(Tóm tắt Luận án tiến sĩ lịch sử đảng cộng sản Việt Nam) Khu ủy Trị Thiên Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1966 đến năm 1975 - Pdf 40

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

TRN VN LC

Khu ủy Trị - Thiên - Huế
trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
từ năm 1966 đến năm 1975

TểM TT LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: LCH S NG CNG SN VIT NAM

H NI - 2016


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc
2. PGS.TS Trịnh Thị Hồng Hạnh

Phản biện 1:..................................................................
..................................................................

Phản biện 2:..................................................................
..................................................................

Phản biện 3:..................................................................
..................................................................

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện

định thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của
Trung ương Đảng.
Khu ủy Trị - Thiên - Huế thể hiện rõ quá trình kiện toàn, xây dựng tổ
chức và lãnh đạo kháng chiến thắng lợi ở địa phương, góp phần trực tiếp
vào đánh thắng các chiến lược chiến tranh mà đế quốc Mỹ đã tiến hành ở
miền Nam Việt Nam từ năm 1966 đến năm 1975.
Nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống về tổ chức và quá trình
Khu ủy lãnh đạo kháng chiến ở chiến trường Trị - Thiên - Huế là cần thiết,
góp phần tổng kết sâu sắc hơn về cuộc KCCMCN; góp phần tổng kết công
tác xây dựng Đảng; tổng kết một số kinh nghiệm có ý nghĩa trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Vì vậy, tác giả chọn vấn đề
Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
từ năm 1966 đến năm 1975 làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.


2
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ quá trình thành lập, xây dựng tổ chức và lãnh đạo chiến tranh
nhân dân của Khu ủy Trị - Thiên - Huế trong cuộc KCCMCN từ năm 1966
đến năm 1975; thành công, hạn chế và tổng kết một số kinh nghiệm.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Khái quát tình hình và chủ trương của Trung ương Đảng về cuộc
KCCMCN (1965-1975); phân tích đặc điểm chiến trường Trị - Thiên Huế; nêu rõ yêu cầu khách quan thành lập, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ
chức của Khu ủy Trị - Thiên - Huế; trình bày quá trình kiện toàn, xây
dựng, phát triển về tổ chức và quá trình lãnh đạo toàn diện cuộc KCCMCN
của Khu ủy từ năm 1966 đến năm 1975 trên địa bàn Trị - Thiên - Huế;
đánh giá thành công, hạn chế và tổng kết một số kinh nghiệm từ quá trình
xây dựng tổ chức và lãnh đạo chiến tranh nhân dân của Khu ủy.

điền dã, phương pháp nghiên cứu văn bản học, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp chứng minh, phương pháp so sánh… để nghiên
cứu làm rõ nội dung đề cập trong luận án.
5. Nguồn tư liệu
Các Nghị quyết, Chỉ thị, báo cáo, điện văn… của Trung ương Đảng,
Quân ủy Trung ương, Khu ủy, Quân Khu ủy Trị - Thiên - Huế, các đảng
bộ địa phương được lưu trữ tại Cục Lưu trữ văn phòng Trung ương Đảng,
kho lưu trữ của Viện Lịch sử Đảng, của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam,
Phòng lưu trữ của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế và Tỉnh ủy Quảng Trị; các
công trình nghiên cứu về cuộc KCCMCN nói chung và ở Trị - Thiên - Huế
nói riêng của các cơ quan nghiên cứu, các ban ngành đoàn thể và của các
nhà khoa học trong và ngoài nước; các bài viết, hồi ký của một số tướng
lĩnh, đồng chí lãnh đạo, lão thành cách mạng, nhân chứng lịch sử về cuộc
KCCMCN trên chiến trường Trị - Thiên - Huế từ năm 1966 đến năm 1975.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
6.1. Ý nghĩa khoa học
Luận án góp phần tái hiện có hệ thống quá trình hình thành, xây
dựng tổ chức và lãnh đạo kháng chiến của Khu ủy Trị - Thiên - Huế
(1966-1975); góp phần tổng kết sâu sắc hơn cuộc KCCMCN nói chung và
công tác xây dựng Đảng nói riêng ở Trị - Thiên - Huế; bước đầu nêu lên
một số nhận xét và tổng kết một số kinh nghiệm từ quá trình ra đời, xây
dựng tổ chức, lãnh đạo kháng chiến của Khu ủy để vận dụng vào thời kỳ
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay trên địa bàn Trị - Thiên - Huế.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu,
giảng dạy Lịch sử của Đảng nói chung, Lịch sử Đảng bộ của hai tỉnh
Quảng Trị và Thừa Thiên Huế nói riêng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã
công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung luận án gồm 4 chương, 8 tiết.

