1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của dân tộc Việt Nam,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thắng lợi hoàn toàn, Tổ quốc
thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Suốt 21 năm tiến hành cuộc kháng
chiến, chúng ta đã đánh thắng bốn chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ. Trong
đó giai đoan từ năm 1965 đến năm 1968 đế quốc Mỹ triển khai chiến lược “Chiến
tranh cục bộ”, đưa quân Mỹ trực tiếp vào miền Nam và tiến hành leo thang đánh
phá miền Bắc Việt Nam. Lúc này, cả nước có chiến tranh với mức độ khác nhau.
Miền Bắc chuyển từ trạng thái thời bình sang trạng thái thời chiến và đứng trước
những thách thức lớn lao. Trong hàng loạt các vấn đề cần giải quyết nổi lên vấn đề
Đảng lãnh đạo giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội
chủ nghĩa từ năm 1965 đến năm 1968. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng
sản Việt Nam, quân và dân miền Bắc đã khắc phục khó khăn vừa chiến đấu vừa
sản xuất, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời chi viện sức người sức của
cho tiền tuyến miền Nam. Để đảm bảo cho miền Bắc đứng vững trước mưa bom
bão đạn của kẻ thù, thực sự là nhân tố quyết định thắng lợi trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước. Đúng như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng
(1976) đã tổng kết: “Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước nếu không có miền Bắc xã hội chủ nghĩa, suốt mười sáu năm qua,
luôn luôn cùng một lúc phải làm hai nhiệm vụ chiến lược”. Giải quyết tốt mối
quan hệ giũa xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa đã thể hiện rõ bản
lĩnh chính trị, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, tự lực, tự cường của Đảng trong
hoàn cảnh cả nước có chiến tranh vô cùng ác liệt của đế quốc Mỹ. Qua đó đã để lại
cho Đảng ta nhiều bài học kinh nghiệm lãnh đạo quý có ý nghĩa khoa học và thực
tiễn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. Mặt
2
khác đã bổ sung vào kho tàng lý luận Mác - Lênin về giải quyết mối quan hệ giữa
3
bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2004, dành hẳn chương IV viết về xây
dựng và bảo vệ miền Bắc. Trong chương IV có một phần đề cập đến chuyển
hướng xây dựng miền Bắc, đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” (1965
- 1968). Xoay quanh nội dung này đã trình bày chiến lược “chiến tranh cục
bộ” của đế quốc Mỹ và những chủ trương, chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với chuyển hướng xây dựng miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh
phá hoại lần thứ nhất của không quân, hải quân Mỹ. Thông qua đó ta thấy
được cách giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội
chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuốn Hỏi đáp lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Hà Nội 2004 của Học viện
Chính trị quân sự. Trong câu hỏi 46, Đảng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc trong hoàn cảnh đế quốc Mỹ mở rộng chiến xâm lược
trên cả nước
(1965 - 1972), ý nghĩa lịch sử, toàn bộ nội dung đã trình bày
tình hình, chủ trương chiến lược của Đảng và quá trình Đảng chỉ đạo xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Thông qua phần trình bày cho ta thấy chủ trương
và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc trong điều kiện có chiến tranh phá hoại của đế quốc
Mỹ. Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tổ chức
biên soạn cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2 (1954 -1975) do Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1995. Từ chương VIII đến chương
XII, cuốn sách đã dựng lên bức tranh tương đối hoàn chỉnh của cuộc kháng
chiến. Trong chương X, các tác giả tập trung trình bày sự chỉ đạo của Đảng và
cuộc đấu tranh của quân và dân ta từ năm 1965 đến năm 1968. Công trình Mấy
vấn đề chỉ đạo chiến lược trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 - 1975),
Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân năm 1999 đề cập đến sự chỉ đạo của Đảng trên
tất cả các lĩnh vực. Năm 1991, Nhà xuất bản Sự thật xuất bản cuốn Lịch sử
ương Đảng chỉ đạo đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ
(1965 - 1968).
