xây dựng Đoàn, NXB Thanh niên, Hà Nội; Nguyễn Hữu Đức (Chủ biên)
(2003), Giáo dục, rèn luyện thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội; Dương
Tự Đam (2008), “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo 5 điều Bác Hồ dạy”,
Vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với chiến lược phát
triển thanh niên, Tạp chí Thanh niên, số 19; Tại Hội thảo Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh – 70 năm xây dựng và trưởng thành (tháng 3- 2001), Tiến sĩ Trần Văn
Miều đã đề cập đến một số vấn đề khái quát của Đoàn trong tham luận trình
bày trước Hội thảo…
6
Ở những mức độ khác nhau, các công trình sách, báo trên đã phần nào
nêu lên những vấn đề về lý luận và cách tiếp cận khi nghiên cứu về thanh
niên, về công tác Đoàn và phong trào thanh niên, bước đầu tổng kết những
thành tựu và hạn chế trong hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và sự
lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức Đoàn.
Các Luận văn thạc sỹ của các tác giả: “Đảng Cộng sản Việt Nam với
công tác vận động thanh niên từ 2001 – 2010” (Bùi Thị Thu Trang), Đảng bộ
Đồng Nai lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào thanh niên thời kỳ 19862002 (Đặng Mạnh Trung); “Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo công tác Đoàn
thanh niên từ năm 1997 đến năm 2005” (Trịnh Văn Thoại), “Đổi mới đội ngũ
cán bộ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cấp huyện trong điều kiện hiện nay” (Lê
Văn Cầu); “Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào
thanh niên từ năm 2001 đến năm 2007” (Nguyễn Thị Khánh Ly)…các tác giả
đã đề cập đến chủ trương, sự lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào thanh
niên tại các tỉnh ở các giai đoạn khác nhau. Đây cũng là cơ sở giúp tác giả
luận văn có cách nhìn tổng quát, so sánh, liên hệ khi thực hiện đề tài liên quan
ở tỉnh Thanh Hóa.
- Nghiên cứu về Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo công tác Đoàn và
phong trào thanh niên
Có một số công trình nghiên cứu cụ thể về lịch sử địa phương có liên
quan đến thanh niên và công tác thanh niên như: “Lịch sử Đảng bộ tỉnh
Thanh Hoá” do Ban tuyên giáo tỉnh Thanh Hoá chịu trách nhiệm biên soạn
- Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào thanh niên trên địa bàn tỉnh từ năm
2006 đến năm 2015.
- Đưa ra những nhận xét ưu điểm, hạn chế của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
trong lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào thanh niên.
8
- Rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình lãnh đạo công tác
Đoàn và phong trào thanh niên của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Luận văn nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo công tác Đoàn và phong
trào thanh niên Thanh Hóa của ĐCS Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa từ
năm 2006 đến năm 2015.
9
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đối
với công tác Đoàn và phong trào thanh niên
Thời gian: từ năm 2006 đến năm 2015.
Địa bàn: tỉnh Thanh Hoá
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Luận văn khai thác chủ yếu từ các nguồn tư liệu như:
- Các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, của Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa về công tác Đoàn và phong trào thanh niên
Thanh Hóa.
- Những kinh nghiệm bước đầu về phát huy vai trò thanh niên, vai trò
của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có ý nghĩa lý luận và phương pháp
luận, chỉ đạo thực tiễn cho công tác Đoàn và phong trào thanh niên của tỉnh
Thanh Hóa trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
- Luận văn có thể sử dụng làm tư liệu cho việc biên soạn lịch sử truyền
thống của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hoá.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh đối với công tác
Đoàn và phong trào thanh niên từ năm 2006 đến năm 2010.
Chương 2: Đảng bộ tỉnh tăng cường lãnh đạo công tác Đoàn và phong
trào thanh niên từ năm 2011 đến năm 2015.
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử.
