Đảng bộ huyện An Lão (Hải Phòng) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1988 đến năm 2006 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
===========&&===========

NGUYỄN VĂN THÔNG

ĐẢNG BỘ HUYỆN AN LÃO (HẢI PHÒNG)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 1988 ĐẾN NĂM 2006

Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số

: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS TRƯƠNG THỊ TIẾN

HÀ NỘI, NĂM 2009


MỤC LỤC
Trang
Lời nói đầu

1

Chương 1: ĐẢNG BỘ HUYỆN AN LÃO LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG
VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG NHỮNG


1.3.1. Lãnh đạo thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ chính trị

28

1.3.2. Chỉ đạo từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế

35

1.3.3. Những thành quả đạt được
Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN AN LÃO LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH

40

SỰ NGHIỆP CNH, HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN NHỮNG

40

NĂM 1996- 2006

45

2.1. Đường lối CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng

45

2.2. Đảng bộ huyện An Lão chỉ đạo thực hiện CNH, HĐH

50

2.2.1. Giải quyết vấn đề đất đai

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT- KINH NGHỆM LỊCH SỬ

94

3.1. Đảng bộ An Lão có vai trò quan trọng trong lãnh đạo

94

3.1.1. Góp phần cùng các địa phương khác tìm tòi hướng đi
3.1.2. Chủ trương ứng dụng khoa học- công nghệ vào sản xuất
3.1.3. Kêu gọi các thành phần kinh tế đầu tư
3.1.4. Chú trọng công tác cán bộ
3.2. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ An Lão, kinh tế nông nghiệp
3.3. Một số kinh nghiệm đúc kết từ quá trình Đảng bộ An Lão
3.3.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
3.3.2. Khi vận dụng đường lối chủ trương của Đảng, Thành uỷ
3.3.3. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
3.3.4. Không ngừng củng cố tăng cường sức mạnh đoàn kết
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

101
103
105
107
113
113
114
115
115

bản hàng đầu quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Những thành quả

1


mà An Lão đạt được hôm nay là một minh chứng về vai trò lãnh đạo toàn diện
của Đảng bộ An Lão, đặc biệt trong xây dựng và phát triển kinh tế.
Những năm trước đổi mới, nằm trong bối cảnh chung của cả nước, An
Lão lâm vào khủng hoảng kinh tế, xã hội. Là một huyện có tỷ trọng nông
nghiệp chiếm hơn 90% nhưng lương thực, thực phẩm không đáp ứng đủ nhu
cầu của nhân dân, sản xuất đình đốn, hàng hoá khan hiếm, ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống của nhân dân.
Vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới do Đại hội VI (12/1986) của Đảng
khởi xướng, Đảng bộ An Lão đã tích cực triển khai cụ thể hoá thành những
chương trình, mục tiêu cụ thể phù hợp với thực tế địa phương. Đảng bộ An
Lão từng bước tháo gỡ những khó khăn trong phát triển kinh tế và bước đầu
kinh tế An Lão có những bước phát triển rõ rệt. Sản xuất nông nghiệp liên tục
tăng trưởng với nhịp độ khá, từ chỗ kinh tế mang nặng tính tự cung tự cấp đã
và đang chuyển dần sang sản xuất hàng hoá. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng phát huy lợi thế của các vùng, hình thành những vùng chuyên canh.
Thu nhập và đời sống của nông dân từng bước được cải thiện.
Tuy nhiên, một loạt vấn đề kinh tế đang nảy sinh đòi hỏi Đảng bộ An
Lão phải tiếp tục có những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa năng lực lãnh
đạo, đáp ứng nhu cầu của sự phát triển công nghiệp hoá nông nghiệp, nông
thôn. Trong bối cảnh đó, tổng kết những chặng đường đã qua, đúc kết những
kinh nghiệm lịch sử….là một trong những giải pháp quan trọng. Chính vì vậy,
chúng tôi đã chọn: “Đảng bộ huyện An Lão (Hải Phòng) lãnh đạo phát
triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1988 đến năm 2006” làm đề tài Luận văn
Thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu

hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn”, của Thành uỷ Hải
Phòng, 1998; Chỉ thị số 19- CT/TU về một số nhiệm vụ trọng tâm của công
tác thuỷ lợi”, của BTV Thành uỷ Hải Phòng, ngày 25/10/2000”; “Lịch sử
nông nghiệp Hải Phòng 40 năm phát triển (1955- 1995)”, Nguyễn Huy Đông
(chủ biên), Nxb Hải Phòng, năm 2001; “Chương trình số 10- Ctr/TU về phát

