3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua quá trình lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân
tộc Việt Nam đã hình thành một nền giáo dục đặc sắc, đó là truyền thống dạy
chữ để làm người. Những người yêu nước Việt Nam từ xưa đến nay bao giờ
cũng chăm lo đến sự nghiệp giáo dục, tiêu biểu nhất là Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh. Theo Người: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, vì thế trong thư
gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam độc lập tháng
9-1945, Người đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không,
dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang hay không một phần lớn là nhờ
công lao học tập của các em” [29, tr.33]
Phát huy truyền thống dân tộc, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng
Việt Nam, Đảng ta luôn quan tâm chăm lo đến sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Đảng
coi sự nghiệp giáo dục là một mặt trận đặc biệt quan trọng trong công cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Trong mấy thập kỷ gần đây, cuộc cách mạng KH-CN trên thế giới đã
phát triển như vũ bão, đưa KH-CN đạt tới trình độ rất cao, tạo tiền đề hình
thành nền văn minh trí tuệ.Trong hoàn cảnh đó, nước ta chỉ có thể sớm thoát
khỏi nghèo nàn, lạc hậu so với các nước phát triển, nếu có chiến lược đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng tiếp thu, làm chủ và ứng dụng
sáng tạo những thành tựu KH-CN tiên tiến của thời đại. Muốn vậy, GD-ĐT
phải đi trước một bước để tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế-xã hội
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, qua các kỳ Đại hội VI,
VII, VIII, IX cùng với các NQTW4 (KhoáVII), NQTW 2 (KhoáVIII) và
NQTW 6 (Khoá IX), Đảng ta đã từng bước đổi mới và hoàn chỉnh đường lối
giáo dục - đào tạo. Đường lối đó thể hiện rõ, giáo dục được coi là “quốc sách
4
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà lãnh
đạo phát triển giáo dục và đào tạo từ 1989 đến 2005” làm luận văn tốt nghiệp
cao học, ngành Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giáo dục và đào tạo là một vấn đề được mọi thời đại, mọi quốc gia quan
tâm. Do vậy, trên thế giới cũng như trong nước đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu về vấn đề này. Các công trình liên quan đến Luận văn có thể khái
quát thành các nhóm nghiên cứu sau:
Các tổ chức quốc tế, các nhà nghiên cứu nước ngoài bàn về GD-ĐT Việt
Nam: Tổ chức Văn hóa - Khoa học - Giáo dục của Liên Hợp Quốc(UNESCO)
có Dự án “Nghiên cứu tổng thể về giáo dục, đào tạo. Phân tích nguồn lực
VIE89/002”- Dự án báo cáo đánh giá tình hình giáo dục, đào tạo của Việt Nam;
Ngân hàng thế giới(WB)cùng với Bộ Giáo dục và Đào tạo nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam tổ chức hội thảo chủ đề “Lựa chọn chính sách cải cách giáo
dục đại học”, tại Hà Nội(8/1993); N.Borep xkaia “Cải cách giáo dục – chìa
khóa để phát triển mạnh mẽ kinh tế”, Hà Nội, 2002… Những công trình này chủ
yếu nghiên cứu mối quan hệ tác động của các nguồn lực, các chính sách lớn đến
giáo dục, đào tạo Việt nam.
Những bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước.
Tiêu biểu là các công trình của: Hồ Chí Minh, “Bàn về công tác giáo dục”,
Nxb ST, HN, 1972; Phạm Văn Đồng, “Về vấn đề giáo dục - đào tạo”, Nxb
Chính trị quốc gia, HN. 1999; Đỗ Mười, “Phát triển mạnh mẽ giáo dục - đào
tạo phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”,
Nghiên cứu giáo dục (01)1996. Các bài nói, bài viết này thể hiện những tư
tưởng, quan điểm cơ bản của Đảng ta về GD-ĐT trong công cuộc xây dựng
con người mới, xã hội mới.
Những công trình nghiên cứu, những chuyên khảo của tập thể, cá nhân
nhà khoa học về lĩnh vực giáo dục- đào tạo: Đề tài KX 04. 06 “Trí thức và thời
7
vực GD-ĐT của Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà từ 1989 đến 2005, dưới góc độ lịch
sử Đảng thì chưa có công trình nào đề cập tới. Tuy nhiên, các công trình nêu
trên là những tài liệu tham khảo quý giá đối với tác giả trong quá trình thực
hiện luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích: Làm rõ tính đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương và sự chỉ
đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà nhằm phát triển GD-ĐT từ 1989 đến 2005,
từ đó tiếp tục vận dụng thực hiện hiệu quả hơn đường lối GD-ĐT của Đảng
trong thời kỳ mới.
