3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia ven Biển Đông, có bờ biển dài 3260 km,
thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán rộng một triệu km 2, với nhiều
vịnh biển có giá trị và hơn 3000 đảo lớn, nhỏ; trong đó có hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa án ngữ ngoài cửa biển; Việt Nam được coi là nước có
vị trí chiến lược thuận lợi về biển. Vùng biển, đảo Việt Nam giàu tài nguyên
thiên nhiên và có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh quốc gia
và khu vực. Do vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, và an
ninh - quốc phòng, cho nên vấn đề khai thác nguồn lợi biển và quản lý, bảo vệ
vùng biển, đảo của Tổ quốc đã được đặt ra như một tất yếu từ rất sớm trong
quá trình xây dựng, phát triển đối với dân tộc ta.
Từ năm 1945 đến nay, cùng với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân
chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), lịch sử
chinh phục biển, đảo Tổ quốc đã bước sang một trang mới. Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, quản lý của Nhà nước ta, vùng biển, đảo của Tổ quốc, đã và đang
dần có một vị thế xứng đáng trong quá trình phát triển đi lên của dân tộc.
Thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm
2001, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo luôn được Đảng đặc biệt quan
tâm và coi đó là nhiệm vụ trọng yếu trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam XHCN.Tuy nhiên, bảo vệ chủ quyền biển, đảo là bảo vệ một địa bàn vô
cùng phức tạp và hết sức nhạy cảm, liên quan tới nhiều yếu tố lịch sử, pháp lý,
trong đó có cả những yếu tố chưa có sự đồng thuận trong đời sống chính trị quốc
tế.
Hiện nay, trong xu thế nguồn tài nguyên trên lục địa ngày càng cạn
kiệt, khi khoa học - công nghệ phát triển cho phép con người có thể khai
thác nguồn lợi biển tốt hơn, các quốc gia ven biển trên thế giới và một số
5
phía trước còn dài và có nhiều thử thách; hướng phát triển về biển trong đó
gắn phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển
phải được coi là ưu tiên số một; vươn lên trở thành một quốc gia mạnh về
biển là thách thức lớn đối với dân tộc và đối với sự nghiệp cách mạng của
Đảng. Thách thức đó đang đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam hơn lúc nào hết
cần phải nêu cao bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần độc lập, tự chủ, sáng
tạo của một Đảng cầm quyền, để đề ra những quyết sách kịp thời, đúng đắn
nhằm bảo vệ vững chắc vùng biển, đảo Tổ quốc, tạo điều kiện đưa đất nước
tiếp tục vươn lên.
Làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong thời
kỳ đổi mới toàn diện đất nước từ năm 1986 đến năm 2001, qua đó rút ra những
kinh nghiệm quý báu là việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và tính
thời sự cấp thiết.
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn vấn đề “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc từ năm 1986 đến năm 2001” làm đề
tài luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Bảo vệ chủ quyền biển, đảo là nhiệm vụ trọng yếu trong Chiến lược
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đó là một vấn đề lớn có ý nghĩa lý luận,
thực tiễn sâu sắc, nên luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các đồng chí
lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội ta và của nhiều nhà khoa học trong,
ngoài nước, tiêu biểu là các công trình sau:
Các bài viết của các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội:
Nông Đức Mạnh (Tổng Bí thư BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam), với bài
“Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt cùng toàn dân bảo vệ
vững chắc vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc” – Báo QĐND ngày 8-52005; Trần Đức Lương (nguyên Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
6
Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, với đề tài cấp Nhà nước “Hợp đồng nghiên
cứu khoa học về lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa” – Mã số BĐHĐ 01-01; Vụ Biển, Ban biên giới, Bộ Ngoại giao,
với đề tài “Chiến lược bảo vệ chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các
