MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
Chương 1 ĐẢNG BỘ QUÂN ĐỘI LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG LỰC LƯỢNG HẬU CẦN (1969 - 1973)
1.1.
Yêu cầu khách quan xây dựng lực lượng hậu cần
quân đội
1.2.
Chủ trương xây dựng lực lượng hậu cần của Đảng
bộ Quân đội
1.3.
Đảng bộ Quân đội chỉ đạo xây dựng lực lượng hậu cần
Chương 2 ĐẢNG BỘ QUÂN ĐỘI LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG HẬU CẦN (1973 –
1975)
2.1.
Điều kiện mới tác động đến đẩy mạnh xây dựng lực
lượng hậu cần quân đội
2.2.
Chủ trương đẩy mạnh xây dựng lực lượng hậu cần của
Đảng bộ Quân đội
2.3.
Đảng bộ Quân đội chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng lực
lượng hậu cần
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
01
Chữ viết đầy đủ
Bộ Quốc phòng
Chữ viết tắt
BQP
02
Bộ Tham mưu
BTM
03
Bộ tổng Tham mưu
BTTM
04
Chính trị quốc gia
CTQG
10
Hồ sơ số
Hss
11
Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
KCCM, CN
12
Lực lượng hậu cần
LLHC
13
Lực lượng vũ trang
LLVT
14
Nhà xuất bản
Nxb
20
Trung tâm Lưu trữ
TTLT
21
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
5
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về đề tài luận án
Đề tài: “Đảng bộ Quân đội lãnh đạo xây dựng lực lượng hậu cần trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ năm 1969 đến năm 1975” được
nghiên cứu dưới góc độ khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam. Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHC
trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975.
Trên cơ sở phương pháp luận sử học, bằng các phương pháp nghiên
cứu chuyên ngành và liên ngành, đề tài hệ thống hóa và luận giải làm rõ chủ
trương, sự chỉ đạo của ĐBQĐ về xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN từ
năm 1969 đến năm 1975. Qua đó, đánh giá khách quan quá trình ĐBQĐ lãnh
đạo xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975,
đồng thời rút ra một số kinh nghiệm có giá trị lịch sử và hiện thực.
Nội dung cơ bản của đề tài gồm 3 chương: chương 1 và chương 2, tác
giả tái hiện quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN
từ năm 1969 đến năm 1975; chương 3, tác giả tổng kết lịch sử đưa ra nhận xét và
1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước. Sự lớn mạnh và
trưởng thành của quân đội nói chung, LLHC quân đội nói riêng trong cuộc
KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975 đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo
trong lãnh đạo xây dựng lực lượng của ĐBQĐ. Sự lãnh đạo xây dựng LLHC
của ĐBQĐ trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975 rất phong phú
và đa dạng, để lại nhiều kinh nghiệm quý, cần được nghiên cứu, tổng kết để kế
thừa trong lãnh đạo xây dựng LLHC giai đoạn hiện nay.
Ngày nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN có bước phát
triển mới, đòi hỏi phải ra sức xây dựng quân đội, LLHC cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Kế thừa và phát triển những thành tựu đã
đạt được, những kinh nghiệm rút ra trong lãnh đạo và thực tiễn lịch sử xây
dựng, phát triển là một trong những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng
LLHC quân đội. Vì thế, nghiên cứu, tổng kết quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xây
dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975 là vấn đề có
tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Từ những lý do trên tác giả chọn đề tài “Đảng bộ Quân đội lãnh đạo
xây dựng lực lượng hậu cần trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ
năm 1969 đến năm 1975” làm Luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam.
7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHC trong KCCM,
CN từ năm 1969 đến năm 1975, rút ra một số kinh nghiệm có giá trị tham
khảo, vận dụng vào xây dựng LLHC quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ yêu cầu khách quan ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHC trong
triển LLHC trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975.
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên cứu
chuyên ngành lịch sử, như: phương pháp lịch sử, phương pháp lôgíc và sự kết
hợp hai phương pháp đó là chủ yếu. Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp:
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sách, tổng kết thực tiễn, phương pháp
chuyên gia… để hoàn thiện luận án.