QĐND, Hà Nội, 1994; Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng (Dự thảo) - Lưu hành nội bộ của Ban
Tổng kết chiến tranh chiến trường Trị - Thiên - Huế trực thuộc Bộ Quốc
phòng, NXB Thuận Hóa, Huế, 1985… Ban Chấp hành Đảng bộ Thừa
Thiên Huế chỉ đạo biên soạn Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên - Huế (19451975), tập 2, NXB CTQG, Hà Nội, 1995; Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự
tỉnh Thừa Thiên Huế biên soạn cuốn Thừa Thiên - Huế kháng chiến chống
Mỹ cứu nước (1954-1975), NXB CTQG, Hà Nội, 1999; Tỉnh ủy Thừa
Thiên Huế chỉ đạo biên soạn các công trình: Lịch sử công tác xây dựng
Đảng về tổ chức của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1930-2010), NXB
Thuận Hóa, Huế, 2015; Lịch sử Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thừa
Thiên Huế (1930-2010), NXB Thuận Hóa, Huế, 2010... Ban Chấp hành
Đảng bộ Quảng Trị chỉ đạo biên soạn Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị (1945-


5
1975), tập 2, NXB CTQG, Hà Nội, 1996; Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Quân sự
tỉnh Quảng Trị biên soạn cuốn Quảng Trị kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(1954-1975), NXB CTQG, Hà Nội, 1998; Lịch sử Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tỉnh Quảng Trị (1930-2005) của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
tỉnh Quảng Trị, NXB Thuận Hóa, Huế, 2006; Trị Thiên Huế xuân 1975
của Trung tướng Lê Tự Đồng, NXB QĐND, Hà Nội, 1983…
Một số bài viết nổi bật về TTH: Về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Tết Mậu Thân 1968 ở Trị Thiên - Huế của Thượng tướng Trần Văn Quang;
Chiến công và những bài học từ cuộc tiến công Xuân Mậu Thân - 1968 tại
Huế của Thượng tướng Lê Khả Phiêu; Đôi nét về Khu Trị - Thiên - Huế
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của tác giả Trần Văn Lợi, Tạp chí
Lịch sử quân sự (2015); Khu ủy Trị Thiên - Huế trong cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của tác giả Vũ Quang Hiển và Vũ Tất Đạt,
Tạp chí Lịch sử Đảng (2008)…
Các công trình, bài viết trên, ở những mức độ khác nhau đều trực tiếp

Đảng bộ địa phương.

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN KẾ THỪA VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT
RA LUẬN ÁN CẦN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU

1.2.1. Những vấn đề luận án kế thừa từ các công trình đã xuất bản
Phương pháp luận nghiên cứu vấn đề lãnh đạo của tổ chức Đảng đặc
thù, khảo cứu tài liệu, so sánh với các tổ chức Đảng khác; những vấn đề lý
luận về công tác xây dựng Đảng, về chiến tranh nhân dân, về vai trò lãnh
đạo toàn diện của Đảng trong cuộc KCCMCN; những kết quả nghiên cứu
ban đầu về chiến trường Trị - Thiên - Huế và Khu ủy Trị - Thiên - Huế,
nhất là ở lĩnh vực quân sự.
Những công trình trên tương đối đa dạng, phong phú, đã đề cập đến
một số khía cạnh về tổ chức và hoạt động của Khu ủy Trị - Thiên - Huế, là
nguồn tài liệu tham khảo cho tác giả khi nghiên cứu đề tài luận án. Tuy
nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt, hệ thống,
toàn diện về quá trình ra đời, xây dựng tổ chức và quá trình lãnh đạo của
Khu ủy Trị - Thiên - Huế.
1.2.2. Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung nghiên cứu
Nêu rõ đặc điểm, vai trò, vị trí, nhiệm vụ của chiến trường Trị Thiên - Huế; âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ và tay sai đối với khu Trị Thiên - Huế (1965-1975); trình bày có hệ thống về yêu cầu và quá trình
thành lập; nguyên tắc tổ chức, hoạt động; cơ cấu tổ chức; chức năng,
nhiệm vụ và quá trình xây dựng, phát triển về tổ chức của Khu ủy Trị Thiên - Huế; làm rõ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của Khu ủy đối
với địa bàn Trị - Thiên - Huế giai đoạn 1966-1975; đánh giá thành công,
hạn chế và tổng kết một số kinh nghiệm.
Chương 2
KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ THÀNH LẬP,
LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
TỪ NĂM 1966 ĐẾN NĂM 1968
2.1. THÀNH LẬP VÀ KIỆN TOÀN TỔ CHỨC KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ


