LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ hải PHÒNG LÃNH đạo PHÁT TRIỂN GIÁO dục PHỔ THÔNG từ năm 2001 đến năm 2010 - Pdf 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Ban Chấp hành Trung ương

BCHTW

Công nghệ thông tin

CNTT

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNH, HĐH

Trung học cơ sở

THCS

Trung học phổ thông

THPT

Ủy ban nhân dân

UBND


MỤC LỤC


phổ thông (2001-2010)
NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
Nhận xét về quá trình Đảng bộ huyện Tiên Lãng, Hải

36
49

Phòng lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông (20012.2.

2010)
Kinh nghiệm đúc rút ra từ quá trình Đảng bộ huyện

49

Tiên Lãng, Hải Phòng lãnh đạo phát triển giáo dục phổ
thông
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

62
77
79
86

2


MỞ ĐẦU


Cùng với đó, tình hình mới đặt ra yêu cầu Đảng bộ huyện Tiên Lãng phải chú
trọng phát triển giáo dục phổ thông để “khai thác có hiệu quả những tiềm
năng, thế mạnh của địa phương, tạo bước đột phá trong thực hiện CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn, xây dựng huyện phát triển nhanh, bền vững” [18,
tr.11].
Để khắc phục những bất cập, hạn chế trên, cũng như đáp những ứng
yêu cầu của tình hình mới, đòi hỏi Đảng bộ Tiên Lãng phải xác định những
chủ trương, biện pháp thích hợp để phát triển và nâng cao hơn nữa chất lượng
công tác giáo dục phổ thông của huyện. Do đó, việc nghiên cứu, làm rõ về
quá trình lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới, tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tiên Lãng đối với công tác giáo dục
phổ thông đang đặt ra hết sức cần thiết.
Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Đảng bộ huyện Tiên Lãng, thành
phố Hải Phòng lãnh đạo phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm
2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đảng lãnh đạo sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói
riêng là nội dung quan trọng được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả nghiên
cứu qua các công trình khoa học các cấp, các bộ sách chuyên khảo, bài viết
trên các tạp chí nghiên cứu. Có thể kể đến một số nhóm nghiên cứu tiêu biểu
sau:
Nhóm các công trình nghiên cứu chung về giáo dục trên toàn quốc
Một số công trình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế và các nhà nghiên
cứu nước ngoài nghiên cứu về giáo dục và đào tạo Việt Nam: Tổ chức văn hóaKhoa học-Giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) có dự án: Nghiên cứu tổng
thể về giáo dục-đào tạo. Phân tích nguồn lực VIE 89/022 và dự án Báo cáo
đánh giá tình hình giáo dục-đào tạo Việt Nam hiện nay, được tiến hành trong 2
năm 1991-1992. Ngân hàng thế giới (WB) cùng với Bộ Giáo dục và Đào tạo

4

trách nhiệm, đạo đức của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong
xu thế Việt Nam hội nhập quốc tế, Nxb Lao động, Hà Nội, 2006.
5


Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài viết đã đăng tải trên các tạp chí như:
Ngô văn Hiển, “Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục - đào tạo
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Giáo dục, số 112 năm
2005, tr.8-10; Phạm Thị Kim Anh, “Những thay đổi của giáo dục-đào tạo Việt
Nam từ sau công cuộc đổi mới (1986) đến nay”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số
7 năm 2008, tr.58-62; Nguyễn Hữu Chí, “Những quan điểm cơ bản của Đảng về
giáo dục-đào tạo qua các chặng đường lịch sử”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10 năm
2010, tr.20-24; Dương Văn Khoa, “Phát triển mạnh mẽ giáo dục-đào tạo theo
hướng hiện đại, thiết thực, nhanh chóng nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân lực dồi
dào và đội ngũ nhân tài cho đất nước”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 8 năm
2005, tr.4-7; Vũ Ngọc Hải, “Đổi mới giáo dục và đào tạo nước ta trong những
năm đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 4 năm 2003, tr.3-4; Vũ
Thiện Vương, “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục-đào tạo đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 47 năm
2001, tr.36-39; Mai Hương Giang, "Chìa khoá mở hướng nâng cao chất lượng
giáo dục phổ thông ở nước ta hiện nay", Tạp chí Cộng sản, năm 2008; …
Những công trình nghiên cứu tiêu biểu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề lý
luận về giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng của Việt Nam
trên nhiều phương diện khác nhau; đã phân tích vai trò của giáo dục và đào tạo,
giáo dục phổ thông trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội; làm rõ mối quan hệ
giữa phát triển giáo dục và đào tạo, giáo dục phổ thông với phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội trong thời kỳ đổi mới… Tuy nhiên, các công trình này chỉ dừng lại ở
những vấn đề lớn, phạm vi rộng của giáo dục và đào tạo, giáo dục phổ thông Việt
Nam, chưa đi sâu vào từng địa phương cụ thể. Song, đây là cơ sở và là nguồn tư
liệu quý giúp tác giả định hướng nội dung trong quá trình nghiên cứu đề tài.