Những vấn đề vận dụng trong giai đoạn hiện nay. Trong luận
văn tác giả đề cập một phần đến chủ trương tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
5
mìên Bắc trong điều kiện có chiến tranh. Miền Bắc vừa sản xuất, xây dựng kinh
tế, vừa xây dựng phát triển lực lượng cả về số lượng và chất lượng, nhằm bảo vệ
miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đồng thời không ngừng bổ sung, chi viện tăng cường
sức mạnh chiến đấu cho cách mạng miền Nam. Với chủ trương phát động một
cuộc chiến tranh nhân dân và xây dựng nền quốc phòng toàn dân nhằm đánh bại
chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ, bảo vệ thành
quả của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đánh
thắng địch nếu chúng liều lĩnh mở rộng chiến tranh, đưa lực lượng lục quân ra
xâm lược miền Bắc. Quân và dân miền Bắc sẵn sàng chi viện sức người, sức của
cho cách mạng miền Nam, đáp ứng kịp thời nhu cầu cuộc kháng chiến của nhân
dân miền Nam, nhằm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, đi đến thống nhất
nước nhà. Thông qua nội dung tác giả trình bày đã đề cập gián tiếp đến việc
Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ miền
Bắc xã hội chủ nghĩa từ năm 1965 đến năm 1968.
Ngoài ra còn có nhiều công trình, bài viết của các nhà khoa học, các vị
lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các vị tướng lĩnh Quân đội trực tiếp tham gia chỉ
đạo cuộc kháng chiến đã viết về vấn đề này được xuất bản thành sách, hoặc
đăng trên các báo, tạp chí như: Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc (2007)
Sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, Tạp chí Lịch sử Đảng số 3/ 2007, từ trang 20 - 24. Tác giả đã nêu tình
hình miền Bắc sau tháng 7/1954 đến hết năm 1975. Trong đó tác giả trình bày
lao động sản xuất. Thái Bình luôn là tỉnh đi đầu trong cả nước về đóng góp
sức người, sức của cho tiền tuyến, nhất là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước với 151.993 quân và 65 vạn tấn lương thực, thực phẩm, hơn một
triệu ngày công chi viện cho tiền tuyến miền Nam. Nội dung bài báo tác giả
còn làm rõ không khí nô nức tòng quân nhập ngũ của tuổi trẻ tỉnh Thái Bình
và cách thức tổ chức vừa sản xuất vừa chiến đấu của quân và dân tỉnh Thái
Bình. Đây là tư liệu quý ở địa phương góp lên bức tranh chung cả nước thực
hiện chủ trương giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã
hội chủ nghĩa đã thấm sâu vào từng người dân miền Bắc nói chung, quân và
dân tỉnh Thái bình nói riêng.
7
Những công trình nêu trên đề cập đến nhiều khía cạnh về sự lãnh đạo, chỉ
đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đặc biệt các
công trình nêu trên phần nào đã đề cập tới nội dung Đảng Cộng sản Việt Nam
giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Đây là nguồn tài liệu quý để tác giả kế thừa, vận dụng trong quá trình nghiên
cứu đề tài. Tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập trực tiếp hoặc đi sâu
nghiên cứu toàn diện Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo giải quyết mối quan
hệ giữa xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa từ năm 1965 đến năm
1968. Nghiên cứu đề tài này tác giả hy vọng sẽ góp phần làm rõ tính độc lập,
tự chủ, sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ miền
Bắc xã hội chủ nghĩa từ năm 1965 đến năm 1968, trên cơ sở đó tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới, tiếp tục kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích:
Khẳng định sự đúng đắn sáng tạo trong chủ trương và chỉ đạo của Đảng
về giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa
chiến chống Mỹ cứu nước cùng với những bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí
Minh.