điểm xuất phát để tấn công vào miền Nam; hành lang chiến lược của ba
nước Đông Dương. Đối với Mỹ, Trị - Thiên - Huế là địa bàn tổ chức phòng
ngự, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, Lào và
Campuchia; là “con đê” để ngăn chặn “làn sóng đỏ” từ miền Bắc vào miền
Nam; là bình phong, “lá chắn” cho căn cứ phía Nam đèo Hải Vân; làm bàn
đạp để có thể “Bắc tiến”. Chiến trường Trị - Thiên - Huế có đặc trưng: vừa
là tiền tuyến, vừa là hậu phương; là nơi đọ sức giữa hai chế độ, cuộc chiến
đấu sẽ diễn ra quyết liệt, phức tạp và có tác động lớn đến cục diện chung
trên toàn miền Nam và trong cả nước.
Đến giữa năm 1965, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “Chiến
tranh cục bộ”. Hội nghị lần thứ 11 (3-1965) và lần thứ 12 (12-1965) của
Đảng, đánh giá tình hình, đề ra nhiệm vụ mới lãnh đạo nhân dân quyết tâm
đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà.
Quân dân miền Nam tiến công kẻ thù khắp nơi. Tuy nhiên, sự trưởng
thành của các chiến trường không đều. Ở Trị - Thiên, mặc dù Mỹ không
tập trung “tìm diệt” lớn như ở các chiến trường khác nhưng việc đấu tranh
phối hợp với toàn miền Nam chưa tốt, chiến trường còn khá “yên ắng”.
Do đó, yêu cầu bức thiết đặt ra ở Trị - Thiên - Huế là phải có một cấp
ủy đảng độc lập, đủ tầm lãnh đạo phong trào cách mạng địa phương.


8
2.1.2. Thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế và kiện toàn tổ chức
2.1.2.1. Thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế
Sau Hiệp định Giơnevơ, Liên Khu ủy IV lãnh đạo Liên Tỉnh ủy Trị Thiên nhưng chỉ mang tính chất “tạm thời”. Từ tháng 3-1955 đến tháng 41966, Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ Khu ủy V.
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới của cuộc KCCMCN, tháng 41966, Bộ Chính trị quyết định tách Liên Tỉnh ủy Trị - Thiên ra khỏi Khu
ủy V, thành lập Khu ủy Trị - Thiên - Huế; đồng thời, Quân ủy Trung ương
quyết định tách Phân khu quân sự Trị - Thiên ra khỏi Quân khu V, thành
lập Quân khu Trị - Thiên - Huế (Mặt trận B4). Đây là quyết định đúng đắn,
phù hợp với thực tiễn của địa phương, là điều kiện tiên quyết để đưa cuộc

môn. Từ khi thành lập đến tháng 8-1967, Khu ủy xây dựng tổ chức chặt
chẽ từ cấp Khu ủy đến cấp Tỉnh ủy - Thành ủy, Huyện ủy, Đảng ủy xã.
2.2. KHU ỦY TRỊ - THIÊN - HUẾ LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN TỪ
NĂM 1966 ĐẾN NĂM 1968

2.2.1. Khu ủy lãnh đạo chống kế hoạch “bình định” của đế quốc
Mỹ từ năm 1966 đến năm 1967
2.2.1.1. Chủ trương của Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương
Thực hiện Nghị quyết 11 (3-1965) và 12 (12-1965) của Đảng, quân
dân miền Nam liên tục phản công, giành chiến thắng trong chiến dịch mùa
khô lần thứ nhất (1965-1966). Mùa mưa năm 1966, Mỹ tăng thêm quân,
đẩy mạnh “bình định”, chuẩn bị phản công.
Ở chiến trường Trị - Thiên - Huế, sau mùa khô 1965-1966, Quân ủy
Trung ương xác định nhiệm vụ: Giành thắng lợi lớn, tạo nên một tình thế
mới trên chiến trường Trị - Thiên - Huế, phối hợp tốt với các chiến trường
khác trong mọi tình huống. Tháng 6-1966, Quân ủy Trung ương quyết
định mở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5) nhằm tạo nên một hướng
tiến công mới của ta vào nơi yếu của địch trên chiến trường miền Nam,
buộc địch phải phân tán lực lượng, tạo điều kiện cho các chiến trường
khác, ngăn chặn âm mưu của Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Sự
thành lập đồng thời Mặt trận B4 và B5 là quyết định chiến lược kịp thời,
táo bạo và khoa học của Đảng; làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của Mỹ.
Chủ trương của Trung ương Đảng là cơ sở để quân dân Trị - Thiên Huế vững vàng trên trận tuyến đánh Mỹ, quyết tâm thực hiện tốt nhiệm vụ.
2.2.1.2. Lãnh đạo chống kế hoạch “bình định” (1966-1967)
Quán triệt chủ trương của Trung ương, Khu ủy khẩn trương lãnh đạo
phong trào cách mạng bước vào trận chiến mới quyết liệt với kẻ thù.
Ngày 6-6-1966, Khu ủy ra chỉ thị “Tiếp tục đẩy mạnh phong trào
đấu tranh chống Mỹ, Thiệu - Kỳ”, trong đó nêu rõ mục tiêu tăng cường
hoạt động vũ trang và đấu tranh chính trị đối với phong trào đô thị và
phong trào nông thôn. Tháng 6-1966, Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị và