hệ thống giáo dục phổ chung cho cả thành phố Hải Phòng từ năm 1986 đến
năm 2003.
Nhìn một cách tổng quan, những công trình trên đi sâu vào nghiên cứu,
phân tích, đánh giá các mặt tích cực, hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của
7


những mặt đạt được và những tồn tại khi lãnh đạo tiến hành công tác giáo
dục và đào tạo, giáo dục phổ thông ở các địa phương khác nhau trong cả
nước. Các công trình đã làm rõ sự quán triệt và vận dụng sáng tạo của
Đảng bộ, chính quyền địa phương về quan điểm, chủ trương của Đảng
trong phát triển giáo dục và đào tạo, giáo dục phổ thông vào điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể địa phương để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo,
giáo dục phổ thông trên địa bàn.
Có thể khẳng định, những công trình đề cập đến giáo dục và đào tạo,
giáo dục phổ thông là rất đa dạng và phong phú. Nhưng thực tế cũng cho
thấy, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu về vấn
đề phát triển giáo dục phổ thông ở huyện Tiên Lãng và sự lãnh đạo của Đảng
bộ huyện đối với công tác giáo dục phổ thông giai đoạn 2001-2010. Tuy
nhiên, những công trình đã nêu trên thực sự là những nguồn tư liệu có giá trị
giúp tác giả nghiên cứu, kế thừa và phát triển để có hướng tiếp cận đúng đắn
trong quá trình thực hiện đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm sáng tỏ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện
Tiên Lãng về phát triển giáo dục phổ thông từ năm 2001 đến năm 2010. Trên cơ
sở đó, rút ra những kinh nghiệm để vận dụng trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ:
- Làm rõ yêu cầu khách quan phát triển giáo dục phổ thông của huyện
Tiên Lãng trong những năm 2001-2010.

- Kết quả nghiên cứu đề tài là một nguồn tư liệu, có thể được tham
khảo trong nghiên cứu giảng dạy môn lịch sử Đảng ở các Học viện trong và
ngoài quân đội.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm phần mở đầu, 2 chương (5 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.

9


Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN
TIÊN LÃNG VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
1.1. Những yếu tố tác động đến phát triển giáo dục phổ thông của
Đảng bộ huyện Tiên Lãng (2001-2010)
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Tiên Lãng tác động đến
công tác phát triển giáo dục phổ thông
Tiên Lãng là vùng đất cổ và là một trong bảy huyện ngoại thành của
thành phố Hải Phòng. Huyện nằm giữa vùng đồng bằng duyên hải Bắc Bộ,
cách trung tâm thành phố Hải Phòng 25 km về phía Nam, cách thủ đô Hà Nội
gần 110 km theo tuyến đường quốc lộ 5. Tiên Lãng giáp với các huyện lân
cận như: phía Tây và Tây Nam giáp huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng), phía Đông
Bắc giáp huyện Tứ Kỳ và huyện Thanh Hà (tỉnh Hải Dương), phía Bắc giáp
huyện An Lão và huyện Kiến Thụy (Hải Phòng), phía Đông trông ra vịnh Bắc
Bộ, phía Đông Nam giáp Thái Thụy.
Là một huyện đồng bằng ven biển và liên tục tiến về phía biển với tốc
độ trung bình từ 10m đến 15m/năm nên Tiên Lãng ít đường bộ. Trên địa bàn
huyện có các đường giao thông chính là: 25, 212, 354. Tuy nhiên, phía Bắc
huyện lại có một đoạn quốc lộ 10 dài 4 km chạy cắt ngang, nối liền các tỉnh

Khu du lịch suối khoáng nóng Tiên Lãng được đánh giá là 1 trong 5 mỏ nước
khoáng đặc biệt có giá trị của Việt Nam.
Hiện nay, trên địa bàn huyện có 23 đơn vị hành chính bao gồm 22 xã
và một thị trấn. Đó là thị trấn Tiên Lãng và các xã: Đại Thắng, Tiên Cường,
Tự Cường, Tiên Tiến, Quyết Tiến, Khởi Nghĩa, Tiên Thanh, Cấp Tiến, Kiến
Thiết, Đoàn Lập, Bạch Đằng, Quang Phục, Toàn Thắng, Tiên Thắng, Tiên
Minh, Bắc Hưng, Nam Hưng, Hùng Thắng, Tây Hưng, Đông Hưng, Tiên
Hưng, Vinh Quang.