11
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC ĐOÀN VÀ PHONG TRÀO THANH NIÊN
TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010
1.1. Một số yếu tố tác động đến sự lãnh đạo công tác Đoàn và phong trào
thanh niên của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
1.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng công tác Đoàn và phong trào
thanh niên ở Thanh Hóa trước năm 2006
Tình hình kinh tế - xã hội
Thanh Hóa là một tỉnh có diện tích rộng (Diện tích tự nhiên là 11.168
Km2 và 1876 Km2 thềm lục địa); phía Bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hoà Bình,
anh hùng dân tộc, có truyền thống cách mạng lâu đời, có các di tích lịch sử
văn hoá nổi tiếng như: Khu di tích Lam Kinh, thành Nhà Hồ, nhiều danh lam
thắng cảnh đẹp như vườn quốc gia Cúc Phương, Bến En…, nhiều bãi biển
đẹp thuận lợi phát triển kinh tế du lịch, dịch vụ.
Bên cạnh đó, tỉnh Thanh Hóa cũng đang gặp phải những khó khăn,
thách thức lớn. Tỉnh có địa bàn khá rộng, trong đó vùng núi chiếm hơn 2/3
diện tích lãnh thổ với địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, kinh tế chậm phát
triển, kết cấu hạ tầng còn nhiều yếu kém, thiếu đồng bộ, nếp sinh hoạt và
phong tục tập quán sản xuất, trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc vùng
cao còn lạc hậu, dễ bị các thế lực phản động lợi dụng kích động, lôi kéo, ảnh
hưởng lớn đến khả năng thu hút đầu tư từ bên ngoài, nhất là đầu tư nước
ngoài để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Dù là một tỉnh có đất rộng, dân
đông, nhưng Thanh Hóa vẫn là một trong số các tỉnh nghèo, quy mô sản xuất
còn nhỏ bé, giản đơn, nguồn vốn từ nội bộ nền kinh tế của tỉnh còn rất hạn
chế, do GDP bình quân đầu người chỉ bằng 65% mức trung bình cả nước.
13
Khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa vùng thấp với vùng cao, giữa nông
thôn và thành thị và giữa khu vực nông nghiệp (chiếm đại đa số) với khu vực
phi nông nghiệp còn rất lớn (thu nhập bình quân đầu người khu vực nông
nghiệp mới đạt dưới 3 triệu đồng/năm, chỉ bằng 40% mức thu nhập bình quân
toàn tỉnh), đây cũng là một thách thức lớn cần giải quyết. Những năm qua nền
kinh tế của tỉnh tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững chắc. Chất lượng tăng
trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, chưa hình thành các ngành mũi
nhọn, các sản phẩm chủ lực một cách rõ nét. Tỷ lệ lao động làm việc trong
lĩnh vực nông, lâm nghiệp (là lĩnh vực có năng suất lao động thấp) vẫn là chủ
yếu (trên 70%), công nghiệp và dịch vụ phát triển chậm.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong tỉnh tuy đã được cải tạo, nâng cấp
thuộc 1303 Đoàn cơ sở ở 36 Huyện thị - thành đoàn và Đoàn trực thuộc; số
lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn trong toàn tỉnh đã được nâng lên.
Nhìn chung ĐVTN Thanh Hóa có lòng yêu nước, đoàn kết, tương thân tương
ái, hiếu học, cần cù, sáng tạo, có ý chí vượt khó, tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng trong công cuộc đổi mới quê hương đất nước.
Tình hình công tác Đoàn và phong trào thanh niên Thanh Hóa
trước năm 2006
Nhờ có sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, sự
phối hợp của các ban ngành, đoàn thể trong tỉnh, công tác Đoàn và phong trào
thanh niên Thanh Hoá trong những năm qua đã có những chuyển biến tích
cực: nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn từng bước được đổi mới; các
phong trào thanh niên ngày càng đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính
đáng của thanh niên; do đó ngày càng tập hợp được đông đảo thanh niên tham
gia vào các tổ chức, phong trào do Đoàn phụ trách. Những đóng góp của
15
thanh niên trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an
ninh, trật tự an toàn xã hội những năm qua là rất đáng ghi nhận.