6. Đóng góp mới của luận án
Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng LLHC của ĐBQĐ
trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975.
Đưa ra nhận xét và rút một số kinh nghiệm từ quá trình ĐBQĐ lãnh
đạo xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn
Làm rõ tính đúng đắn, sáng tạo trong lãnh đạo xây dựng LLHC của
ĐBQĐ trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975.
Cung cấp một số luận cứ khoa học, góp phần nâng cao hiệu quả công
tác lãnh đạo xây dựng LLHC đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN giai đoạn hiện nay.
Luận án là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử ngành Hậu cần Quân đội nhân dân Việt
Nam ở các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội...
8. Kết cấu của luận án
Luận án kết cấu gồm: phần mở đầu, phần tổng quan về vấn đề nghiên
cứu, 03 chương (08 tiết), kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã
công bố có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
9
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TỀ TÀI
1. Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
10
biến CTHC, tập thể tác giả đã trình bày theo năm giai đoạn chiến lược của chiến
tranh thành 05 chương [147, tr. 11 - 490]; phần đánh giá kết quả và kinh nghiệm,
tập thể tác giả đi từ khái quát vai trò, nhiệm vụ, các điều kiện chi phối CTHC
đến trình bày kết quả đạt được, nguyên nhân và rút ra tám bài học kinh nghiệm
của CTHC trong cuộc KCCM, CN [147, tr. 491 - 648]. Công trình này đã đề cập
khách quan và toàn diện các hoạt động của CTHC trong cuộc KCCM, CN chủ
yếu về mặt tổ chức thực hiện. Về hoạt động lãnh đạo của Đảng nói chung,
ĐBQĐ nói riêng đối với CTHC và xây dựng LLHC công trình này chưa đề cập
tới. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để tác giả kế thừa một cách có hệ thống quá
trình chỉ đạo xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN.
Lịch sử Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam tập 2 (1955 – 1975)
[12], là công trình lịch sử, tổng kết quá trình ĐBQĐ lãnh đạo Quân đội nhân
dân Việt Nam xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo xây dựng
ĐBQĐ vững mạnh về mọi mặt trong suốt cuộc KCCM, CN. Dưới sự chỉ đạo
của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương, tập thể tác giả đã tái hiện khá
đầy đủ và chính xác những sự kiện của ĐBQĐ diễn ra trong suốt 21 năm
KCCM, CN của dân tộc Việt Nam. Diễn biến quá trình ĐBQĐ lãnh đạo xây
dựng Quân đội và xây dựng ĐBQĐ (1955 – 1975), được tập thể tác giả trình
bày thành 05 chương (từ chương sáu đến chương mười) tương ứng với năm
giai đoạn chiến lược của cuộc KCCM, CN [12, tr. 11 – 839]. Phần kết luận,
tập thể tác giả đã khái quát những đặc điểm lớn chi phối hoạt động lãnh đạo
của ĐBQĐ; những thành công chủ yếu trong lãnh đạo xây dựng Quân đội và
xây dựng Đảng bộ của ĐBQĐ trong cuộc KCCM, CN; đồng thời, làm rõ
nguyên nhân của những thành công đó [12, tr. 840 – 870]. Công trình đã hệ
thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của ĐBQĐ đối với toàn quân và toàn
Đảng bộ trong cuộc KCCM, CN. Đây là cơ sở lý luận trực tiếp để tác giả luận
án làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của ĐBQĐ lãnh đạo xây dựng LLHC
trong cuộc KCCM, CN từ năm 1969 đến năm 1975.
đều thực hiện theo quan điểm của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là quan
điểm hậu cần nhân dân; quan điểm cần, kiệm, tự lực, tự cường; quan điểm hết
lòng phục vụ bộ đội [145, tr. 26].
Quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng, của Hồ Chí Minh về
CTHC, tổ chức chỉ đạo và thực hiện bằng những giải pháp sáng tạo trong
cuộc KCCM, CN ngành HCQĐ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm
12
mọi nhu cầu vật chất, kỹ thuật cho quân đội, cho LLVT xây dựng, trưởng
thành và chiến đấu thắng lợi.