1968, Đảng ủy Đoàn 6 gồm hai huyện Phong Điền - Quảng Điền được
thành lập. Chủ trương này nhằm tập trung cho nhiệm vụ chính lúc này là
ưu tiên phát triển về quân sự và đấu tranh vũ trang.
Hội nghị lần thứ 4 (11-1967), Khu ủy chủ trương: Tăng cường lực
lượng lãnh đạo của Đảng ở cấp huyện; coi trọng việc bồi dưỡng tư tưởng,
nghiệp vụ và phương pháp công tác cho cán bộ, đảng viên. Công tác phát
triển đảng viên phải diễn ra thường xuyên, liên tục.
Đến đầu năm 1968, công tác tổ chức của Khu ủy có nhiều chuyển
biến tích cực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới ở Trị - Thiên - Huế.
2.2.2.2. Lãnh đạo Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
Các Hội nghị Bộ Chính trị (4-1967; 6-1967; 10-1967) thảo luận và
từng bước đề ra chủ trương thực hiện kế hoạch chiến lược Đông - Xuân Hè 1967-1968, quyết định lựa chọn phương án tiến công mới, bất ngờ, đó
là đồng loạt đánh mạnh vào các đô thị trên toàn miền Nam.
Khu ủy họp Hội nghị lần thứ 4 (11-1967) để bàn và thông qua kế
hoạch tổng công kích, tổng khởi nghĩa đánh chiếm Huế, giải phóng Trị Thiên - Huế theo 2 bước (Đông - Xuân 1967-1968 và Hè 1968). Chủ
trương trên thể hiện tinh thần chủ động, mạnh dạn, bám sát thực tiễn chiến
trường của Khu ủy.


11
Ngày 19-11-1967, Bộ Chính trị và Bộ Quốc phòng chủ trương Tổng
tiến công, nổi dậy trên toàn miền Nam, trong đó xác định: Chiến trường
Trị - Thiên - Huế là một trong hai chiến trường trọng điểm của toàn Miền.
Thời gian bắt đầu vào tết Mậu Thân năm 1968 (31-1-1968).
Ngày 3-12-1967, Thường vụ Khu ủy họp và khẳng định, Trị - Thiên Huế tiến hành công kích và khởi nghĩa đánh chiếm thành phố Huế. Ngày
15-12-1967, Thường vụ Khu ủy họp thông qua kế hoạch, thống nhất đồng
loạt Tổng công kích, tổng khởi nghĩa vào 2 giờ 30 ngày 31-1-1968.
Tổng tiến công, tổng khởi nghĩa ở mặt trận Huế và các mặt trận trên
toàn bộ chiến trường Trị - Thiên - Huế nổ ra lúc 2 giờ 33 phút ngày 31-11968. Sáng 31-1-1968, lực lượng cách mạng đánh chiếm hầu hết các mục
tiêu chủ yếu bên trong và vòng ngoài thành phố, làm chủ phần lớn thành

VÀ LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1975
3.1. CỦNG CỐ TỔ CHỨC VÀ LỰC LƯỢNG, LÃNH ĐẠO KHÔI PHỤC
THẾ TRẬN, CHỦ ĐỘNG TIẾN CÔNG, GIẢI PHÓNG QUẢNG TRỊ (1969-1972)