vùng biển, đảo Việt Nam đến năm 2020” - Đề tài khoa học cấp Nhà nước do
Thạc sỹ Huỳnh Minh Chính làm chủ nhiệm – Hà Nội 2003… Đây là những
công trình nghiên cứu có giá trị, phản ánh tổng quan lịch sử vùng biển, đảo
Việt Nam, đồng thời đề ra các giải pháp, biện pháp để thực hiện nhiệm vụ bảo
vệ vùng biển, đảo Tổ quốc. Trong các công trình nghiên cứu nêu trên, đáng
chú ý là đề tài “Chiến lược bảo vệ chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên
các vùng biển, đảo Việt Nam đến 2020”. Đề tài này đã làm rõ được nhiều vấn
đề liên quan đến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với nhiệm
vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc; đề tài đã đề ra các giải pháp chiến
lược cụ thể để Việt Nam có thể phấn đấu trở thành một quốc gia mạnh về biển
trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài…
Một số công trình nghiên cứu của nước ngoài, đề cập đến vấn đề tranh
chấp chủ quyền trên Biển Đông giữa các nước trong khu vực, đặc biệt là vấn
đề tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ví dụ như:
Đaniel. J.Dzurck, với “Cuộc tranh chấp quần đảo Trường Sa: ai là người sở
hữu đầu tiên?” – Tạp chí Thông tin biển, số 2 - 1996; Monique Chemilier –
Gendreau, với “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” – Nxb
CTQG, Hà Nội 1996; Paul Medes Antunes, với “Phân tích về địa lý - chính
trị cuộc xung đột và tranh chấp biên giới Trung – Việt liên quan đến quần
đảo Paracel và Spraly ở biển Nam Trung Hoa” (Luận án tiến sĩ – 2002,
Trường Đại học Pari I, Tatheon Sorbone – bản dịch lưu tại Ban Biên giới, Bộ
Ngoại giao); Viện Nghiên cứu các vấn đề Châu Á tại Ham Buốc, với “Các
8
đảo tranh chấp ở vùng biển Nam Trung Hoa, Hoàng Sa – Trường Sa – Pratas
* Đối tượng: Đề tài nghiên cứu chủ trương và chỉ đạo của Đảng
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc từ năm 1986
đến năm 2001.
* Phạm vi:
- Về thời gian: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến việc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bảo vệ chủ quyền
biển, đảo từ tháng 12 năm 1986 đến tháng 4 năm 2001. Tuy nhiên, để
có cơ sở luận giải sâu sắc vấn đề, tác giả vẫn phải đề cập khái quát đến
một số vấn đề có liên quan diễn ra trước tháng 12 năm 1986 và sau
tháng 4 năm 2001;
- Về nội dung: Nội dung bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc theo tư
duy mới của Đảng, có nội hàm rộng, bao gồm nhiều vấn đề liên quan đến
chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của nước ta trên biển gắn với
các nhiệm vụ cụ thể như bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng,
Nhà nước, nhân dân; bảo vệ nền văn hoá và lợi ích dân tộc; bảo vệ trật tự an
ninh, môi trường biển...Tuy nhiên, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan
tác giả chưa có điều kiện nghiên cứu tất cả. Trong khuôn khổ của luận văn
tốt nghiệp cao học tác giả chỉ tập trung đi sâu luận giải vấn đề Đảng lãnh
đạo bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc gắn với nhiệm vụ bảo vệ độc lập
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia Việt Nam trên các vùng biển, đảo
Tổ quốc.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luật
pháp quốc tế về biển (Công ước biển 1958, Luật biển 1982) và quan điểm,
10
đường lối của Đảng về bảo vệ chủ quyền biển, đảo là cơ sở lý luận chủ yếu để
các tác giả thực hiện đề tài.
đảo Malaixia ở phía Nam; bán đảo Đông Dương ở phía Tây và lục địa Nam
Trung Hoa ở phía Bắc. Trong sinh hoạt quốc tế, Biển Đông thường được gọi
là biển Nam Trung Hoa (The south China sea), theo nguyên tắc đặt tên quốc
tế, dựa vào vị trí tương đối gần nhất của một lục địa tiếp giáp lớn nhất đó là
lục địa Trung Hoa, hoàn toàn không có hàm nghĩa Biển Đông thuộc sở hữu
riêng của người Trung Quốc. Thực tế, theo tập quán lịch sử gắn với chủ
quyền lãnh thổ của các quốc gia được xác lập từ rất lâu đời và được quốc tế
thừa nhận, cũng như theo Công ước Luật biển quốc tế quy định (Công ước
1958 và Luật biển quốc tế 1982), Biển Đông gắn với chủ quyền và lợi ích trực
tiếp của các quốc gia: Việt Nam, Thái Lan, Inđônêxia, Malayxia, Philippin,
Brunây, Campuchia, Singapo và Trung Quốc.