Hậu phương và công tác hậu cần trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc [6],
tập thể tác giả trên cơ sơ nghiên cứu sâu sắc những vấn đề cơ bản về lý luận
hậu cần, thực tiễn, kinh nghiệm tổ chức các hoạt động của CTHC trong lịch
sử dân tộc, trên thế giới và thực tiễn tình hình nhiệm vụ bảo đảm hậu cần cho
quân đội hiện nay, từ đó đưa ra những vấn đề cơ bản nhất dưới góc độ lý luận
chung về CTHC, hậu phương trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN hiện nay.
Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với
công tác hậu cần quân đội từ 1945 đến 1969 [126], bằng những luận cứ khoa
học tác giả Đoàn Quyết Thắng khẳng định: quá trình cùng Trung ương Đảng
và Chính Phủ lãnh đạo CTHC trong chiến tranh chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ xâm lược, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến to lớn đối với CTHC
quân đội. Về mặt lý luận hậu cần, Hồ Chí Minh đã xác lập hệ thống quan
điểm chỉ đạo bao gồm: quan điểm hậu cần nhân dân; quan điểm cần, kiệm, tự
lực, tự cường trong CTHC; quan điểm tận tâm, tận lực phục vụ bộ đội [126,
tr. 38 – 60]. Về mặt thực tiễn, Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng chỉ đạo
chặt chẽ mọi hoạt động CTHC quân đội, không ngừng chăm lo xây dựng
ngành HCQĐ vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tác giả cũng đã
khẳng định giá trị lịch sử, hiện thực những cống hiến của Người đối với
chiến tranh [127, tr. 126 - 146].
Những bài viết trên đã đề cập một số quan điểm của Đảng về CTHC
trong cuộc KCCM, CN tác giả có thể kế thừa để làm rõ chủ trương và sự chỉ
đạo xây dựng LLHC của ĐBQĐ.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng hậu cần Quân đội nhân dân Việt
Nam” [128], tác giả Ngô Vi Thiện khẳng định: quan điểm Hồ Chí Minh về
HCQĐ là một bộ phận trong hệ thống tư tưởng quân sự của Người. Quan
điểm đó gồm: vị trí, vai trò của CTHC; vấn đề xây dựng nguồn lực hậu cần;
xây dựng ngành HCQĐ về mọi mặt… Tác giả cũng khẳng định các quan
điểm hậu cần của Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị trong quá trình xây dựng,
chiến đấu và trưởng thành của ngành HCQĐ trong hai cuộc kháng chiến
chống xâm lược của dân tộc ta, mà nó vẫn giữ nguyên giá trị trong xây dựng
ngành HCQĐ hiện nay. Ngành HCQĐ phải tiếp tục vận dụng sáng tạo những
quan điểm đó vào thực tiễn công tác để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.
14
Một số bài báo khác như: “Mấy suy nghĩ về công tác hậu cần theo tư
tưởng Hồ Chí Minh - Bài học kinh nghiệm và phương hướng phát triển”
[125], “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của hậu cần quân đội và nhiệm vụ
của người làm công tác phục vụ” [68], ... cũng đều khẳng định những cống
hiến và giá trị to lớn của quan điểm hậu cần quân sự Hồ Chí Minh trong lịch
sử và hiện thực.
1.1.2. Nhóm công trình nghiên cứu về xây dựng lực lượng hậu cần
quân đội
Xây dựng LLHC là một nội dung quan trọng trong CTHC, vì thế các
công trình nghiên cứu chung về CTHC đều đã đề cập đến nội dung này ở các
cấp độ khác nhau, như:
50 năm ngành Hậu cần xây dựng và hoạt động theo tư tưởng Hồ Chí
Minh, kinh nghiệm và hướng phát triển [145], khi đề xuất hướng vận dụng tư
xây dựng LLHC [144, tr. 524 - 525]. Từ thực tế trên tập thể tác giả kết luận
“Cần ra sức xây dựng lực lượng hậu cần có tổ chức mạnh, có chất lượng cao,
có hiệu suất bảo đảm lớn” [144, tr. 622] và rút kinh nghiệm xây dựng LLHC
với các nội dung: xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, nhân viên
hậu cần vững mạnh toàn diện; xây dựng, kiện toàn cơ quan chỉ huy, chỉ đạo
hậu cần các cấp đi đôi với xây dựng, phát triển hệ thống cơ sở, đơn vị hậu cần,
tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật hậu cần ngày càng lớn mạnh [144, tr. 622].