11


Trong công cuộc đổi mới hiện nay, hòa nhịp vào cùng sự phát triển
chung của thành phố, Tiên Lãng đã có những chuyển biến tích cực. Kinh tế
huyện phát triển với tốc độ khá cao. Theo số liệu thống kê năm 2010: Tốc độ
tăng tổng sản phẩm nội huyện (GDP) bình quân trong 5 năm (2005-2010) đạt
11,8%/năm, GDP bình quân đầu người đạt 15,56 triệu đồng. Lương thực bình
quân đầu người là 674kg/người/năm. Giá trị sản lượng ngành Nông-Lâm-Ngư
nghiệp tăng bình quân 6,9%/năm. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
tốc độ tăng trưởng cao đạt 21,5%/năm. Kinh tế dịch vụ tăng trưởng khá đạt
bình quân 19%/năm [20, tr5]. Có được những thành quả này là nhờ Tiên Lãng
đã biết khai thác tiềm năng thế mạnh địa phương, huy động trí tuệ, nhân lực
của toàn bộ Đảng bộ, chính quyền và nhân dân.
Dân số huyện Tiên Lãng tính đến năm 2010 khoảng: 150.000 người,
tổng số hộ trên địa bàn toàn huyện là 37.613 hộ, số người trong độ tuổi lao
động là 77.000 người. Là huyện thuần nông (nhân khẩu nông nghiệp chiếm tỷ
trọng 87%) nên số lao động nông nhàn, chưa có việc làm còn nhiều (lao động
nông nghiệp chưa có việc làm vẫn còn lên tới 24%) [20, tr.5].
Tỉ lệ phát triển dân số tự nhiên tính đến 2010 của huyện là 0,73%. Tỉ lệ
hộ nghèo chiếm 9,79% (3684 hộ) tổng số hộ, là một huyện có tỷ lệ hộ nghèo

Lãng luôn chăm lo cho sự nghiệp giáo dục-đào tạo nói chung, giáo dục phổ
thông nói riêng. Do đó, đến trước năm 2001 công tác giáo dục phổ thông Tiên
Lãng đã đạt được một số kết quả quan trọng, nổi bật là:
Mạng lưới trường lớp và quy mô giáo dục các bậc học bước đầu được
mở rộng, chất lượng giáo dục phổ thông được nâng lên. Cụ thể: từ năm 19901995 số học sinh phổ thông các cấp tăng từ 19000 học sinh lên 33000 học
sinh (173%); so với năm học 1998-1999, năm học 1999-2000, giáo dục tiểu
học đã có xu hướng giảm theo hướng chiều tích cực: giảm 161 em; THCS:
với quy mô 20 trường có 13.527 em (tăng 779 em), tỉ lệ bỏ học trong năm là
0,4%; Phổ thông trung học huy động được 3.149 em ra lớp (tăng 452 em) [17,
tr.3]; phong trào học sinh giỏi được duy trì và phát triển: số học sinh giỏi cấp
quốc gia và thành phố tăng từ 62 học sinh (năm học 1994-1995) lên 164 học
sinh (năm học 1999-2000), tất cả các trường trên địa bàn huyện đều có học
13