Về mặt địa lý, Biển Đông là một biển nửa kín nằm ở phía Tây Thái
Bình Dương, có diện tích vào khoảng 3triệu 400.000km 2, trải dài từ vĩ độ 3 0
lên đến vĩ độ 260 Bắc và từ kinh độ 1000 đến 210 Đông với độ sâu trung bình là
1140m và độ sâu cực đại là 5016m. Đường trục dài nhất của Biển Đông kéo
dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam tính từ đường ranh giới phía Bắc (Phúc
Kiến – Bắc Đài Loan) đến đường ranh giới phía Nam (Sumatra – Bankan –
Bilitơn – Borneo) dài khoảng 3520km. Nơi rộng nhất của Biển Đông không
12
qúa 600 hải lý (khoảng gần 1200km). Biển Đông thông với Thái Bình Dương
qua eo biển Đài Loan (phía Đông Bắc) và eo biển Basi nằm giữa Philipin và
Đài Loan. Về phía Tây Nam, con đường duy nhất trực tiếp nối biển Đông với
Ấn Độ Dương là eo biển Malacca. Về phía Đông Nam, có thể đi qua eo biển
sâu Mondoro và eo biển Balabac để đến biển Sulu – một biển nối liền Ấn Độ
Dương với Thái Bình Dương.
Biển Đông, được coi như “một biển đảo”, với hàng ngàn các đảo lớn
nhỏ, trong đó có 2 quần đảo án ngữ trung tâm Biển Đông, thuộc chủ quyền
của Việt Nam là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Việt Nam là một quốc gia nằm trên bờ phía Tây của Biển Đông, có vị
trí chiến lược thuận lợi về biển. Việt Nam có bờ biển dài 3260km, được coi là
quốc gia có tỷ lệ chiều dài bờ biển so với đất liền thuộc loại cao nhất thế giới.
Tỷ lệ chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của Việt Nam là 0,01 đứng đầu
Đông Nam Á và đứng thứ 27 trên tổng số 157 quốc gia ven biển trên thế giới
(trên thế giới, trung bình 600km 2 đất liền mới có 1km bờ biển, tỷ lệ đó ở Việt
Nam là 100km2/1km; Thái Lan là 140km2/1km; Trung Quốc là 500km2/1km).
Ngoài hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam có hệ thống đảo
ven bờ bao gồm hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ với tổng diện tích trên 1600km 2,
trong đó có 24 đảo có diện tích trên 10km 2, 84 đảo có diện tích 1km2, 66 đảo
có cư dân sinh sống, với tổng dân số khoảng 155.000 người. Mật độ dân số
trung bình trên các đảo là 95người/km 2. Các đảo lớn nhất là Đảo Phú Quốc
(567 km2 có 50.000 người dân sinh sống), đảo Cái Bầu (200km 2/ 21.000 dân),
đảo Cát Bà (149km2/15.000 dân), đảo Phú Quý (32km2/18.000 dân), Côn
Đảo (56,7km2/21.000 dân), đảo Lý Sơn (3km2/ 16.000 dân). Hệ thống các đảo
ven bờ và xa bờ của Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng: Đó là những
điểm tiền tiêu bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cũng là điểm tựa thuận lợi để khai
thác các nguồn lợi, phát triển kinh tế biển và vươn ra khai thác biển cả trong
14
tương lai.
Theo luật pháp quốc tế về biển, đặc biệt là Công ước của Liên hợp
quốc về Luật biển (1982), một quốc gia ven biển có chủ quyền, quyền chủ
quyền và quyền tài phán trên vùng biển bao gồm: vùng nội thuỷ, vùng lãnh
hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa.
Trong đó quy định:
Vùng nội thuỷ, là vùng biển nằm phía trong của đường cơ sở để tính
chiều rộng lãnh hải. Vùng nước thuộc nội thuỷ có chế độ pháp lý như lãnh thổ
trên đất liền. Đây là vùng thuộc chủ quyền hoàn toàn bất khả xâm phạm của
lãnh hải, hoặc không quá 100 hải lý bên ngoài đường đẳng sâu 2.500m. Đối
với thềm lục địa, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán
tương tự như trong vùng đặc quyền kinh tế. Quyền chủ quyền của quốc gia
ven biển trên thềm lục địa là đương nhiên, không phụ thuộc vào việc quốc
gia đó có tuyên bố hay không.