3


triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá thành phố Hải Phòng
năm 2001- 2005” của BTV Thành uỷ Hải Phòng, ngày 24/6/2001…
Bốn là, Đảng bộ huyện An Lão (Hải Phòng) lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp là một vấn đề mới, cho đến nay mới chỉ có một số công trình
khoa học viết về vấn đề này, đó là: “Đổi mới mô hình hợp tác xã sản xuất
nông nghiệp hiện nay ở huyện An Lão - Hải Phòng”- Luận án PTS KH kinh
tế, Hà Nội, 1993 của tác giả Đoàn Văn Dân nguyên là Chủ tịch UBND huỵện
An Lão (khóa 1991- 1995); “Đổi mới mô hình hợp tác xã sản xuất nông
nghiệp ở huyện An Lão” của đồng tác giả PGS. TS Lê Đình Thắng, PGS. TS
Đoàn Văn Dân; PGS. TS Ngô Đức Cát, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội 1994;
“Nghị quyết của BCH Đảng bộ huyện An Lão về phát triển kinh tế nông
nghiệp nông thôn từ 1996- 2000”, số 06/NQ- HU, ngày 25/06/1996; “Quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện An Lão- Hải Phòng đến năm
2010” của Chủ tịch UBND huyện An Lão Nguyễn Xuân Sang (khóa 19952000), An Lão, 1996; “Lịch sử Đảng bộ huyện An Lão (1930- 2000)”, Nxb
Hải Phòng, 2000; “Nghị quyết của BCH Đảng bộ huyện An Lão về phát triển
kinh tế nông nghiệp nông thôn từ 2001- 2005”, số 09/NQ- HU, ngày
25/09/2001; …
Hầu hết những công trình trên đây đều nghiên cứu nông nghiệp, nông
thôn dưới góc độ kinh tế (kinh tế nông nghiệp là chủ yếu) như: đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
thôn, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội huyện An Lão hoặc những vấn đề

nông nghiệp vào tình hình cụ thể của địa phương.
- Về không gian nghiên cứu: Luận văn tiến hành nghiên cứu trên địa bàn
huyện An Lão hiện nay.
- Về thời gian nghiên cứu: Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ năm 1988
đến năm 2006.
5


5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng
cầm quyền trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng
một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; phương pháp phân
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tế để xử lý số liệu. Các nhận
xét, đánh giá được bám sát những quan điểm đường lối, chính sách của Đảng
về phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới.
6. Những đóng góp của luận văn
Thông qua quá trình nghiên cứu, luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò lãnh
đạo của Đảng, đặc biệt là Đảng bộ cơ sở trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Từ
đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của Đảng
bộ An Lão đối với nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế địa phương.
Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo khi nghiên cứu về lịch sự Đảng bộ địa
phương.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đảng bộ huyện An Lão tập trung lãnh đạo đổi mới và
phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 1988- 1995.
Chương 2. Đảng bộ huyện An Lão lãnh đạo đẩy mạnh sự nghiệp

bố không đều đã gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp: vụ đông xuân cần
nhiều nước để đổ ải, thau chua rửa mặn cho đất, dưỡng lúa… lại thường ít
mưa gây hạn hán; vụ mùa thường có mưa lớn, lượng nước dư thừa nhiều gây
úng lụt. Tuy nhiên, khí hậu mùa đông đặc biệt phù hợp với phát triển cây rau
màu, cây thực phẩm vụ đông để phục vụ sinh hoạt của nhân dân, nguyên liệu
cho chăn nuôi, chế biến rau xuất khẩu…