3.1.1. Củng cố tổ chức và lực lượng, lãnh đạo khôi phục thế trận,
từng bước giành lại thế chủ động trên chiến trường (1969-1970)
3.1.1.1. Tình hình và chủ trương của Đảng
Từ năm 1969, Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”,
từng bước rút quân, củng cố chính quyền Việt Nam Cộng hòa; ráo riết thực
hiện chương trình bình định; tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc; thỏa
hiệp với Trung Quốc, hòa hoãn với Liên Xô.
Ở chiến trường Trị - Thiên, sau Tết Mậu Thân 1968, đứng trước thử
thách mới. Mỹ tập trung phản kích chiếm lại thành phố, thị trấn, đồng
bằng, vùng giáp ranh, ngăn chặn đường hành lang chiến lược...
Tháng 11-1968, Bộ Chính trị vạch rõ phương hướng của năm 1969 là
“công kích và khởi nghĩa”. Ngày 10-5-1969, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về
“Tình hình và nhiệm vụ” khẳng định: tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích,
tổng khởi nghĩa. Tháng 1-1970, tại Hội nghị lần thứ 18, Trung ương Đảng
đề ra nhiệm vụ: Đánh bại âm mưu kéo dài chiến tranh; làm thất bại chiến
lược phòng ngự của địch, giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi
quyết định; đẩy mạnh công tác tổ chức và phát triển Đảng.
Quán triệt chủ trương của Trung ương, các Hội nghị (11-1968; 31969, 6-1969; 3-1970) của Khu ủy xác định nhiệm vụ: Đánh bại chiến
lược “quét và giữ”, gây chuyển biến hẳn mặt trận quân sự và chính trị ở
Trị - Thiên - Huế; tấn công địch toàn diện, đánh bại kế hoạch phòng ngự
của chúng, buộc Mỹ phải rút nhanh, giải phóng Trị - Thiên - Huế, phát
triển chiến trường vào phía Nam, phối hợp với khu V; quan tâm, chăm lo
sản xuất và bảo vệ sản xuất; xây dựng đội ngũ cán bộ; tăng cường sự lãnh
đạo của Khu ủy, kiện toàn các ban cán sự theo nguyên tắc gọn, nhẹ và tinh.
Chủ trương trên là cơ sở để Khu ủy lãnh đạo quân dân Trị - Thiên Huế từng bước vượt qua giai đoạn khó khăn, phát triển phong trào đều

Ở chiến trường Trị - Thiên - Huế, Mỹ thực hiện mục tiêu: triệt phá
kho tàng dự trữ chiến đấu; cắt đứt đường hành lang vận chuyển chi viện từ
Bắc vào Nam; lập tuyến ngăn chặn cuộc tiến công của lực lượng cách
mạng; từng bước xuống thang chiến tranh, tiến công hạn chế ra phía Nam
Quân khu IV, tạo thế gây sức ép trên mặt trận ngoại giao.
Đầu tháng 8-1970, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị cho
Khu ủy khẩn trương xây dựng các phương án tác chiến, mở chiến dịch
phản công quy mô, chính xác, quyết tâm đánh bại cuộc hành quân lớn của
quân Mỹ và tay sai. Khu ủy Trị - Thiên - Huế họp (11-1970) để quán triệt
Nghị quyết của cấp trên, đánh giá tình hình, đề ra nhiệm vụ: Tiếp tục đẩy
mạnh tấn công quân sự và chính trị, đánh bại một bước quan trọng kế
hoạch bình định của địch; bảo vệ hậu phương, bảo vệ hành lang; làm chủ
vùng rừng núi, đứng chân ở giáp ranh, từng bước làm chủ đồng bằng; tạo
điều kiện cho bộ đội chủ lực tiến công tiêu diệt địch; xây dựng hậu phương
tại chỗ, bảo đảm tự cấp tự túc; chú trọng công tác xây dựng Đảng…
Ngày 30-1-1971, Mỹ mở cuộc hành quân “Lam Sơn 719” đánh ra
Đường 9 - Nam Lào. Chấp hành chủ trương của Trung ương, qua 52 ngày


14
đêm (từ ngày 30-1 đến ngày 23-3-1971) chiến đấu, ta đánh bại cuộc hành
quân “Lam Sơn 719”, giáng đòn quyết định vào chiến lược “Việt Nam hóa
chiến tranh”. Sau thất bại của cuộc hành quân “Lam Sơn 719”, thế và lực
của quân Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa suy sụp và yếu dần.
Về công tác tổ chức, tháng 4-1971, Ban Bí thư phân công đồng chí
Trần Văn Quang làm Bí thư Khu ủy thay đồng chí Hoàng Anh.
Để phù hợp với tình hình thực tiễn của chiến trường và đáp ứng yêu
cầu của cách mạng trong mỗi tỉnh, căn cứ vào đề nghị của Khu ủy Trị Thiên - Huế, tháng 6-1971, Ban Bí thư quyết thành lập lại Tỉnh ủy Thừa
Thiên Huế và Tỉnh ủy Quảng Trị; giải thể Đảng ủy miền Tây Trị - Thiên
và Đảng ủy các Đoàn (Mặt trận). Tỉnh ủy được lập lại, đáp ứng nguyện