Những công trình tổng kết CTHC trong cuộc KCCM, CN theo từng
chuyên đề, từng giai đoạn lịch sử khác nhau cũng đã tổng kết xây dựng LLHC
trên từng lĩnh vực, từng giai đoạn chiến tranh với những nhận định và hệ
thống số liệu khách quan và phong phú .
Hậu phương và công tác hậu cần trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc [6] khi
trình bày phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu xây dựng ngành
HCQĐ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, tập thể tác giả đã
khẳng định: “Xây dựng lực lượng hậu cần là thiết thực nâng cao chất lượng
công tác hậu cần góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại” [6, tr. 136]. Đồng thời, đề xuất nội dung xây dựng LLHC
trong giai đoạn hiện nay gồm: xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức HCQĐ; xây
dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ hậu cần và đẩy mạnh hoạt động nghiên
cứu khoa học, phát triển công nghệ, bổ sung, cải tiến, hiện đại hóa trang bị kỹ
thuật hậu cần [6, tr. 142 - 165].
16
“Quán triệt những quan điểm của Đảng trong công tác hậu cần” [98] khi
đề xuất các nội dung xây dựng và giải quyết tốt các mối quan hệ trong CTHC
tập thể tác giả đã đề cập một số giải pháp xây dựng LLHC là: phải “làm cho
mọi cán bộ, chiến sĩ, nhân viên hậu cần trở thành người chiến sĩ cách mạng tự
giác, tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp, với dân tộc, có giác ngộ
chính trị cao, có mục tiêu phục vụ rõ ràng, có phương hướng đúng đắn” [98, tr.
nội dung này như:
“Xây dựng và bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ kiên cường, dũng cảm, có
năng lực hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ” [159], tập thể tác giả đã khẳng
định: một trong những vấn đề quan trọng trong công tác cán bộ quân đội thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là “Nâng cao hơn nữa trình độ chính trị,
quyết tâm chiến đấu, trình độ tổ chức, chỉ huy, quản lí bộ đội, tác phong chiến
đấu của cán bộ các cấp” [159, tr. 73], và đã đặt ra yêu cầu “Bồi dưỡng cán bộ
phải toàn diện cả về chính trị, lập trường, tư tưởng, đạo đức, tác phong, trình
độ tổ chức chỉ huy, quản lí bộ đội, trình độ nghiệp vụ, văn hóa, sức khỏe”
[159, tr. 74]. Tập thể tác giả cũng xác định xây dựng đội ngũ cán bộ hậu cần là
nhiệm vụ chiến lược quan trọng, phải được tiến hành thường xuyên bằng nhiều
hình thức, biện pháp. Phải thực hiện tốt tất cả các khâu, các bước từ đào tạo,
bồi dưỡng, bố trí sử dụng, quản lý, đánh giá… Lấy đào tạo, huấn luyện tập
trung tại các học viện, nhà trường, các đơn vị huấn luyện để trang bị những
kiến thức cơ bản; lấy bồi dưỡng, rèn luyện tại chức làm thường xuyên để không
ngừng nâng cao chất lượng toàn diện cho đội ngũ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ
hậu cần các cấp trong toàn quân [159, tr. 76].