Tuy nhiên, chất lượng và phương thức hoạt động của một số cấp bộ
Đoàn trong tỉnh vẫn chậm đổi mới, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của
thanh niên và yêu cầu của xã hội. Nhiều vấn đề xã hội bức xúc trong thanh
niên chậm được giải quyết như: học tập, vui chơi giải trí, việc làm, thu nhập,
vv… Một bộ phận không nhỏ thanh niên sau khi tốt nghiệp các trường Đại
học, cao đẳng về địa phương không xin được việc làm, hoặc phải xin vào làm
công nhân với các công việc trái ngành học trước đó, phải đào tạo lại, một số
lớn phải đi nơi khác tìm việc làm…. Đội ngũ cán bộ Đoàn chưa được quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng một cách có hệ thống, chưa đáp ứng được yêu cầu
chỉ đạo và tổ chức hoạt động cho ĐVTN. Thực trạng đó tác động rất lớn đến
bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ
đối ngoại, chủ động và hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
đại” [31, tr. 630-631]
Đại hội cũng nhấn mạnh vai trò của lực lượng thanh niên, công tác
thanh niên và coi đây là một trong những điều kiện quyết định thắng lợi các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước. Đại hội chỉ đạo các cấp bộ Đoàn cần
phải có các giải pháp thiết thực nhằm thu hút rộng rãi thanh niên tham gia vào
các tổ chức do Đoàn thanh niên phụ trách; các cấp ủy Đảng và chính quyền có
chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp, lắng nghe ý kiến của nhân dân (trong đó
có ĐVTN).
Trong nghị quyết hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương khóa X về
“Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đai hóa đất nước”, Số: 20-NQ/TW ngày 28 tháng 1 năm
2008, Đảng nhấn mạnh đặc biệt quan tâm xây dựng thế hệ công nhân trẻ có
17
học vấn, chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và
quốc tế, có lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng, trở thành bộ
phận nòng cốt của giai cấp công nhân. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh
phải gắn liền với xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức, xây dựng tổ chức công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các tổ
chức chính trị - xã hội khác trong giai cấp công nhân vững mạnh.
Để tăng cường sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác thanh
niên, Hội nghị lần thứ bảy BCH TW khóa X ra nghị quyết số 25/NQ/TW ngày
25/7/2008 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” nêu rõ mục tiêu của Đảng là
tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường
trình độ, có tri thức và kĩ năng, nâng cao chất lượng lao động trẻ; giải quyết
việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho ĐVTN; xây dựng môi trường
xã hội lành mạnh, tạo điều kiện cho ĐVTN nâng cao đời sống văn hóa tinh
thần, phát triển toàn diện; coi trọng hơn nữa việc trọng dụng tài năng trẻ, tạo
bước chuyển có tính đột phá trong bố trí và sử dụng cán bộ trẻ trên tất cả các
lĩnh vực; xây dựng tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh vững mạnh, thực sự là
trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, đội dự bị tin cậy của Đảng; tăng
cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức kinh tế - xã hội và
gia đình, phối hợp giáo dục, bồi dưỡng, phát huy vai trò của thanh niên; phát
huy sự nỗ lực phấn đấu của mỗi thanh niên trong học tập, lao động và cuộc
sống; không ngừng rèn luyện đạo đức, lối sống, hoàn thiện nhân cách trở
thành công dân hữu ích, thành viên tốt trong giáo dục, tích cực đóng góp cho
sự phát triển của đất nước; nhà nước quản lý thanh niên và công tác thanh
niên; thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng về thanh niên và công tác
thanh niên thành pháp luật, chính sách, chiến lược, chương trình hành động và
cụ thể hoá trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo
đảm quốc phòng, an ninh hằng năm của các cấp, các ngành.
19
Ngày 11 tháng 9 năm 2009, Chính phủ ra nghị quyết số 45/NQ-CP ban
hành chương trình hành động của chính phủ thực hiện nghị quyết hội nghị lần
thứ VII BCH TW Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác thanh niên, có nêu rõ: chú trọng xây dựng thế hệ thanh niên Việt
Nam giàu lòng nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, có lối
sống văn hóa, vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có
sức khỏe, tri thức, kĩ năng và tác phong công nghiệp, đáp ứng yêu cầu của
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.