sinh giỏi cấp huyện; tỷ lệ thi chuyển cấp, chuyển lớp đều đạt từ 98% trở lên…
[17, tr.4]. Đánh giá về quy mô, chất lượng giáo dục phổ thông Tiên Lãng đã
đạt được đến năm 2000, Đại hội Đảng bộ huyện Tiên Lãng lần thứ XXIV đã
nhận định: “đến năm 1999-2000, ở Tiên Lãng, hiện tượng học sinh bỏ học ở
cấp II, cấp III giảm nhiều, số lượng học sinh huy động ra lớp tăng lên, chất
lượng giáo dục được cải thiện đáng kể” [17, tr.5].
Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được xây dựng theo
hướng đủ, đồng bộ, chuẩn hóa và từng bước được nâng chuẩn đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp giáo dục phổ thông trong giai đoạn mới. Đại bộ phận giáo
viên và cán bộ quản lý giáo dục giữ gìn được phẩm chất đạo đức, nhiệt tình,
yêu ngành, yêu nghề, có tinh thần trách nhiệm cao, chấp hành tốt quy chế
chuyên môn. Công tác quản lý giáo dục có nhiều chuyển biến tích cực, việc
đánh giá, phân loại đội ngũ hàng năm được chỉ đạo thường xuyên, các lớp bồi
dưỡng nội dung, phương pháp giảng dạy cho giáo viên mới được chú trọng,
việc tổ chức thi giáo viên giỏi các cấp được duy trì đều đặn. Do đó, Năm

đúng đắn trong việc huy động các nguồn lực đầu tư cho việc dạy và học.
Như vậy, vào thời điểm trước năm 2001, thực hiện chủ trương phát
triển giáo dục của Đảng, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, Đảng bộ và
nhân dân huyện Tiên Lãng đã cố gắng, nỗ lực thu được những kết quả đáng
trân trọng. Đây là tiền đề quan trọng để Đảng bộ huyện Tiên Lãng đẩy nhanh
tiến trình phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông trong những năm tiếp theo.
Tuy nhiên, đến trước năm 2001, giáo dục phổ thông Tiên Lãng vẫn còn
bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần khắc phục, đó là:
Mạng lưới trường lớp và quy mô giáo dục ở Tiên Lãng mặc dù đã được
sắp xếp phù hợp với từng giai đoạn cụ thể và ngày càng được ổn định hơn. Song,
quy mô còn quá nhỏ hẹp, giữa quy mô và các điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất,
thiết bị, giữa quy mô và chất lượng còn chưa cân đối. Tình trạng quá tải về quy
mô đối với trung học phổ thông ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục.
Việc phân luồng học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông còn
hạn chế. Với đặc thù là một huyện ven biển thuần nông, địa hình bị chia cắt bởi
hệ thống sông ngòi (có bốn bề sông nước), đời sống kinh tế còn chậm phát

15


triển… Đây thực sự là một khó khăn, thách thức lớn đối với sự nghiệp giáo dục
phổ thông của Tiên Lãng.
Chất lượng giáo dục phổ thông chưa cao. Chất lượng giáo dục đại trà
của học sinh ở các cấp học, bậc học chưa đồng đều, giáo dục mũi nhọn chưa
được quan tâm đúng mức. Số học sinh tiếp cận với CNTT còn quá thấp, giáo
dục toàn diện chưa tốt khi mà giáo dục trí lực chưa thực sự kết hợp chặt chẽ với
giáo dục phẩm chất nhân cách cho học sinh nên tình trạng học sinh vi phạm đạo
đức, pháp luật nghiêm trọng vẫn diễn ra, gây nhức nhối cho dư luận xã hội.
Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi phổ cập bỏ học để tham gia giúp đỡ gia đình sản
xuất, làm nghề truyền thống còn cao. Công tác phổ cập THCS còn nhiều khó

phòng học kiên cố cao tầng còn thấp; việc xây dựng trường chuẩn quốc gia ở
bậc Tiểu học, THCS, THPT còn rất khó khăn do nhiều nguyên nhân khác
nhau như thiếu đất đai để xây dựng khuôn viên, cơ sở vật chất không đạt
chuẩn, tỉ lệ phòng học không đảm bảo.
Công tác xã hội hóa về giáo dục phổ thông còn nhiều mặt hạn chế, phát
triển chưa đồng đều ở các xã, hiệu quả chưa cao. Việc huy động các nguồn
lực ở các xã nghèo còn nhiều khó khăn. Chưa khai thác, phát huy hết tiềm
năng, thế mạnh của địa phương.
Hạn chế, khuyết điểm trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan, trong đó đáng chú ý là: một số cấp ủy Đảng, chính quyền nhất là cơ sở
chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của sự nghiệp giáo dục phổ thông trong
thời kỳ đổi mới; việc phối, kết hợp giữa các cấp, các ngành nhiều nơi chưa chặt
chẽ, chưa tạo nên được sự thống nhất trong toàn huyện cho việc thực hiện các
nghị quyết, chỉ thị của Đảng bộ nên dẫn đến tình trạng có nơi còn trông chờ, ỷ
lại, thiếu chủ động trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ
thông. Năng lực, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục, giáo
viên còn bất cập, còn biểu hiện chạy theo thành tích, chưa chú ý đến chất lượng
thực tế và chất lượng giáo dục toàn diện...
Như vậy, đến trước năm 2001 huyện Tiên Lãng đã thực hiện kế hoạch
phát triển công tác giáo dục phổ thông và đạt được những kết quả bước đầu
đáng ghi nhận trên nhiều mặt và ở tất cả các cấp học. Tuy nhiên, thực tiễn cho
17