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp lô gích là chủ yếu,
và sự kết hợp hai phương pháp trên, đồng thời vận dụng một số phương pháp
khác như thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh để thực hiện nhiệm vụ nghiên
cứu.
6. Đóng góp về mặt khoa học của luận văn
- Luận văn trình bày một cách có hệ thống đường lối chủ trương và sự
chỉ đạo của Đảng trong giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ miền
Bắc xã hội chủ nghĩa từ năm 1965 đến năm1968. Kết quả nghiên cứu của luận
9
văn phần nào làm sáng tỏ vai trò và sự tài tình sáng tạo của Đảng trong lãnh
đạo giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ
nghĩa vào những năm đế quốc Mỹ điên cuồng đánh phá miền Bắc. Từ đó làm
cơ sở củng cố niềm tin vào Đảng, vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy
lịch sử Đảng Cộng sản Việt nam ở các nhà trường trong Quân đội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 2 chương 4 tiết.
CHƯƠNG 1
CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ
GIỮAXÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ MIỀN BẮC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1968
1.1. Yêu cầu khách quan giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ
dựng với bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa từ năm1965 đến năm 1968.
* Lê nin kế thừa, phát triển tư tưởng của Mác và Ănghen về nội dung kết
hợp xây dựng và bảo vệ cách mạng xã hội chủ nghĩa.
V.I.Lênin là học trò xuất sắc của C.Mác và Ph.Ăngghen, Người đã
đứng ra bảo vệ toàn diện và phát triển một số nội dung học thuyết Mác trong
điều kiện chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc. Một trong những
nội dung mà Lênin phát triển đó là việc kết hợp xây dựng và bảo vệ trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Đối với vấn đề này Lênin đã kế thừa và phát triển một
cách sáng tạo tư tưởng vũ trang quần chúng bảo vệ cách mạng xã hội chủ
nghĩa của C.Mác và Ph.Ăngghen phù hợp với những điều kiện lịch sử mới. Từ
thực tiễn công cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô Viết vừa mới giành
được, Lênin đã tổng kết thành lý luận, đã bổ sung những quan điểm của
C.Mác và Ph.Ăngghen về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ trong cách mạng vô
sản. Đây là cơ sở giúp cho Đảng ta đề ra đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ
11
quốc xã hội chủ nghĩa nói chung, giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng và
bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa từ năm 1965 đến năm 1968 nói riêng.
Khi bàn về tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới, trong tác
phẩm Cương lĩnh quân sự của cách mạng vô sản viết cuối năm 1916, Lênin đã
chỉ rõ: “chủ nghĩa xã hội không thể đồng thời thắng lợi trong tất cả các nước.
Trước hết, nó thắng lợi trong một nước, trong khi các nước khác, trong một
thời gian dài nào đó, vẫn còn là những nước tư bản hay tiền tư bản. Tình trạng
đó không những sẽ gây ra những va chạm, mà còn làm cho giai cấp tư sản các
nước khác trực tiếp muốn tiêu diệt giai cấp vô sản chiến thắng của nước xã hội
chủ nghĩa”[28,tr.178]. Vì vậy, Lênin khảng định: “Không cầm vũ khí bảo vệ
nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp
thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai
cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật
tăng cường khả năng phòng thủ đất nước trong thời gian hoà bình, càng phải
đầu tư thích đáng trong thời chiến. Người khẳng định: “Chính vì chúng ta chủ
trương bảo vệ Tổ quốc, nên chúng ta đòi hỏi phải có một thái độ nghiêm túc
đối với vấn đề khả năng quốc phòng và đối với vấn đề chuẩn bị chiến đấu của
nước nhà.”[29, tr. 480 – 484] . Lênin chỉ rõ, xây dựng và củng cố quốc phòng
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một việc làm vô cùng quan trọng của Nhà
nước chuyên chính vô sản và cũng là nghĩa vụ của toàn dân, chứ không phải
của một tổ chức cá nhân nào. Chỉ có giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng
và củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc thì chúng ta mới chiến thắng kẻ thù,
do vậy mọi người phải có thái độ nghiêm túc trong giải quyết mối quan hệ
này:
Người nhấn mạnh: “ Nghĩa vụ tuyệt đối của toàn thể quần chúng lao động là
đem hết sức mình ra để khôi phục và tăng cường khả năng quốc phòng của đất
nước”[29, tr.36], “Mọi người phải có thái độ nghiêm túc đối với quốc
phòng”[29, tr358].