“Cần, kiệm trong chiến đấu và xây dựng quân đội” [96], tác giả Lương
Nhân khẳng định: cần, kiệm là một nguyên tắc trong xây dựng LLVT, xây
dựng LLHC cách mạng của Đảng, quán triệt và thực hiện tốt nguyên tắc ấy
Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, ngành HCQĐ nói riêng vừa có thể
hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng trước mắt, vừa có điều kiện
để chiến đấu lâu dài thắng lợi, giảm nhẹ sự đóng góp của nhân dân, giành
thêm sức người, sức của cho phát triển kinh tế, củng cố hậu phương. Để đáp
ứng yêu cầu của nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cuộc chiến tranh, tác giả
đề xuất ba giải pháp nhằm thực hành cần, kiệm một cách thiết thực hơn trong
chiến đấu và xây dựng quân đội, xây dựng LLHC đó là: sử dụng thật tốt sức
người trong quân đội; sử dụng và bảo vệ thật tốt cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài
sản, tài chính và tích cực tăng gia sản xuất, phát huy cao độ khả năng tự cấp,
tự túc [96, tr. 46].
Hậu cần các lực lượng vũ trang sự hình thành và phát triển [67], tác giả
Gôluskô đã xác định: hậu cần các LLVT là một bộ phận của LLVT, thành phần
của nó gồm các đơn vị, cơ quan và phân đội được sử dụng để bảo đảm cho quân
đội về vật chất, kỹ thuật, giao thông, y tế, xăng dầu, doanh trại và tài chính.
19
Đồng thời, khái quát quá trình hình thành, phát triển và chỉ ra những vấn đề có
tính nguyên tắc trong CTHC của Hậu cần các LLVT Xô viết.
Hậu cần các lực lượng vũ trang hỗn hợp của khối quân sự NATO [70]
tác giả A. Lêkhin khẳng định các nhà lãnh đạo của khối quân sự NATO đánh
giá rất cao về vai trò của CTHC “Mức độ hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu cao
hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào trình độ tổ chức của hậu cần” [70, tr. 3], nên
thường xuyên chỉ đạo, triển khai nhiều biện pháp xây dựng và hoàn thiện hệ
thống tổ chức hậu cần làm cho các đơn vị hậu cần tinh, gọn có sức cơ động
nhanh và hiệu suất bảo đảm lớn.
Thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, một câu hỏi lớn
đặt ra với nhiều thế hệ người Mỹ là: Tại sao Mỹ thất bại ở Việt Nam? (Why
Viet Nam?). Thua ở Việt Nam làm Mỹ đau đầu, nhiều học giả tập trung
nghiên cứu, tìm lời giải đáp. Ở Mỹ, đã có hàng nghìn cuốn sách, hàng triệu
trang viết của các chính khách, các nhà sử học, nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà
báo, những người trực tiếp điều hành và tham gia cuộc chiến tranh và cả
những người ngoài cuộc, … viết về sự kiện này với những lập luận, lý giải
khác nhau để tìm ra lời giải cho sự thất bại của họ ở Việt Nam. Trong đó có
rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới CTHC tiêu biểu như: Report on the
war in Viet Nam [170]; The limits of intervention [58]; The Air war in
Indochina [167]; Indochina in conflict [176]; The best and the brightest [165];
Dynamics of the Viet Nam war, a quantitative analysis and predictive
computer simulation [168]; War in the Shadows [162]; The lessons of Viet
Nam [173]; The last chopper [163]; Vain hope, grim realities the economic
của người nước ngoài. Khi nghiên cứu CTHC một số nước trong khu vực
ASEAN như: Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a cho thấy từ trước tới nay
các nước này đều rất quan tâm đến xây dựng LLHC. Hiện nay, các nước này
đang điều chỉnh tổ chức, biên chế lực lượng từ số lượng lớn sang số lượng
hợp lý, lấy chất lượng làm trọng tâm. Biên chế các đơn vị khung gồm các sư
đoàn, lữ đoàn, tổ chức lực lượng sĩ quan hậu cần ở các đơn vị, các cấp theo độ
tuổi mà luật quy định và theo trình độ quân sự, chuyên môn kỹ thuật. Đội ngũ
sĩ quan, binh sĩ hậu cần được quản lý chặt chẽ theo biên chế của các đơn vị,
được huấn luyện bằng chương trình riêng của các đối tượng và chuyên ngành,
nhằm nâng cao trình độ kỹ chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ [148, tr. 589].