thấy, giáo dục phổ thông của huyện Tiên Lãng vẫn còn tồn tại những bất cập,
hạn chế từ quy mô giáo dục, đội ngũ nhà giáo, chất lượng giáo dục cho đến cơ
sở vật chất. Thực trạng trên đòi hỏi cấp ủy Đảng, chính quyền và Phòng Giáo
dục và Đào tạo huyện Tiên Lãng phải có chủ trương, giải pháp chiến lược
phát triển giáo dục phổ thông phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng, phát
triển của huyện trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.

THCS, tạo điều kiện cho những địa phương có khả năng hoàn thành sớm việc
phổ cập giáo dục bậc THPT qua việc mở rộng quy mô đào tạo và phát triển đa
dạng các loại hình trường phổ thông trung học.
Bốn là, tăng ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo theo nhịp độ
tăng kinh tế. Từng bước xúc tiến việc nối mạng internet ở trường học, tạo
điều kiện học tập, nghiên cứu trên mạng.
Năm là, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh.
Sáu là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho
người nghèo có cơ hội học tập, tiếp tục phát triển các trường phổ thông nội trú
giành cho con em dân tộc thiểu số. Có chính sách hỗ trợ đặc biệt những học sinh
có năng khiếu, có hoàn cảnh sống khó khăn được theo học ở các bậc học cao.
Bảy là, thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, phát triển đa dạng
các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các qũy khuyến khích tài
năng trẻ, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục.
Tám là, giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc: sửa đổi chương trình
đào tạo đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa; cải tiến chế độ thi cử, khắc phục khuynh hướng “thương mại hóa” giáo
dục, ngăn chặn những tiêu cực trong giáo dục [32, tr.654-657].
Nhằm cụ thể hóa quan điểm Đại hội IX của Đảng về phát triển giáo
dục và đào tạo, Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 của Chính phủ
(2001) đã vạch ra những mục tiêu cụ thể đối với giáo dục phổ thông: giáo
dục phổ thông thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ. Cung cấp
học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp; tiếp cận trình

19


độ các nước phát triển trong khu vực. Tăng tỷ lệ huy động học sinh trong độ
tuổi đến trường từ 95% năm 2000 lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010;
THCS: cung cấp cho học sinh học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết

giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục.
Nhận thức ngày càng đầy đủ hơn vị trí và vai trò của giáo dục nói chung,
giáo dục phổ thông nói riêng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) chỉ rõ:
“Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu,
là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [31, tr.9495]. Đồng thời, Đại hội cũng chỉ rõ: Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất
quán từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ
thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến căn bản và toàn diện
của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế
giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng
bộ. Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, đảm bảo
công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và
học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Quán triệt, vận dụng chủ trương của Đảng, tại Đại hội đại biểu đảng bộ
thành phố Hải Phòng lần thứ XII (2001) đã xác định phương hướng phát triển
giáo dục phổ thông trong định hướng phát triển kinh tế, xã hội của thành phố
giai đoạn 2001 - 2005 là: “Ưu tiên phát triển mạnh lực lượng sản xuất gắn với
xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, phát triển giáo dục, khoa học - công
nghệ” [23, tr.10]. Trên cơ sở nhận định, đánh giá kết quả đã đạt được cũng
như hạn chế còn tồn tại, Đại hội chỉ rõ mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của
giáo dục phổ thông giai đoạn 2001-2005 là:
Giáo dục là khâu đột phá để phát triển nhanh, bền vững, cần tiếp tục
thực hiện tốt mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, học sinh để tạo
nguồn nhân lực cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH. Tăng cường giáo
dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền thống đạo lý
dân tộc gắn với xây dựng các tổ chức chính trị-xã hội vững mạnh
trong nhà trường. Tập trung cao cho công tác quản lý giáo dục, đẩy
21