Để giải quyết được mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa theo Lênin phải đặc biệt coi trọng phát huy bản chất chế độ xã
13
hội chủ nghĩa, mặt khác phải thực hiện thắng lợi công cuộc cải tạo và xây
dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật mới, có khả
năng không ngừng hiện đại hoá vũ khí trang bị để bảo vệ đất nước. Bởi lẽ chủ
nghĩa đế quốc đem quân xâm lược, chúng mang theo quân đội nhà nghề với
các loại vũ khí trang bị hiện đại hơn nước chúng định xâm chiếm đến nhiều
lần, muốn bảo vệ nền độc lập vững chắc, theo Lênin phải thành lập quân đội
công nông thường trực, chính quy và quy mô lớn để tiến hành chiến tranh
chống kẻ thù, nếu không làm điều đó chắc chắn chúng ta sẽ bị diệt vong.
Lênin đã đặt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đi đôi với nhiệm vụ
xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, việc thực hiện thắng lợi cách mạng bạo
lý luận trên được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng một cách sáng tạo vào
định ra chủ trương đường lối đúng đắn giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây
dựng với bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa từ năm 1965 đến năm 1968.
* Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ
đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người con ưu tú nhất của dân tộc Việt Nam đã
tiếp thu truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc và nâng lên một tầm
cao mới. Người đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa.
Thấu suốt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, sau khi nhân dân ta giành được chính quyền, trong Tuyên ngôn độc
lập ngày 2/ 9/ 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Toàn thể dân tộc Việt
Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ
vững quyền tự do, độc lập ấy”[43, tr.555]. Khi kẻ thù trở lại xâm lược nước ta
một lần nữa, Người kêu gọi: “Tất cả quốc dân Việt Nam phải đứng dậy bảo vệ
Tổ quốc” [44, tr.484]. Hai tháng sau khi đồng bào miền Nam bước vào kháng
chiến, ngày 25 tháng 11 năm 1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra chỉ
thị “ Kháng chiến kiến quốc”. Thực dân Pháp và các thế lực phản động đang
âm mưu thôn tính nước ta, “cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc
cách mạng dân tộc giải phóng... Giai cấp vô sản vẫn phải hăng hái, kiên quyết
hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy. Khẩu hiệu vẫn là “Dân tộc trên hết”, “Tổ
15
quốc trên hết”, kẻ thù chính của chúng ta lúc này là thực dân Pháp xâm lăng,
phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”[66, tr.21].
Chỉ thị đề ra những nhiệm vụ cụ thể về nội dung chính trị, quân sự,
ngoại giao, kinh tế, tài chính, cứu tế, về văn hoá... Đặc biệt chỉ thị nêu rõ
những nội dung về xây dựng Đảng, cải tổ chính phủ, về kháng chiến ở miền
Nam và đoàn kết với nhân dân Lào và Campuchia.
quân sự thắng lợi, đồng thời đấu tranh quân sự phải kết hợp với đấu tranh
chính trị, kinh tế”.
Với chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, Đảng ta và Chủ tịch
Hồ Chí Minh giải quyêt đúng đắn mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ đất
nước trong từng thời điểm lịch sử cụ thể, đưa cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp đi tới thắng lợi.
Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam vẫn dưới ách thống
trị của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã giải quyết mối quan hệ giữa cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam hết sức sâu sắc. Ngay trong
báo cáo “Tình hình mới, nhiệm vụ mới” tại Hội nghị Trung ương 6, ngày 17
tháng 7 năm 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Hiện nay đế quốc Mỹ là
kẻ thù lớn của nhân dân thế giới và đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của
nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc
Mỹ”[45, tr.319]. Như vậy theo Hồ Chí Minh cách mạng Việt Nam trong giai
đoạn này cần phải tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh đánh đuổi đế quốc, tay sai để hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Vị trí vai trò của
mỗi miền khác nhau, nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động
qua lại với nhau, nhưng đều tập trung vào nhiệm vụ thống nhất nước nhà.
Người chỉ rõ vai trò của miền Bắc trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất
nước. Trong báo cáo trước Quốc hội ngày 21 tháng 9 năm 1955, Người nhấn
mạnh: “... Nền có vững, nhà mới chắc, gốc có mạnh cây mới tốt. Miền Bắc là
nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của toàn dân ta, cho nên chúng ta phải
làm cho nó thật vững mạnh”[48, tr.71]. Đối với cách mạng miền Nam, đế
17
quốc Mỹ và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm trắng trợn phá hoại hiệp định
Giơnevơ đàn áp dã man những người cộng sản và đồng bào yêu nước. Đáp
bay và tàu chiến Mỹ”[3, tr.215].
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kháng chiến và kiến quốc, xây dựng và bảo
vệ đất nước đã thể hiện trong đường lối cách mạng của Đảng trong suốt nửa
thế kỷ qua. Quán triệt tư tưởng của Người, Đảng ta đã giải quyết nhuần
nhuyễn, sáng tạo quan hệ giữa hai lĩnh vực xây dựng và bảo vệ, trong những
điều kiện lịch sử cụ thể. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm
lược, chúng ta mới giành được độc lập, chính quyền còn non trẻ và kẻ thù hãy
còn đang ở trên đất nước ta. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói
chung, những năm 1965 -1968 nói riêng, tư tưởng của Người về giải quyết
mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ đất nước được toả sáng trong điều kiện
miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam vẫn trong sự thống trị của đế quốc
Mỹ và tay sai. Việc Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết mối
quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ đất nước ở từng thời điểm đó có sự khác
nhau và không ngang nhau. Bởi lẽ nhiệm vụ giải phóng dân tộc chúng ta chưa
hoàn thành, do vậy theo Người phải được đặt lên hàng đầu. Trong những năm
1965 - 1968, Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương tiếp tục xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc trong điều kiện có chiến tranh. Theo Người có thực hiện
như vậy mới tạo ra tiềm lực, sức mạnh để đánh thắng kẻ thù xâm lược, mặt
khác đây chính là cơ sở để ta xây dựng chế độ mới cơ bản lâu dài. Thực hiện
bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa đó chính là tổ chức phòng thủ, bảo vệ thành
quả cách mạng, vừa tổ chức đánh trả các hoạt động phá hoại của địch bảo vệ
chế độ mới, vừa đưa sức người, sức của ra tiền tuyến để đánh thắng đế quốc
Mỹ. Qua nghiên cứu tư tưởng của Người ta thấy xây dựng và bảo vệ đất nước
có mối quan hệ biện chứng với nhau, vị trí vai trò của từng nhiệm vụ cụ thể
trong từng giai đoạn lịch sử có sự khác nhau. Có xây dựng được vùng tự do,
xây dựng được miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững mạnh mới có đủ sức mạnh
chiến thắng kẻ thù. Ngược lại, có đánh bại được mọi âm mưu chiến lược của
địch mới có thể bảo vệ vững chắc vùng tự do và hậu phương chiến lược, tiến
20
bọn đế quốc thực dân. Chính vì ông cha ta đã chuẩn bị kỹ trong thời bình, tích
cực xây dựng lực lương cho nên khi giặc đến Ông cha ta đã đánh thắng được
chúng bảo vệ non sông đất nước.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh Ông cha ta thường xuyên giải
quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ đất nước.