7


Huyện An Lão có hệ thống sông ngòi khá dày đặc và phân bố đều, diện
tích mặt nước 1.378 ha chiếm 6,7% diện tích tự nhiên. Các con sông Lạch
Tray, sông Đa Độ, sông Văn Úc cung cấp nước dồi dào, dẫn nước phù sa màu
mỡ cho đồng ruộng, thuận tiện cho nuôi thả, khai thác thuỷ sản đồng thời là
hệ thống giao thông đường thuỷ phục vụ tốt cho du lịch, vận tải.
Là huyện vùng châu thổ sông Hồng nhưng An Lão có nhiều núi sót tạo
nên cảnh trí thiên nhiên đa dạng được nhiều nhà nghiên cứu địa lý chú ý. Sách
Đại Nam Nhất thống chí ghi: “Núi Voi ở cách huyện An Lão 8 dặm về phía
Tây Bắc, hình thế như con Voi nằm, núi có hang, trong có nhiều thạch nhũ,
núi Yên Ngựa ở xã Xuân Áng, núi Vọ ở xã Đồng Tử, núi Đấu ở cách huyện An
Lão 9 dặm về phía Đông Bắc, bốn mặt cao chót vót, ở giữa trũng xuống và
bằng phẳng như hình cái đấu…”.
Cùng với quận Kiến An, An Lão có vị trí trung tâm trên đất liền của
thành phố Hải Phòng. Huyện có Quốc lộ 10 chạy qua và có mạng lưới giao
thông tỉnh lộ, huyện lộ… thuận tiện cho sự phát triển kinh tế- xã hội của địa
phương.
1.1.2. Sự thay đổi về địa giới hành chính và tình hình dân cư
Lịch sử hình thành, phát triển của vùng đất An Lão đã có hàng nghìn
năm nay. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở Di chỉ núi Voi (thuộc An Lão) có
nhiều lưỡi rìu đồng, nhiều lưỡi dao găm bằng đồng có sống nổi ở giữa, có trốt

trấn.
Cư dân An Lão thuần Việt với những đức tính đặc trưng của dân tộc
Việt: cần cù siêng năng, nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, khắc
phục chua mặn trồng lúa nước, hoa màu, trồng hoa, cây cảnh…., có truyền
thống đoàn kết, bất khuất, kiên cường trong đấu tranh chống thiên tai, địch
hoạ: “…người dân An Lão đã vượt qua nhiều thử thách khó khăn, đóng góp
sức người, sức của, bền bỉ, mưu trí dũng cảm lập nhiều chiến công, góp phần
cùng cả nước giành thắng lợi vẻ vang” [35].
Truyền thống ấy đã được người dân An Lão đúc kết qua câu ca dao:
Đứng trên đỉnh núi ta thề
Không giết được giặc không về núi Voi
9


Về dân số và lao động: Theo kết quả điều tra của Phòng thống kê
huyện An Lão, tính đến năm 1996, dân số An Lão có 118.390 người, trong đó
số dân nông thôn 115.255 người (chiếm 97,36%), dân số thành thị 3.135
người (chiếm 2,64% dân số huyện), mật độ dân số 906 người/km2, phân bố
khá đều trên địa bàn huyện. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm là 1,35%, tỷ
lệ suất sinh 17,07%. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 11%. Số con trung bình
của một bà mẹ trong độ tuổi sinh đẻ là 2,15 con.
Số người trong độ tuổi lao động là 62.386 người (chiếm 52,70%),
trong đó lao động làm nông nghiệp 47.455 người (chiếm 40,08% dân số),
lao động phi nông nghiệp 70.935 người (chiếm 59,92%).
Bảng 1: Dân số và lao động huyện An Lão đến năm 1996
Chỉ tiêu
Dân số trung bình

Đơn vị
1000 người


5,51

5,2

Ds chuyển đi

Người

852

687

Ds chuyển đến

Người

1.335

887

% so với ds

%

1,19

0,74

Tỷ lệ tăng ds tự nhiên


41.357

49.186

% so với tổng ds

%

37.08

41.55

Tăng % năm

%

Ds trung bình trong độ tuổi lđ
% so với ds

1990
111.545

1996
118.390

4.94%

(Nguồn:Phòng thống kê huyện An Lão- thành phố Hải Phòng)


nghiêm trọng; trình độ và năng lực quản lý của cán bộ các cấp từ huyện đến
thôn còn nhiều hạn chế. Do vậy, lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong
thời kỳ mới cần phải khắc phục những khó khăn, hạn chế trên đây, phát huy

11


những lợi thế sẵn có của địa phương, đưa ra những chủ trương đúng đắn, phù
hợp, hiệu quả.
1.2. Đảng bộ huyện với những đột phá đầu tiên trong quá trình đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp (1981- 1988)
1.2.1. Sự xuất hiện của hiện tượng “khoán chui” và vai trò của các
Đảng bộ cơ sở (1981- 1988)
Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, An Lão cùng cả nước
quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cùng với niềm vui chung của cả nước sau ngày
giải phóng, nhân dân An Lão đã hăng hái sản xuất, bước đầu đã đạt những
thành tựu quan trọng như: cơ sở vật chất kỹ thuật từng bước được xây dựng,
sản xuất đi vào nề nếp… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được
An Lão cũng nằm trong bối cảnh chung của cả nước lúc bấy giờ, đó là: nền
kinh tế đứng trước những khó khăn gay gắt, lương thực, năng lượng, ngoại tệ,
vật tư, tài chính… rất căng thẳng. Tình hình kinh tế- xã hội của An Lão gặp
rất nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp chưa thoát khỏi độc canh cây lúa,
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp còn nhiều bế tắc, trình độ văn hoá- xã
hội rất thấp, đổi mới tư duy còn chậm. Ruộng ít, thuỷ lợi kém, giống kém,
giống cũ, các nghề truyền thống lại không phát triển cho nên nông dân An
Lão mặc dù có tiếng cần, kiệm mà vẫn đói, nghèo.
Trong những năm 1975- 1980, trên địa bàn Thành phố Hải Phòng nói
chung, An Lão nói riêng, quản lý kinh tế nông nghiệp theo mô hình tập thể
hoá được đẩy tới mức cao nhất đồng thời cũng là thời điểm tính bất hợp lý,
tính phi hiệu quả của mô hình tổ chức sản xuất này bộc lộ rõ nét nhất từ trước