15
Đồng thời, Khu ủy cũng chú trọng đến công tác củng cố, xây dựng
hậu phương, căn cứ địa cách mạng và vùng mới giải phóng; phát triển kinh
tế, văn hóa; ra sức xây dựng lực lượng toàn diện; đảm bảo an ninh; củng
cố tổ chức, tăng cường lãnh đạo, nhất là tỉnh và huyện.
Ngày 11-3-1972, sau khi xem xét tình hình chiến trường, Thường vụ
Quân ủy Trung ương quyết định tiến hành cuộc tiến công chiến lược năm
1972, hướng chủ yếu là chiến trường Trị - Thiên - Huế, chủ trương mở hai
chiến dịch kế tiếp, hướng chính là Mặt trận Quảng Trị, hướng phối hợp là
Mặt trận Thừa Thiên.
Khu ủy chỉ thị cho các lực lượng vũ trang Quảng Trị chủ động phối
hợp; chỉ đạo các lực lượng vũ trang và nhân dân Thừa Thiên Huế tích cực
đánh phá bình định của quân Mỹ trên diện rộng, đẩy mạnh phong trào ở
thành phố, phát triển mạnh thế trận ba vùng để đón thời cơ.
Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở Trị - Thiên - Huế diễn ra hai
đợt. Đợt thứ nhất (từ ngày 30-3 đến 26-6-1972), tiến công, giải phóng tỉnh
Quảng Trị vào ngày 01-5-1972. Quảng Trị là tỉnh đầu tiên được hoàn toàn
giải phóng trong cuộc KCCMCN. Đợt thứ 2 (từ ngày 28-6-1972 đến ngày
27-1-1973), đánh quân Mỹ phản công, giữ vững vùng giải phóng.
Trong năm 1972, Khu ủy lãnh đạo xây dựng tổ chức Đảng và lực
lượng cách mạng ngày càng phát triển; phối hợp tác chiến hiệu quả với bộ
đội chủ lực. Quân dân Trị - Thiên - Huế đã đóng góp trí tuệ, sức người, sức
của to lớn vào cuộc tiến công chiến lược Trị - Thiên năm 1972, nhất là sự
kiện giải phóng tỉnh Quảng Trị và cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ
Thành cổ, góp phần buộc đế quốc Mỹ phải trở lại bàn đàm phán và ký
Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam ngày 271-1973 tại Pari, chấp nhận rút hết quân khỏi miền Nam.
3.2. PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC, LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÙNG GIẢI
PHÓNG, TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY Ở TRỊ - THIÊN - HUẾ (1973-1975)

3.2.1. Phát triển tổ chức, lãnh đạo đấu tranh thi hành Hiệp định

trước hành động tiếp tục chiến tranh, phá hoại Hiệp định Pari của kẻ thù.
3.2.1.2. Quá trình thực hiện phát triển tổ chức, lãnh đạo đấu tranh
thi hành Hiệp định Pari và xây dựng vùng giải phóng
Ở vùng địch tạm chiếm, Khu ủy phát động nhân dân tiến công
CQVNCH cả quân sự và chính trị nhằm phá âm mưu bình định của chúng.
Các cơ sở đảng và tổ chức quần chúng dùng nhiều hình thức phong phú: tổ
chức hội thảo, nói chuyện về Hiệp định, míttinh, biểu tình, tuyên truyền...
Ở vùng giải phóng, xây dựng vùng giải phóng vững mạnh toàn diện,
trong đó nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế được coi trọng, nhanh
chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống xã hội. Quảng Trị
là vùng giải phóng hoàn chỉnh nhất của toàn miền Nam, nơi được Chính
phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chọn đặt trụ sở.
Về công tác phát triển tổ chức và xây dựng Đảng, giữa năm 1973,
đồng chí Trần Hữu Dực làm Bí thư Khu ủy thay đồng chí Trần Văn
Quang. Ngày 6-3-1974, Ban Bí thư phân công đồng chí Lê Tự Đồng làm
Bí thư Khu ủy thay đồng chí Trần Hữu Dực... Sau khi được kiện toàn về tổ
chức, Khu ủy đã chỉ đạo Tỉnh ủy Quảng Trị, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế và
các tổ chức Đảng cấp dưới khác củng cố, sắp xếp lại công tác tổ chức để
đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới. Công tác phát triển Đảng luôn được coi
trọng; phát triển đi đôi với củng cố, vừa kết nạp mới những quần chúng ưu
tú, vừa kịp thời đưa ra khỏi Đảng những người thoái hóa, biến chất.
Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu ủy, hơn một năm chiến đấu và
xây dựng trên chiến trường Trị - Thiên - Huế sau Hiệp định Pari, thế và lực


17
của ta nâng lên một bước. Khó khăn lớn nhất là đối phương còn kìm kẹp
một bộ phận lớn nhân dân, thực hiện phân tuyến, phân vùng.
3.2.2. Lãnh đạo Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975,
giải phóng Trị - Thiên - Huế

Quân đội Việt nam Cộng hòa ở Trị - Thiên - Huế đang hoang mang, giao
động mạnh, thời cơ mới xuất hiện, tiến tới bao vây và cô lập Huế, thời gian
chậm nhất là ngày 19-3-1975, tất cả các lực lượng phải tiến công.