Mở đầu cho cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước của Ông cha ta là thời Âu
Lạc đã đánh thắng nhà Tần năm 210 trước công nguyên. Tiếp đó nhân dân ta
không chịu khuất phục trước ách đô hộ của bọn phong kiến phương Bắc đã
nổi dậy tiến công chúng bằng tất cả những thứ vũ khí hiện có. Tiêu biểu là các
cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, lý Bí, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan,
Khúc Thừa Dụ... Dưới sự lãnh đạo của Ngô Quyền năm (938), nhân dân ta đã
đánh bại quân Nam Hán giành độc lập dân tộc. Tiếp đó sau chiến thắng quân
xâm lược nhà Tống, Lê Hoàn lên ngôi đã không ngừng chăm lo xây dựng
củng cố đất nước tạo ra tiềm lực quân sự, kinh tế mạnh làm cho kẻ thù không
dám sang xâm lược.
Thời kỳ Lý, Trần, dưới sự trị vì của các Vua anh minh đã giải quyết tốt
mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ đất nước đạt được những thành tựu vô
cùng to lớn. Trong thời bình động viên nhân dân hăng say sản xuất phát triển
kinh tế. Quan điểm của các vị vua rất rõ ràng: “Thực túc binh cường”. Nhà
nước phong kiến tập trung giải quyết các vấn đề trước mắt đảm bảo đời sống
cho nhân dân. Tích cực đắp đê chống lũ lụt, làm thuỷ lợi, khai hoang phục
hoá, xây dựng các vùng chiến lược sẵn sàng đánh thắng khi giặc sang xâm
lược nước ta. Bên cạnh đó Nhà nước phong kiến đã chủ động phát triển các
làng nghề vừa phục vụ cho đời sống nhân dân, vừa sản xuất vũ khí, phương
tiện phục vụ cho tình huống đất nước có giặc ngoại xâm. Về chiến thuật của
ông cha ta cũng thể hiện vừa xây dựng vừa bảo vệ. Khi có chiến tranh thực
hiện kế “vườn không nhà trống” tích cực đánh phá các khu vực hậu cần của
của dân tộc ta đã để lại những bài học có tính lịch sử.
Nhận thức đúng quy luật dựng nước và giữ nước, vận dụng vào từng
thời kỳ lịch sử phù hợp đặt nhiệm vụ giữ nước hay dựng nước lên trên.
22
Chăm lo xây dựng thế trận lòng dân, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự
lực tự cường của dân tộc Việt Nam.
Giai cấp thống trị phải có đường lối chính sách phù hợp với lòng dân,
chăm lo đời sống, vật chất tinh thần của nhân dân, phát huy sức mạnh tổng
hợp giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ đất nước.
Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng và phát triển những kinh
nghiệm của ông cha ta trong dựng nước và giữ nước lên một tầm cao mới,
đánh đuổi đế quốc, thực dân làm nên những trang sử hào hùng của dân tộc.
Sau khi cả nước thống nhất quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, truyền thống dựng
nước và giữ nước được Đảng vận dụng và xác định: Xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam
trong giai đoạn mới.
* Thực tiễn miền Bắc từ giữa năm 1964 đến đầu năm 1965.
Sau năm 1954, miền Bắc đã cơ bản hoàn thành cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân, bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam
nằm trong ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tay
sai. Kể từ sau phong trào Đồng khởi (1960), lực lượng cách mạng miền Nam
phát triển mạnh mẽ. Nhân dân miền Nam kết hợp đấu tranh chính trị với đấu
tranh vũ trang, đánh đổ chính quyền địch ở nhiều nơi, giành quyền làm chủ,
hình thành vùng giải phóng rộng lớn, xây dựng nên Mặt trận dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam. Cách mạng miền Nam phát triển nhẩy vọt,
chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công, đồng thời làm cho cuộc
“chiến tranh đơn phương”của Mỹ bị thất bại. Để cứu vãn tình thế suy sụp, đế
quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đây là một
đồng thời ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc cho miền Nam.