huyện An Lão sau này) đã rất mạnh dạn, năng động và linh hoạt trong việc
chỉ đạo bà con xã viên thực hiện nhiều hình thức “khoán chui” hiệu quả. Ví
dụ: Vụ đông năm 1977, Đảng bộ xã Chiến Thắng đưa ra chủ trương (không
thành Nghị quyết) chia cho mỗi nhân khẩu 2 thước khoai tây để trồng. Kết
quả sau vụ đông ấy, khoai tròn có năng suất tăng vọt, bình quân 3 thúng
khoai/1 thước (tăng gấp 2 lần so với làm tập thể). Vụ chiêm- xuân 1978, Đảng
bộ xã mạnh dạn “khoán chui” mỗi nhân khẩu 6 thước “ruộng lợn” để cấy. Sau
13


vụ này, năng suất lúa của ruộng khoán tăng vọt. Tại thời điểm đó, các Đảng
bộ khác trong huyện xuất hiện nhiều cách làm mới, như xã Tân Viên có
khoán ruộng “chân tre” (ruộng ven làng); xã Mỹ Đức, Bát Trang đã “thả nổi”
diện tích khai hoang hoặc cho xã viên mượn đất để gieo trồng vụ đông …
Như vậy, “khoán chui” là biện pháp linh hoạt nhanh nhạy của một số
Đảng bộ cơ sở trong huyện nhằm tháo gỡ những khó khăn trong những năm
trước đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp. Vai trò của Đảng bộ cơ sở thể hiện
rõ tính chủ động, sáng tạo, nhanh nhạy trong việc chỉ đạo các HTX thực hiện
“khoán”, từ việc thâm nhập vào thực tế, đề ra chủ trương, lắng nghe ý kiến
nhân dân… Thực tế ngay từ vụ thu hoạch đầu tiên, cách khoán này đã mang
lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Năng suất lúa một vụ bình quân đạt từ 21,77 tạ/ha
đã tăng lên 36,34 tạ/ha khi thực hiện “khoán chui”. Có địa phương như Đoàn
Xá (Đồ Sơn); Bát Trang, Chiến Thắng, Tân Viên (An Lão) năng suất tăng lên
39,21 tạ/ha.
Tuy nhiên, cách làm mới ở một số địa phương trong huyện đã gây ra sự
tranh cãi gay gắt với hai tư tưởng khác nhau. “Khoán chui” là cách làm tự
phát của người nông dân trước sự ràng buộc của cơ chế quản lý kinh tế mô
hình cũ mặc dù có hiệu quả nhưng không nhận được sự ủng hộ của đa số các
cấp chính quyền trong huyện do chưa có chủ truơng của Trung ương và
Thành uỷ. Vì vậy, “khoán chui” trong giai đoạn đầu mới chỉ giới hạn triển

đơn vị làm thí điểm và giao cho Kiến An khẩn trương triển khai thực hiện
Nghị quyết. Ngày 25/6/1980, huyện uỷ Kiến An triệu tập Hội nghị mở rộng
và ra Quyết định số 14/NQ- HU về việc triển khai Nghị Quyết 24 của BTV
Thành uỷ. Sở dĩ BTV Thành uỷ chọn Kiến An là đơn vị thí điểm triển khai
thực hiện Nghị quyết 24 vì Kiến An là một trong những địa phương đã đi đầu
trong việc áp dụng phương thức “khoán chui” đạt hiệu quả, đồng thời các cấp
lãnh đạo trong huyện nhanh nhạy và quyết tâm cao tiếp tục cách làm “khoán
chui” có hiệu quả trước yêu cầu của thực tiễn sản xuất.
Trước khi có Nghị quyết 24, chỉ có 5 xã/21 xã toàn huyện Kiến An đã
thực hiện “khoán chui”. Khi Nghị quyết 24 ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng
15