21
“Tầm nhìn tổng thể hậu cần liên quân của quân đội Mỹ” [83], tác giả
R.E. Love và Gary W. Collborne cho rằng ngày nay, nước Mỹ thực hiện
“chính sách lực lượng tổng thể” các lực lượng tồn tại dựa vào nhau và kết
hợp chặt với nhau, thực hiện nhất thể hóa các lực lượng quân sự, phục vụ, bảo
đảm. Mỹ ra sức biên chế, sắp xếp LLHC đủ mạnh để xây dựng các sư đoàn
lục quân, sư đoàn hải quân đánh bộ và LLHC bảo đảm, phục vụ cho các quân,
binh chủng [83, tr. 53].
“Chiến lược hậu cần của Quân đội Đài Loan” [86], tác giả Vương Mê –
Hà Ý đã mô tả toàn diện công tác cải cách thể chế bảo đảm hậu cần của Quân
đội Đài Loan theo một phương thức mới. Theo đó, để nâng cao chất lượng
CTHC trong phương thức bảo đảm mới này, cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ
hậu cần, phục vụ ở cấp chiến thuật có chất lượng tốt và số lượng hợp lý.
“Nhận thức về hậu cần chiến tranh tương lai – Chiến tranh thế hệ thứ
6” [94], tác giả Balucxpki J.N cho biết ở Liên Xô trước đây, LLHC được xây
dựng đồng bộ cả về con người và phương tiện và được quản lý chặt chẽ ở tất
cả các cấp. Hàng năm đội ngũ cán bộ, binh sĩ làm CTHC được huấn luyện với
thời gian nhất định, quy định theo từng cấp, theo những chương trình riêng và
“Một số vấn đề về bảo đảm hậu cần quân đội Nga” [71] và “Về cải
cách hậu cần quân đội Liên Bang Nga” [82], các tác giả nghiên cứu quá trình
cải cách LLHC và một số vấn đề bảo đảm hậu cần của quân đội Liên bang
Nga đều đặc biệt chú ý đến việc xây dựng hoàn thiện đội ngũ cán bộ hậu cần
theo hệ thống bảo đảm và trang bị kỹ thuật mới cho các đơn vị.
2. Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan và
những vấn đề tập trung giải quyết trong luận án
2.1. Khái quát chung kết quả các công trình nghiên cứu có liên
quan đến đề tài luận án
Trên cơ sở nghiên cứu có hệ thống các công trình nghiên cứu có liên
quan đến đề tài luận án cả trong và ngoài nước cho thấy:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu dưới cả góc độ lý luận nhận thức
và tổng kết thực tiễn đều đã đề cập một cách khá sâu sắc và toàn diện về vị trí,
vai trò, chức năng, nhiệm vụ của CTHC bảo đảm cho chiến tranh.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến thực trạng của CTHC
trong cuộc KCCM, CN, đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu
23
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của CTHC đáp ứng yêu cầu bảo đảm vật
chất, kỹ thuật cho quân đội, cho các LLVT xây dựng và chiến đấu thắng lợi.
Thứ ba, một số công trình đã nghiên cứu tổng kết, đánh giá kết quả,
nguyên nhân của CTHC bảo đảm cho quân đội và cho các LLVT trong cuộc
KCCM, CN với những nhận định và hệ thống số liệu phong phú, từ đó đã rút
ra một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo lớn.
Thứ tư, nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến yêu cầu xây dựng
LLHC, thực trạng LLHC qua các giai đoạn của cuộc KCCM, CN; đồng thời,
đề xuất một số giải pháp xây dựng LLHC đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Một số
công trình cũng đã đánh giá kết quả xây dựng LLHC trong cuộc KCCM, CN
và chỉ ra nguyên nhân của kết quả ấy.
bao gồm toàn bộ con người, phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật hậu cần của
các cơ quan, đơn vị, cơ sở hậu cần trong toàn quân “Lực lượng hậu cần là
toàn bộ lực lượng các cơ quan, đơn vị, phân đội hậu cần trong một tổ chức,
lực lượng quân sự nhất định” [5, tr. 280], được tổ chức ở tất cả các cấp chiến
lược, chiến dịch và chiến thuật. Lực lượng hậu cần cấp chiến lược gồm: “Các
cơ quan đơn vị thuộc Tổng cục Hậu cần; các kho, trạm, viện, bệnh viện, xí
nghiệp… do ngành Hậu cần quản lý” [5, tr. 280]. Trong đó, con người là nhân
tố quan trọng nhất, nhân tố quyết định tới sức mạnh HCQĐ, quyết định đến
thắng lợi của CTHC.