Thực hiện âm mưu đó, ngày 12/6/1964 Mỹ cho máy bay trinh thám phá
hoại thuộc địa bàn của huyện Tĩnh Gia Thanh Hoá, ngày 30/6/1964 chúng tập
kích vào nhà máy điện Đồng Hới (Quảng Bình). Đêm 4/8 rạng ngày 5/8/1964
chúng gây ra “sự kiện vịnh Bắc bộ”, mở màn đánh phá miền Bắc và đến đầu
tháng 2 năm 1965, chúng đánh một cách liên tục, có hệ thống cho đến đầu
tháng 11 năm 1968. Thời kỳ hoà bình miền Bắc chấm dứt, miền Bắc bước vào
24
thời kỳ gay go quyết liệt, thời kỳ vừa làm nhiệm vụ hậu phương của cách
mạng miền Nam, lại vừa làm nhiệm vụ của tiền tuyến, trực tiếp đánh trả
những hành động chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế
quốc Mỹ.
Tuy ngày 5/8/1964 là ngày mở màn, nhưng đế quốc Mỹ đã có những
âm mưu và hành động phá hoại miền Bắc nước ta từ rất sớm. Ngay từ năm
1961, Tổng thống Mỹ Kennơđi đã liên tiếp cử các tướng Mỹ sang miền Nam
nước ta để nghiên cứu tại chỗ về khả năng đưa quân Mỹ vào miền Nam và leo
thang chiến tranh đối với miền Bắc. Trên thực tế, chúng đã đề ra những biện
pháp phá hoại miền Bắc Việt Nam bằng việc thả biệt kích, đưa người vào thu
thập tình báo, gây chiến tranh tâm lý...Trong những năm tiến hành “chiến
tranh đặc biệt”(1961 - 1964), chúng đã tung vào miền Bắc khoảng 60 toán
gián điệp, biệt kích hoạt động phá hoại. Ngày 22/1/1964, Hội đồng an ninh
quốc gia Mỹ thông qua Kế hoạch tác chiến 34- A bí mật hoạt động tình báo,
gây chiến tranh tâm lý, phá hoại, đồng thời dùng máy bay bắn phá vùng giải
phóng Lào, dọc đường Trường Sơn để đe doạ ta và ngăn chặn sự chi viện của
miền Bắc cho cách mạng miền Nam. Tháng 2 năm 1964, kế hoạch tác chiến
được Mỹ chính thức thực hiện. thực hiện kế hoạch A - 34 đánh phá miền Bắc
bằng không quân và hải quân đã tiến triển tới mức có sẵn danh sách các mục
tiêu có thể lựa chọn để đánh ngay trong năm 1964.
và 1966 -1967 ở miền Nam, thực hiện leo thang đánh phá ra miền Bắc, chủ
yếu đánh vào hai khu vực Hà Nội và Hải Phòng. Các mục tiêu tấn công là các
khu trung tâm công nghiệp: Việt Trì, Thái Nguyên, Mỏ than Đông Bắc, các
trục đường giao thông chính ở Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Lạng Sơn, Hà
Nội - Lào Cai.
Trước hành động mở rộng chiến tranh đánh phá ngày càng ác liệt miền
Bắc của đế quốc Mỹ đã làm cho miền Bắc từ hoà bình chuyển sang có chiến
tranh. Miền Bắc đứng trước những thử thách khắc nhiệt, tiếp tục xây dựng chủ
nghĩa xã hội hay tạm dừng và nếu tiếp tục thì bằng cách nào. Nhiệm vụ xây
dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi Đảng ta
và Chủ tịch Hồ Chí Minh cần giả quyết, mà trước hết là phải nhận thức và giải