* Nhiệm vụ:
- Trình bày khái quát điều kiện tự nhiên, KT-XH, tình hình GD-ĐT ảnh
hưởng đến chủ trương phát triển GD-ĐT của Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà thời kỳ
1989 - 2005
- Làm rõ quan điểm, đường lối GD-ĐT của Đảng trong công cuộc đổi
mới CNH, HĐH đất nước.
- Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà nhằm
phát triển GD-ĐT từ 1989 đến 2005.
- Nêu lên những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; rút ra những kinh
nghiệm bước đầu trong quá trình Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lãnh đạo phát triển
GD-ĐT từ 1989 đến 2005.
* Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh
Hoà về GD-ĐT từ 1989 đến 2005.
*Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những quan điểm, chủ
trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa nhằm phát triển GD-ĐT
trên địa bàn tỉnh, thời gian từ tháng 7-1989 đến tháng 9-2005. Tuy nhiên để
đạt mục đích nghiên cứu, Luận văn còn đề cập đến một số vấn đề liên quan
Chương I
CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH KHÁNH HOÀ
VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỪ 1989 ĐẾN 2005
1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế –xã hội, tình hình giáo
dục và đào tạo của Khánh Hoà khi tái lập tỉnh
1.1.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh Khánh Hoà
Khánh Hoà là một tỉnh ở miền duyên hải Nam Trung Bộ, có tọa độ địa
lý từ 11045'50'' đến 12052'15'' vĩ Bắc và từ 108040'33'' đến 109027'55'' kinh
Đông. Ngoài diện tích đất liền Khánh Hoà còn có thềm lục địa, vùng lãnh
hải rộng lớn và hơn 200 đảo và quần đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên biển
Đông, trong đó có huyện đảo Trường Sa cách đất liền hàng trăm hải lý. Như
vậy, cả trên đất liền và hải đảo tỉnh Khánh Hoà nằm ở vùng đất phía cực
Đông của Việt Nam.
Khánh Hoà là một tỉnh có vị trí điạ lý quan trọng mang tầm chiến
lược, phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận, phía
Tây giáp hai tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng, phía Đông giáp biển Đông.
Khánh Hoà có diện tích tự nhiên là 5.197km 2. Địa bàn Tỉnh nằm trên trục
giao thông quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc - Nam, là cửa ngõ của Tây
Nguyên xuống đồng bằng qua quốc lộ 26. Bờ biển Khách Hoà dài 385km,
có nhiều cảng biển quan trọng, đặc biệt cảng Cam Ranh là một trong ba
cảng biển có điều kiện thiên nhiên nổi tiếng trên thế giới về mặt rộng, độ
sâu và kín gió. Khánh Hoà có các bãi biển tuyệt đẹp như Đại Lãnh, Dốc
Lết, Bãi Trũ, Vân Phong... và mới đây vịnh Nha Trang được công nhận là
một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Khánh Hoà còn có đường hàng không
nằm trong hành lang bay của đường bay Bắc - Nam với các sân bay Nha
Trang, Cam Ranh, rất thuận lợi cho phát triển du lịch.
10
tỉnh Khánh Hoà có 8 đơn vị hành chính, gồm một thành phố tỉnh lỵ là thành phố
Nha Trang, một thị xã Cam Ranh và sáu huyện: Vạn Ninh, Ninh Hoà, Diên
Khánh, Khánh Vĩnh, Khánh Sơn và huyện đảo Trường Sa. Toàn Tỉnh có 137 xã,
phường, thị trấn, trong đó có 104 xã, 28 phường, 5 thị trấn; có 23 xã, thị trấn
miền núi, 32 xã ven biển và 2 xã đảo[17, tr.10,13,15].
Khánh Hoà là tỉnh có dân số đông, gia tăng mạnh sau thời kỳ thống
nhất đất nước. Năm 1989 có 822.223 người, đến năm 2005 có số dân tăng lên
gần 1,2,triệu người, trong đó người Kinh chiếm đa số (khoảng 95%) ngoài ra
còn có 31 dân tộc thiểu số khác như Raglây, Êđê, Kơho, Chăm, Hoa ... Mật
độ dân số trung bình của Tỉnh là 224 người/km 2. Khánh hòa có địa bàn nông
thôn rộng với hơn 60% dân cư sinh sống và lao động trong lĩnh vực nông
nghiệp, số dân cư làm nghề biển là 10,3%, dịch vụ là 11,2% và công nghiệp là
12,7%[17, tr.15,28].