Ngoài việc quy định các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán
của quốc gia ven biển, luật pháp quốc tế cũng quy định rõ chế độ pháp lý đối
với Biển cả, Vùng hay còn gọi là Công biển và đáy đại dương.
Biển cả (Công biển): là vùng biển nằm ngoài các vùng biển thuộc phạm
vi chủ quyền và quyền tài phán của những quốc gia ven biển. Biển cả được để
ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù là những quốc gia có biển hay không có biển.
Trong vùng biển này, tất cả các quốc gia đều được hưởng các quyền tự do,
như: tự do hàng hải; tự do hàng không; tự do đặt các dây cáp và ống dẫn
ngầm; tự do xây dựng các đảo nhân tạo và các thiết bị khác được pháp luật
quốc tế cho phép; tự do đánh bắt hải sản và tự do nghiên cứu khoa học…
Vùng (đáy đại dương): là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài
các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia. Vùng và tài nguyên của Vùng là di
sản chung của nhân loại. Mọi quốc gia đều có quyền tiến hành thăm dò, khai
16
thác trên phạm vi Vùng theo đúng nguyên tắc bảo đảm các lợi ích của những
quốc gia khác thông qua Cơ quan quyền lực quốc tế được thành lập theo quy
định của Công ước 1982. Cơ quan quyền lực quốc tế có nhiệm vụ điều chỉnh,
giám sát sự công bằng cho mỗi quốc gia ở Vùng tránh tình trạng các nước có
tiềm lực khoa học kỹ thuật mạnh, lấn át các nước nghèo chậm phát triển (đây
cũng là một trong những lý do mà Mỹ không ký kết hiệp ước này) [5, tr15- 34 ].
Ngày 23-6-1994, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá IX, kỳ họp thứ 5, đã ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên hợp
quốc về Luật biển năm 1982 (Công ước này có hiệu lực từ ngày 16-11-1994).
thực phẩm cho cư dân nước ta, đồng thời đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu
mang lại nguồn lợi kinh tế to lớn cho đất nước.
Nguồn tài nguyên khoáng sản: Về tiềm năng khoáng sản trên vùng biển
Việt Nam, cho đến nay chưa có sự khảo sát đầy đủ. Tuy nhiên, bước đầu có
thể thấy vùng biển, đảo Việt Nam chứa đựng trong lòng nhiều nguồn tài
nguyên khoáng sản như: Titan, zircon, thiếc, vàng, ilmenit, đất hiếm, cát thủy
tinh, dầu khí… trong đó, nhiều khoáng sản có trữ lượng lớn, đặc biệt có giá trị
kinh tế cao như dầu khí. Dầu khí được coi là nguồn tài nguyên quan trọng và
có giá trị kinh tế lớn nhất ở thềm lục địa Việt Nam (theo kết quả khảo sát của
các nhà khoa học, trong vùng Biển Đông chỉ tính riêng lượng dầu khí, trữ
lượng đã lên tới 14,1 tỷ thùng, trong đó ở thềm lục địa của biển Việt Nam trữ
lượng vào khoảng 2,9 tỷ thùng). Hiện nay, Việt Nam đã và đang tích cực đầu
tư công nghệ, kỹ thuật kết hợp với hợp tác quốc tế để thăm dò và từng bước khai
thác nguồn dầu khí ở vùng biển nước ta. Đến nay, chúng ta đã bước đầu xác định
được nhiều bồn trầm tích có khả năng dầu khí, như bồn Cửu Long, Nam Côn Sơn,
các bồn ở vùng biển Trung Bộ, bồn Sông Hồng và bồn Thổ Chu – Mã Lai trong
vịnh Thái Lan. Một số mỏ dầu khí đã đi vào khai thác với kết qủa khả quan, mang
lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước (mỏ Bạch Hổ, mỏ Rồng…).