Lực lượng hậu cần có vai trò to lớn trong việc hình thành và quyết định
sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của quân đội. Vai trò to lớn đó được thể hiện:
Thứ nhất, LLHC là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, góp
phần trực tiếp vào việc hình thành sức mạnh của Quân đội. Là một bộ phận của
Quân đội, nên Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là ĐBQĐ tổ chức và lãnh
đạo LLHC là tất yếu khách quan. Tính tất yếu khách quan đó được quy định bởi
yêu cầu khách quan Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo Quân đội
nhân dân Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ rõ: vấn đề căn bản nhất trong hệ thống
những nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân là
Đảng Cộng sản phải tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ quân đội về mọi mặt, phải
đặt quân đội dưới sự lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống.
25
Trung thành với học thuyết Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới
của giai cấp công nhân, vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo vào điều kiện
cụ thể Việt Nam, ngay khi ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định phải tổ chức và lãnh đạo tuyệt đối,
trực tiếp về mọi mặt Quân đội nhân dân Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam
tổ chức và lãnh đạo Quân đội là tất yếu khách quan, là quy luật xây dựng
mặt công tác: tham mưu, chính trị, hậu cần; đồng thời, thường xuyên nhắc
nhở các cấp lãnh đạo, chỉ huy phải trực tiếp chăm lo, tổ chức tốt CTHC.
Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ ngày đầu thành lập, trong những tư
tưởng quân sự đầu tiên đã làm rõ vai trò của lĩnh vực bảo đảm hậu cần cho
LLVT, cho quân đội “… rằng tuyệt nhiên không cần binh khí thì cũng là sai
nữa, phải có binh khí ít nhiều, càng nhiều càng tốt” [14, tr. 92]. Quá trình lãnh
đạo cách mạng, Đảng luôn xác định: CTHC là một trong ba mặt công tác cơ
bản của quân đội: tham mưu, chính trị, hậu cần (bao gồm cả kỹ thuật), bộ
phận quan trọng cấu thành sức mạnh tổng hợp của quân đội.
Trong cuộc KCCM, CN Đảng chỉ rõ: tổ chức và CTHC có tác dụng rất
trọng yếu, nếu không có tổ chức hậu cần mạnh thì dù quân đội có anh dũng,
thiện chiến đến đâu cũng không giành được thắng lợi [16, tr. 226].
Như vậy, CTHC có vị trí, vai trò rất quan trọng trong hoạt động quân
sự, góp phần quyết định thắng lợi, hay thất bại của trận đánh, của chiến dịch
và của cả cuộc chiến tranh.
Vai trò quan trọng của CTHC chỉ được thực hiện đầy đủ trên cơ sở
LLHC vững mạnh toàn diện. Vì thế, phải không ngừng xây dựng LLHC đáp
ứng yêu cầu bảo đảm hậu cần cho quân đội xây dựng và chiến đấu thắng lợi.
1.1.2. Tình hình cách mạng Việt Nam sau Tổng tiến công và nổi dậy
năm 1968
Âm mưu, thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn
Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của quân và dân Việt Nam trong Tổng
tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, buộc đế quốc Mỹ phải chuyển
hướng chiến lược chiến tranh, ngừng bắn phá miền Bắc, thực hiện “phi Mỹ
hóa” và “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam, nhằm rút dần quân Mỹ,
nhưng vẫn giữ được miền Nam trong quỹ đạo thực dân mới của chúng.
Níchxơn sử dụng tối đa sức mạnh về quân sự của nước Mỹ, kết hợp với
thủ đoạn chính trị, ngoại giao xảo quyệt, hòng giành thế mạnh, cô lập và bóp
đánh phá có tính chất hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng và nhiều nơi khác.