Nền kinh tế Khánh Hòa, 16 năm qua phát triển nhanh và năng động. Thu
ngân sách năm 2005 đạt 3.406 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2000. Thu
nhập bình quân đầu người năm 2005 đạt 768USD. Tổng sản phẩm nội địa(GDP)
tăng bình quân hằng năm khoảng 10,84%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực
theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các ngành dịch vụ và công nghiệp. Năm 2005,
cơ cấu tổng sản phẩm theo khu vực kinh tế là: Công nghiệp 40,9%, dịch vụ
41,1%, nông nghiệp 18%, tỷ trọng thành phần kinh tế ngoài nhà nước tăng lên
67%. Kinh tế đối ngoại, kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh về số lượng và chuyển
biến tốt về chất lượng. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt 458 triệu USD, trong
đó xuất khẩu địa phương đạt 416 triệu USD, nhập khẩu là 205 triệu USD[4, tr .
14,15,16,17]. Cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, đặc biệt là cơ sở hạ tầng
về giao thông, điện, thủy lợi, trường học, bệnh viện, thiết chế văn hóa…Chương
trình phủ điện nông thôn(1996-2000) đã đưa điện lưới quốc gia đến 100% xã,
thôn, buôn trong toàn tỉnh.
12
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, cũng như mọi người dân Việt Nam
nhân dân Khánh Hoà đã hưởng ứng phong trào Cần Vương cứu nước. Lịch sử
Khánh Hoà mãi mãi ghi nhớ công ơn của những người con ưu tú đã hi sinh vì
nghiệp lớn như: Trịnh Phong, Trần Đường, Nguyễn Khanh,... Các ông đã được
nhân dân nhắc đến với lòng kính trọng và tự hào sâu sắc. Trong những năm đầu
của thế kỷ XX, Khánh Hoà cũng là nơi hoạt động của các nhà chí sĩ yêu nước
như: Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp... những người đề
xướng phong trào Duy Tân nhằm khuyến khích tân học, khai dân trí, chấn dân
sinh.
Ngày 24-2-1930, Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà được thành lập. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ, phong trào cách mạng được mở rộng và phát triển.
Đông đảo quần chúng nhân dân đã tham gia các phong trào đấu tranh ủng hộ
Xô Viết Nghệ - Tĩnh, chống sưu cao, thuế nặng, đòi dân sinh, dân chủ… Đến
ngày 19-8-1945, chính quyền cách mạng ở Khánh Hoà chính thức được thành
lập(cùng ngày với thủ đô Hà Nội), chấm dứt ách nô lệ của thực dân phong
kiến và tay sai.
Nhưng niềm vui “đổi đời "không bao lâu thì thực dân Pháp trở lại xâm
chiếm Sài Gòn rồi tiến ra Nha Trang. Ngày 23-10-1945, nhân dân Nha Trang
đã nổ súng chống lại sự xâm chiếm của thực dân Pháp, mở đầu cho 101 ngày
đêm chiến đấu anh dũng, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí
Minh "Chính phủ Dân chủ cộng hoà rất khen ngợi chiến sĩ ở các mặt trận
miền Nam, đặc biệt là các chiến sĩ ở Nha Trang và ở Trà Vinh, đã làm gương
anh dũng cho toàn quốc. Tổ quốc biết ơn các bạn, toàn thể đồng bào noi
gương các bạn"[29, tr.120]. Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp,
tỉnh Khánh Hoà là chiến trường vùng sau lưng địch. Quân và dân Khánh Hoà
đã làm nên nhiều chiến thắng to lớn, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống
14
Nền giáo dục cách mạng Khánh Hoà, kể từ mùa thu năm 1945 đến nay
cũng vừa tròn 60 năm. Trong đó 30 năm trước ngày giải phóng (1945-1975),
hầu hết vùng đất Khánh Hoà nằm trong vùng tạm chiếm, chính quyền cách
mạng chủ yếu ở các vùng chiến khu rừng núi. Trong bối cảnh chiến tranh đầy
gian khổ và ác liệt, sự nghiệp giáo dục không thể mở mang được, chủ yếu là
các lớp bình dân học vụ, xoá mù chữ, các lớp bổ túc văn hoá dành cho con em
nhân dân trong vùng giải phóng, cho cán bộ chiến sĩ và nhất là cho bà con dân
tộc thiểu số được biết ánh sáng văn hoá của cách mạng, được biết "cái chữ"
của Bác Hồ.