18
Triển vọng phát triển ngành dầu khí ở nước ta là rất lớn. Ngành công
nghiệp dầu khí ở nước ta đang có những bước khởi sắc và ngày càng khẳng định
là một ngành kinh tế mũi nhọn mang lại nguồn lợi kinh tế cao cho Việt Nam.
Về giao thông vận tải biển: Việt Nam là một quốc gia ven Biển Đông,
có nhiều ưu thế về địa lý cho việc phát triển ngành giao thông hàng hải.
Người ta ví Việt Nam như một “ngôi nhà mặt phố” để nói tới tiềm năng to lớn
về phát triển thương mại, dịch vụ trong nước và quốc tế. Trong đó, cần phải
nói tới vị trí chiến lược của Việt Nam trong lĩnh vực hàng hải. Bờ biển Việt
Nam dài, vùng biển rộng với nhiều eo, vịnh biển, cửa sông phân bố khá dày
biển là cứu cánh trên bước đường sinh tồn và phát triển, người ta đã và đang
nói tới thế kỷ thứ XXI là thế kỷ của biển khơi – Thế kỷ đại dương. Điều đó
càng cho thấy, tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với cả nhân loại trong
qúa trình phát triển. Nước ta có lợi thế về biển, vùng biển, đảo rộng lớn của
nước ta giầu tiềm năng kinh tế, nếu chúng ta biết quản lý, bảo vệ và khai
thác tốt những tiềm năng đó, thì đây sẽ là tiền đề cơ sở có ý nghĩa lớn góp
phần đưa Việt Nam phát triển vững mạnh, nhanh chóng trở thành một nước
giàu có và phồn thịnh. Vì lẽ như vậy, hiện nay vấn đề khai thác tối đa tiềm
năng và lợi thế nhiều mặt của vùng biển, đảo Tổ quốc để phát triển kinh tế
biển vững mạnh với tốc độ phát triển nhanh, tạo sự chuyển biến cơ bản theo
hướng CNH, HĐH; tăng cường bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên
biển phải được coi là một trọng điểm trong việc thực hiện chiến lược kinh tế xã hội của nước ta.
Về mặt chính trị xã hội: Nước ta hiện nay có 28/64 tỉnh thành phố ven
biển với tổng dân số xấp xỉ 41,2 triệu người chiếm gần 50% dân số cả nước.
Trong đó có khoảng 21 triệu người trực tiếp sinh sống ở các vùng biển, đảo
và vùng ven biển. Tuy nhiên, mật độ dân số ở các vùng ven biển là không
đồng đều. Mật độ trung bình của các tỉnh ven biển trên cả nước là 369
20
người/km2. Riêng ở các tỉnh vùng biển phía Bắc tính từ Quảng Ninh đến Ninh
Bình mật độ là 981 người/km 2, còn ở khu vực từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên
Huế mật độ là 198 người/km 2; tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên cao; trình độ dân
trí tương đối thấp… Trong điều kiện, vùng biển, đảo nước ta hiện nay được
mở rộng ra phía biển với hơn 1 triệu km2, đây sẽ là địa bàn quan trọng để
chúng ta có thể phân bố lại cơ cấu dân cư trong vùng và trong toàn quốc, gắn
với tiến hành phân công lại lao động xã hội góp phần giải quyết sức ép về sự
gia tăng dân số và sự thiếu việc làm của cư dân trên phạm vi cả nước. Nếu
tiến hành tốt các chính sách điều chỉnh cơ cấu dân cư và phân công lại lao
động bằng việc thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế biển, đó sẽ là một
công kẻ thù khi bị kẻ thù gây sức ép và phong toả các lực lượng của ta trên
đất liền, đồng thời là điểm tựa để chúng ta vươn ra biển cả, mở rộng địa bàn
đứng chân, chủ động đánh địch từ xa trước khi chúng có ý đồ uy hiếp lãnh
hải Tổ quốc. Riêng hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm ở giữa Biển
Đông, án ngữ cửa biển nước ta, là hai quần đảo có vị trí chiến lược đặc biệt
cả về kinh tế và quân sự. Nắm giữ được hai quần đảo này sẽ cho phép có lợi
thế khống chế được các con đường hàng hải quan trọng đi qua Biển Đông,
đồng thời khống chế được mọi hoạt động diễn ra trong khu vực. Hoàng Sa
và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chính là “tấm lá chắn thép”