cơ sở giáo dục, vận dụng có hiệu quả các cơ chế, chính sách của Nhà nước đã
có, ban hành các cơ chế, chính sách trong phạm vi thẩm quyền của thành phố
để đẩy mạnh đào tạo nguồn lao động kỹ thuật thực hành có chất lượng cao,
đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế [24, tr. 31-32].
Để chủ trương nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo tinh thần của
Đại hội đại biểu đảng bộ thành phố lần thứ XIII đạt hiệu quả cao hơn, tháng 4
năm 2008 Thành ủy Hải Phòng đã ra Nghị quyết số 18-NQ/TU về một số chủ
trương, giải pháp chủ yếu phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố đến năm 2010, định hướng 2020.
Thành ủy Hải Phòng đã xác định rõ quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu:
Quan điểm:
Phát triển nhân lực chất lượng cao là nhiệm vụ hàng đầu và là khâu đột phá
của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH.
Coi trọng việc phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng và tôn vinh nhân tài.
Phát triển nhân lực chất lượng cao bảo đảm đồng bộ cả về quy mô, cơ
cấu, số lượng, chất lượng, bảo đảm đáp ứng nhu cầu xã hội và yêu cầu phát
triển thành phố theo hướng CNH, HĐH, chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện
thắng lợi các mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ thành phố đã đề ra.
Phát triển nhân lực chất lượng cao là trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền
lợi của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Trong đó, vai trò Nhà nước là
quan trọng trong việc tập trung đẩy mạnh thực hiện các nhiệm vụ phát triển
kinh tế, xã hội, xây dựng quy hoạch định hướng phát triển; quyết định cơ chế,
chính sách, tạo động lực và môi trường thúc đẩy phát triển nhân lực.
Nhiệm vụ và giải pháp:
Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự
tham gia, phối hợp của các ngành, đoàn thể, các tổ chức kinh tế - xã hội tham
gia phát triển nhân lực chất lượng cao.
Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức
của toàn xã hội, góp phần làm thay đổi quan điểm và tâm lý xã hội, tạo động

từng bước làm chủ được các quy luật cơ bản của tự nhiên, của xã hội, của bản

24


thân, trên cơ sở đó vươn lên làm chủ ở trình độ ngày càng cao về mọi mặt đời
sống kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước.
Chính vì vậy, không chỉ Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới coi giáo
dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu. Thủ tướng Singapo - Lý Quang Diệu từng
nói: “Nếu thắng trong cuộc đua giáo dục sẽ thắng trong phát triển kinh tế”
[90]. Trong bài diễn văn sau lễ nhận chức trước hai viện của Quốc hội Mỹ
sáng ngày 25/02/2009, Tổng thống Barack Obama khẳng định: “Trong nền
kinh tế toàn cầu, nơi thứ có giá trị nhất mà bạn có thể bán là tri thức của các
bạn. Một nền giáo dục tốt không chỉ là cơ hội mà là điều kiện tiên quyết” [90].
Song, trong nền giáo dục nói chung, trước hết phải nói đến giáo dục phổ thông,
bởi đây là nền tảng, là bước khởi đầu của hành trình giáo dục và quá trình
chiếm lĩnh tri thức. Nhận định về vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục phổ
thông, trong một công trình nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn về những ưu
tiên và chiến lược cho giáo dục, Ngân hàng thế giới đã có kết luận: “Giáo
dục, đặc biệt là giáo dục cơ bản (GDPT) góp phần làm giảm đói nghèo, tăng
năng suất lao động của từng lớp lao động nghèo, giảm sinh đẻ và tăng cường
sức khoẻ, giúp mọi người cùng có cơ hội tham gia đầy đủ vào hoạt động xã
hội và phát triển kinh tế” [89].
Hiện nay, nhằm thực hiện những mục tiêu khác nhau tùy theo bản chất
của mỗi chế độ xã hội, nhiều nước trên thế giới đang tiếp tục tiến hành cải
cách giáo dục phổ thông, đưa các thành tựu mới nhất của khoa học và kỹ
thuật vào nhà trường như các thành tựu về máy tính, về tin học, về công nghệ
sinh học… Làm cho xu thế đổi mới giáo dục phổ thông diễn ra trên quy mô
toàn cầu, tạo nên những thay đổi sâu sắc từ triết lý, quan niệm, giá trị đến mục
tiêu, nội dung, phương pháp. Trong đó, trọng tâm chủ yếu tập trung vào cải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status