18
Đúng 3 giờ ngày 19-3-1975, ta làm chủ và cắm cờ ở Thành cổ Quảng
Trị, tiếp tục phát triển thế tiến công giải phóng các khu vực còn lại của
tỉnh. Thời cơ đã đến, khả năng giải phóng Thừa Thiên Huế xuất hiện.
Sáng 21-3-1975, chiến dịch tiến công giải phóng thành phố Huế và
toàn tỉnh Thừa Thiên Huế bắt đầu. 6h30 phút ngày 26-3-1975, lá cờ chiến
thắng được các chiến sĩ giải phóng cắm trên cột cờ Phu Văn Lâu tung bay
trong gió, thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên Huế được giải phóng.
Sau 22 ngày đêm chiến đấu liên tục khẩn trương, quân dân Trị Thiên - Huế giành thắng lợi nhanh chóng và trọn vẹn. Đây là thắng lợi lớn
nhất, triệt để nhất của quân và dân Trị - Thiên - Huế, góp phần cùng toàn
cả nước đánh thắng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ, giành
thắng lợi hoàn toàn trong cuộc KCCMCN, giải phóng miền Nam.
Trị - Thiên - Huế được giải phóng, nhiệm vụ thiêng liêng, cao cả mà
Trung ương Đảng giao cho Khu ủy đã hoàn thành xuất sắc. Bộ Chính trị
quyết định giải thể Khu ủy Trị - Thiên - Huế và các ban, ngành giúp việc
cho Khu ủy vào ngày 15-4-1975. Khu ủy hoàn thành sứ mệnh lịch sử sau 9
năm (1966-1975) xây dựng tổ chức và lãnh đạo chiến tranh nhân dân trên
một chiến trường đặc biệt, một địa bàn tiền tiêu, trọng điểm, khốc liệt của
cuộc KCCMCN.
* * *
Từ đầu năm 1969, đến giữa tháng 4-1975, Khu ủy Trị - Thiên - Huế
từng bước củng cố, xây dựng, phát triển tổ chức Đảng và lãnh đạo quân
dân địa phương vượt qua khó khăn, gian khổ, ác liệt, hy sinh, kiên quyết
bám trụ chiến trường, kiên trì đấu tranh; góp phần giành chiến thắng trong
cuộc tiến công chiến lược Trị - Thiên năm 1972 và cuộc Tổng tiến công và

biểu dương: “Đảng bộ kiên cường về tư tưởng, vững mạnh về tổ chức,
trong sạch nội bộ, đoàn kết nhất trí”.
Khu ủy xây dựng cơ chế làm việc trên cơ sở tuân thủ Điều lệ Đảng
khóa III, nhiệm vụ của Bộ Chính trị giao và phù hợp với thực tiễn cuộc
kháng chiến. Khu ủy xác định và xử lý tốt mối quan hệ giữa Khu ủy với
các cấp ủy Đảng trực thuộc, với chính quyền và tổ chức đoàn thể các cấp;
mối quan hệ ngang cấp, phối hợp giữa Khu ủy với các cấp ủy Đảng khác.
Khu ủy thường xuyên quan tâm đến công tác xây dựng Đảng. Đa số
cán bộ, đảng viên của Khu ủy có phẩm chất đạo đức tốt, anh dũng, kiên
cường, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng quê hương.
4.1.1.3. Khu ủy lãnh đạo tổ chức thắng lợi chiến tranh nhân dân trên
địa bàn, góp phần bảo vệ đường hành lang chiến lược, bảo vệ miền Bắc và
phối hợp, giúp đỡ cách mạng Lào có hiệu quả
Quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng, Khu ủy tập trung lãnh
đạo, chỉ đạo quân dân Trị - Thiên - Huế thực hiện triệt để và vận dụng sáng
tạo phương châm đấu tranh “hai chân, ba mũi giáp công, ba vùng chiến
lược”. Khu ủy lãnh đạo xây dựng căn cứ địa cách mạng và xây dựng hậu
phương kháng chiến ở Trị - Thiên - Huế đạt được những tựu nhất định…
Khu ủy lãnh đạo quân dân địa phương đấu tranh cùng bộ đội chủ lực, góp
phần giành các chiến thắng: Chiến dịch Khe Sanh (1968); Tổng tiến công
và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968; chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (1971);