bảo vệ cửa ngõ trọng yếu của đất nước.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã luôn chú trọng
đến địa bàn biển, đảo, vì nơi đây là địa bàn sống của cư dân, đồng thời là
địa bàn xung yếu để xây dựng thế trận chiến lược chống kẻ thù xâm lược
bảo vệ Tổ quốc. Xuyên suốt lịch sử thời phong kiến , vùng biển, đảo Tổ
quốc luôn được quan tâm xây dựng phát triển, trở thành thế trận phòng thủ
lợi hại trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Thời Lý – Trần - Lê, các triều đại
phong kiến đã xây dựng tuyến phòng thủ Ngọc Vừng – Quan Lạn, trên
22
vùng biển Đông – Bắc. Cảng Vân Đồn trở thành một thương cảng, đồng
thời là một quân cảng nổi tiếng của Đại Việt. Năm 1172, vua Lý Nhân
Tông đã đích thân đi tuần tra các đảo ngoài biển và cho vẽ bản đồ các vùng
biển, đảo. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, việc vẽ bản đồ lãnh thổ
quốc gia trên biển được tiến hành. Thời nhà Nguyễn, dưới đời vua Minh
Mạng, Nhà nước đã cho ấn bản tập Thiên Nam Tứ Chi Lộ Đồ (theo một số
nguồn sử liệu, tập bản đồ này ra đời vào năm 1686), có ghi rõ địa danh hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên bản đồ đất nước. Cũng chính vua
Minh Mạng đã xuống lệnh cho cắm cột mốc, bia chủ quyền, xây dựng chùa
miếu và trồng cây ngoài các đảo Hoàng sa, Trường sa… Như vậy, rõ ràng
an ninh đất nước. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc không chỉ mang ý
nghĩa là bảo vệ một địa bàn sống, địa bàn phát triển kinh tế của đất nước,
mà đó còn là bảo vệ một địa bàn phòng thủ chiến lược lợi hại, nằm trong
thế trận quốc phòng – an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
1.1.2. Chính sách của các nước đối với Biển Đông và tác động của
nó tới việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của nước ta hiện nay
Trong xu thế nguồn nguyên liệu trên lục địa ngày càng cạn kiệt không
gian sống trên đất liền ngày càng trở nên chật chội do sự bùng nổ gia tăng dân
số, hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia có tiềm lực kinh
tế, khoa học - kỹ thụât, quân sự mạnh, như Anh, Pháp, Mĩ, Trung Quốc… Bắt
đầu bước vào một cuộc đua tranh lớn nhằm “tranh đoạt không gian sinh tồn”
trong khoảng không vũ trụ và tầng sâu hải dương. Hướng ra biển được coi là
xu thế phổ biến đối với tất cả quốc gia có biển, cũng như không có biển.
Biển Đông, do có vị trí cực kỳ quan trọng về kinh tế, quân sự đã trở
thành địa bàn có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển không chỉ đối với
Việt Nam, các nước xung quanh Biển Đông mà còn đối với cả nhiều cường quốc
khác như Mĩ, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc… Xuất phát từ nhiều lợi ích kinh tế,
24
chính trị khác nhau, các nước đều muốn khẳng định thế mạnh trên biển, để tranh
giành ảnh hưởng, cũng như lợi ích của mình ở địa bàn chiến lược này.
Đối với Mỹ: Vốn là một cường quốc hàng đầu của thế giới, nằm bên bờ
2 đại dương lớn là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Vì thế Mỹ khẳng
định, họ trước hết phải là “Một cường quốc đại dương”. Biển Đông có vị trí
chiến lược đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của khu vực và thế giới,
đồng thời cũng là khu vực mà Mỹ có nhiều đồng minh chính trị và lợi ích
kinh tế. Cho nên, Mỹ luôn tìm mọi cách tăng cường duy trì ảnh hưởng và sự
có mặt ở đây nhằm vừa bảo đảm an toàn cho con đường huyết mạch trên biển
giữa Mỹ với các nước Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, Trung Cận Đông…
thái độ cứng rắn và hành động kiên quyết hơn trong tranh chấp, khiến cho
tình hình thêm phần căng thẳng.