Nền giáo dục Khánh Hoà chỉ thực sự phát triển là từ năm 1975 đến
nay. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Khánh Hoà cùng với cả nước
khẩn trương bắt tay vào việc khắc phục hậu quả chiến tranh, chung sức, chung
lòng xây dựng quê hương. Mặc dù phải đương đầu với không ít khó khăn, thử
thách trên các lĩnh vực chính trị - xã hội, nhưng trên cơ sở xác định phát triển
giáo dục là một trong những nhiệm vụ quan trọng cần ưu tiên hàng đầu, Đảng
bộ và nhân dân Khánh Hoà đã đồng cam cộng khổ, quyết tâm khắc phục khó
khăn thiếu thốn, dành hết tâm huyết, sức lực để tiến hành cải tạo nền giáo dục
cũ, xoá bỏ những tàn tích văn hoá tư tưởng của địch, từng bước xây dựng và
phát triển sự nghiệp giáo dục XHCN. Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vô cùng lớn
lao là vừa đẩy mạnh công tác xoá nạn mù chữ cho hàng vạn nhân dân lao động,
vừa không ngừng mở rộng các ngành học, cấp học, đảm bảo quyền lợi học tập
của con em nhân dân. Trong tiến trình đổi mới của đất nước, Tỉnh đã không
ngừng tăng cường đầu tư, chỉ đạo về mọi mặt để tạo đà cho sự nghiệp giáo
dục vươn lên tầm cao mới.
Trong 30 năm xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục Khánh Hoà
(1975-2005), có những dấu mốc đáng ghi nhớ, đó là:
16
sinh sống tập trung - dù nơi ấy là miền núi, hải đảo, vùng kinh tế mới... cũng
đều có lớp học và các thầy cô giáo đứng lớp, kiên quyết không để người dân
thất học vì thiếu thầy, thiếu lớp.
Ngày 1-7-1989 Phú Khánh lại được tách ra. Thời điểm tái lập tỉnh Khánh
Hoà, gắn liền với những năm đầu đổi mới đất nước. Các cấp uỷ Đảng, chính
quyền và các lực lượng xã hội của Khánh Hoà có điều kiện chăm lo chu đáo hơn
cho sự nghiệp giáo dục của tỉnh. 16 năm học qua, GD-ĐT Khánh Hoà đã thu
được những thành tựu to lớn, đây là bước phát triển mới của giáo dục tỉnh nhà
cần được đánh giá đúng để làm cơ sở cho các bước phát triển tiếp theo.
18
Bảng : Quy mô giáo dục Khánh Hoà khi tái lập tỉnh
Ngành học
* Phổ thông
Trường
Lớp
Giáo viên
Học sinh
* Nhà trẻ
Nhà
Nhóm
Giáo viên
Học sinh
* Mẫu giáo
Trường
Lớp
Giáo viên
Học sinh
2.510
92
912
1.203
24.853
101
905
1.161
23.329
321
2.049
310
2.269
539
139
44
110
109
55
Nguồn : Sở giáo dục Khánh Hoà - Báo cáo công tác năm 1990.
1.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà về phát triển giáo
dục và đào tạo từ 1989 đến 2005
1.2.1. Quan điểm, đường lối của Đảng về giáo dục và đào tạo trong
lên trình độ tiên tiến của thế giới"[19, tr.79] và “mục tiêu của giáo dục- đào tạo
nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài"[19, tr.81]
Để cụ thể hóa đường lối của Đại hội VII, Hội Nghị lần thứ 4 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, khoá VII (1993) đã ra Nghị quyết “về tiếp tục đổi mới
sự nghiệp giáo dục, đào tạo”. Nghị quyết đã xác định 4 quan điểm chỉ đạo sau:
20
Một là: Cùng với KH-CN, GD-ĐT được coi là quốc sách hàng đầu. Đó là
động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản đảm bảo cho việc thực hiện những
mục tiêu KT - XH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hai là: Phát triển GD-ĐT phải nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài.
Ba là: Giáo dục và đào tạo phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất
nước, vừa phải hợp với xu thế tiến bộ của thời đại.
Bốn là: Đa dạng hoá các hình thức đào tạo. Thực hiện công bằng xã hội
trong giáo dục và đào tạo.
Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) còn đề ra 12 chủ trương, chính
sách và giải pháp lớn nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và 3 năm thực hiện NQTW
4 (khoá VII) "sự nghiệp giáo dục đào tạo... và nhiều hoạt động xã hội khác có
những mặt phát triển và tiến bộ" [20, tr.60]. Riêng trong hoạt động giáo dục đã
đa dạng hoá các loại hình giáo dục, sắp xếp mạng lưới trường học, củng cố hệ
thống trường chuyên, lớp chọn, các trường phổ thông dân tộc nội trú. Việc học
nghề, học ngoại ngữ và tin học phát triển ở các đô thị. Tuy nhiên, bên cạnh đó
giáo dục vẫn chưa ra khỏi tình trạng yếu kém cả về chất lượng và hiệu quả.
Nhiều vấn đề về nội dung chương trình, phương thức đào tạo chưa được xác
định phù hợp với yêu cầu phát triển. Nhiều trường, sở xuống cấp nghiêm trọng,
thiết bị thí nghiệm, nghiên cứu khoa học thiếu thốn và lạc hậu. Tình trạng yếu