20
cuộc tiến công chiến lược Trị - Thiên năm 1972; cuộc Tổng tiến công và
nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị (19-31975) và tỉnh Thừa Thiên Huế (26-3-1975).
4.1.2. Hạn chế
4.1.2.1. Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trên một số mặt chưa đáp
ứng được yêu cầu thực tiễn của cuộc kháng chiến
Tư tưởng hữu khuynh tồn tại trong một thời gian dài, chậm khắc



21
giải phóng Trung, Hạ Lào. Sau Hiệp định Pari, vị trí chiến trường Trị Thiên - Huế trở nên quan trọng hơn về cả quân sự, chính trị, ngoại giao và
pháp lý. Cả ta và địch đều xem trọng chiến trường Trị - Thiên - Huế.
Khu ủy luôn nhận thức rõ đặc điểm, vị trí chiến lược của địa phương,
tận dụng yếu tố “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa” ở mỗi vùng, từ đó đề ra chủ
trương xây dựng tổ chức và lãnh đạo kháng chiến thích hợp, kiên quyết
dựa vào thế trận, lực lượng sẵn có, tiếp tục xây dựng, bổ sung lực lượng và
thế trận mới, giữ vững và phát triển thế tiến công, đấu tranh “hai chân, ba
mũi, ba vùng” quyết liệt, liên tục và mạnh mẽ để “đánh cho Mỹ cút, đánh
cho ngụy nhào”, giải phóng quê hương.
4.2.2. Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, phát huy tinh
thần chủ động, sáng tạo của Khu ủy
Khu ủy luôn tin tưởng, trung thành, quán triệt nghiêm túc đường lối
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đường lối quân sự của Đảng trong
cuộc KCCMCN vào địa phương mình phụ trách, đảm bảo sự lãnh đạo
thống nhất, thông suốt, liên tục và có hiệu quả của Trung ương Đảng.
Khu ủy Trị - Thiên - Huế thể hiện rõ vai trò lãnh đạo chiến tranh
nhân dân ở địa phương trong cuộc KCCMCN, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà
Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương giao; đồng thời, Khu ủy còn thể hiện
rõ sự chủ động, sáng tạo, linh hoạt khi thực hiện nhiệm vụ chiến lược của
Trung ương thông qua việc đề ra các chủ trương đấu tranh cụ thể, sát hợp
với tình hình địa phương, đặc biệt là ở những thời điểm ác liệt nhất, mang
tính bước ngoặt của cuộc kháng chiến.
4.2.3. Phối hợp đấu tranh chặt chẽ giữa lực lượng địa phương và lực
lượng của Trung ương, giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang
Việc thành lập Mặt trận B4 và mở Mặt trận B5 vào giữa năm 1966 có
ý nghĩa chiến lược đối với toàn miền Nam và cả nước, là bước phát triển
quan trọng của cuộc KCCMCN trên chiến trường Trị - Thiên - Huế; thể

luôn quán triệt quan điểm xây dựng mỗi tổ chức Đảng phải là “một hạt
nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với
quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng” như
chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
4.2.5. Xác định và phát huy hiệu quả mối quan hệ giữa Khu ủy
với các cấp ủy Đảng khác
Mặc dù tình hình chiến trường Trị - Thiên - Huế ác liệt, lực lượng
cách mạng và các cơ quan của Đảng có nhiều thay đổi, biến động nhưng
Khu ủy vẫn luôn tuân thủ quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân
ủy Trung ương về việc xác định, xử lý tốt và phát huy hiệu quả mối quan
hệ phục tùng, chấp hành với cấp trên, mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo cấp
dưới và mối quan hệ mật thiết, phối hợp với nhiều cấp ủy Đảng ngang cấp.
Việc xác định rõ và xử lý tương đối tốt các mối quan hệ trên góp
phần giúp Khu ủy lãnh đạo phong trào cách mạng ở địa phương đúng
hướng và đạt hiệu quả cao nhất, tạo nên một kinh nghiệm trong quá trình
xây dựng tổ chức và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Khu ủy.
4.2.6. Thường xuyên chú trọng công tác tư tưởng, phát huy vai
trò của tổ chức Đảng đặc thù
Khu ủy luôn quán triệt quan điểm Đảng - người tổ chức và lãnh đạo
mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam nên địa phương không ngừng
chăm lo xây dựng Đảng lớn mạnh về mọi mặt. Công tác xây dựng Đảng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status