Đối với Nhật Bản: Là một quốc gia đảo, có diện tích không lớn
(372.000km2), nhưng dân số đã vượt quá 120 triệu người từ giữa thập kỷ 80
của thế kỷ XX, đất nước rất nghèo tài nguyên. Vì vậy, Nhật Bản coi hướng
phát triển về biển là yếu tố quan trọng để phát triển đất nước.
Theo người Nhật, Biển Đông có tầm quan trọng sống còn đối với nền
kinh tế của mình, xuất phát từ nhiều lý do, nhưng trong đó chủ yếu là vì:
Khoảng 50 – 70% lượng dầu nhập khẩu và 45% hàng hoá của Nhật Bản được
vận chuyển qua Biển Đông; Đông Nam Á là thị trường quan trọng của Nhật
Bản, đồng thời, đó cũng là nơi đang diễn ra sự tranh chấp gay gắt giữa Nhật
Bản với một số nước khác.
Nhật Bản muốn tăng cường vị thế chính trị ngang tầm với vị thế kinh tế
của mình trên thế giới, bằng cách can dự nhiều hơn vào các sự kiện của thế
giới và khu vực. Với Biển Đông, Nhật Bản muốn tăng cường ảnh hưởng của
mình, ngăn chặn, hạn chế tham vọng của Trung Quốc ở khu vực này, muốn
tham gia nhiều hơn vào việc giải quyết các vấn đề của Biển Đông, trong đó có
26
Trường Sa. Nhật Bản cũng muốn thăm dò, khai thác tài nguyên ở Biển Đông
và đặc biệt quan tâm đến nguồn dầu khí lớn ở đây. Vì lý do như vậy, Nhật
Bản đã tuyên bố đòi hỏi bảo đảm các con đường biển cách Nhật 1000 hải lý
(1852 km), bao gồm toàn bộ đường hàng hải trên Biển Đông. Về quân sự, tuy
chỉ có lực lượng phòng vệ, song Hải quân Nhật Bản đã được đánh giá là lực
lượng hải quân mạnh nhất khu vực Đông Á. Nhật Bản hiện có hơn 60 tàu hộ
vệ và tàu khu trục, 16 tàu ngầm, 200 máy bay chống tàu ngầm, 4 hạm đội
“Bát Đát” và 10 quần thể tàu bảo vệ. Bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ
XX, Nhật Bản trang bị tàu khu trục tên lửa cấp 2200 tấn, tàu ngầm cấp 2400
tấn, tàu tên lửa và ngư lôi cấp 1000 tấn, 100 máy bay tuần tra chống tàu
Trung Quốc mới chỉ xác định Cực Nam ở 18 013’ Bắc – nằm tại cực Nam đảo
Hải Nam). Ngày 15-8-1951, Ngoại trưởng Chu Ân Lai tuyên bố yêu sách về
biển, đảo theo bản đồ mà Trung Quốc đã hoạch định. Trung Quốc cho rằng,
để đưa biên giới phía Nam đến vĩ tuyến 04 0 Bắc (đến đảo Borneo Indonexia), vấn đề mấu chốt là phải làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa, xây dựng ở đó những căn cứ chiến lược để khống chế các nước
ven Biển Đông và toàn bộ khu vực Đông Nam Á (Thực tế từ năm 1974,
Trung Quốc đã chiếm Hoàng sa và hiện đang chiếm đóng trái phép 7 đảo,
thuộc quần đảo Trường sa của Việt Nam). Vì lý do đó, Trung Quốc đã tăng
cường đầu tư cho phát triển hải quân. Trung Quốc đã hoàn thành “Chương
trình xây dựng hải quân 13 năm (1987 – 2000)”. Hiện nay Hải quân Trung
Quốc được đánh giá là lực lượng hải quân lớn nhất, mạnh nhất khu vực, mạnh
hơn hải quân của tất cả các nước khác quanh Biển Đông cộng lại, đứng thứ
hai thế giới về quân số và số lượng máy bay của hải quân, thứ 3 thế giới về số
lượng tàu chiến đấu lớn và tàu ngầm. Hạm đội Nam Hải trước đây là hạm đội
yếu nhất, nay trở thành hạm đội mạnh nhất trong 3 hạm đội của Hải quân
Trung Quốc. Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp của Trung Quốc giành cho Hải