bộ huyện, nhân dân Kiến An đã sôi nổi thực hiện chủ trương của Đảng bộ Hải
Phòng. Các hợp tác xã giao ruộng đất khoán, chi phí sản xuất cho nhóm và
người lao động, thu sản phẩm theo đơn giá khoán. Hộ nông dân được thực sự
làm chủ 3 khâu: gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch (năm khâu còn lại vẫn do
HTX điều hành). Được chủ động một phần trên ruộng đất khoán, các hộ nông
dân phấn khởi sử dụng mọi tiềm năng hiện có của mình để thu được nhiều sản
lượng vượt khoán. Sản phẩm vượt khoán xã viên được tự do sử dụng.
Tháng 12/1980, Thành uỷ Hải Phòng tiến hành sơ kết những thắng lợi
của khoán sản phẩm theo tinh thần Nghị quyết 24 ở Kiến An. Do đáp ứng
nguyện vọng của nhân dân và yêu cầu của cuộc sống, vụ mùa năm 1980 toàn
huyện có 15/21 xã hoàn thành khoán sản phẩm tới nhóm và người lao động.
Trong vụ này, năng suất lúa đã tăng lên đạt bình quân toàn huyện 26,26 tạ/ha,
tăng 4,34 tạ/ha so với vụ mùa năm 1979. Thu hoạch vụ đông ước khoảng 390
tấn khoai lang, 210 tấn khoai tây. Khai hoang thêm diện tích 342 ha đưa vào
canh tác. Nhờ kết quả đó đã nhanh chóng ngăn chặn sự sa sút, trì trệ của nông
nghiệp và khẳng định sự quyết tâm hưởng ứng, hoan nghênh của Đảng bộ và
nhân dân toàn huyện.

Chỉ thị 100- CT/TW được coi là bước đột phá đầu tiên vào mô hình
hợp tác hoá nông nghiệp cùng với cơ chế quản lý của nó. “Bước chuyển từ
khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội sang khoán hộ gia đình ở một
số khâu chính là bước quá độ từ kiểu quản lý và tổ chức sản xuất tập thể của
các HTX sang phát huy quyền tự chủ của từng hộ xã viên”. [53, 223]
Đối với An Lão nói riêng và Hải Phòng nói chung, Chỉ thị 100CT/TW còn là cơ sở pháp lý, khẳng định tính đúng đắn và đưa Nghị quyết 24
thực sự đi vào cuộc sống. Cơ chế khoán mới là bước đột phá cho quá trình đổi
mới quản lý ở cơ sở và là bước quá độ từ kiểu quản lý và tổ chức sản xuất tập
thể của hợp tác xã sang phát huy quyền tự chủ của từng hộ xã viên.
Thực hiện chủ trương của Đảng, đến vụ mùa năm 1981, 100% số HTX
trong huyện đã hoàn thành cả 4 giải pháp trong Nghị quyết 24 của Thành uỷ.
Các giống lúa mới cho năng suất cao được đưa vào sản xuất như: Xuân số 2,
Cr 203, 424…, trâu, bò, máy cày, máy kéo cũng được hoá giá bán cho các hộ
17


nông dân. Các hộ nông dân đã tích cực canh tác trên phần ruộng nhận khoán,
đảm nhiệm tốt các khâu trong sản xuất. Việc gieo cấy bằng những giống mới
cho năng suất, đảm bảo kỹ thuật và kịp thời vụ, khâu chăm sóc đạt hiệu quả,
khâu thu hoạch nhanh gọn kịp thời, ít thất thoát. Năm 1982, sau 2 năm thực
hiện khoán sản phẩm tới nhóm và người lao động đã có 100% số hộ đạt và
vượt khoán. Riêng vụ Đông- Xuân năm 1982- 1983, năng suất thực tế cao
hơn từ 10- 20% năng suất khoán của HTX. Nếu năm 1980, năng suất lúa chỉ
đạt 39,61 tạ/ha thì năm 1982, toàn huyện đạt năng suất trung bình 62,58 tạ/ha,
sản lượng đạt 39,771 tấn, tăng 15,671 tấn so với năm 1980. Hai HTX Kim
Côn thuộc xã Chiến Thắng, Đại Điền thuộc xã Tân Viên năng suất lúa đạt 80
tạ/ha.
Cơ chế khoán mới góp phần chặn đứng xu hướng giảm sút liên tục sản
xuất nông nghiệp của huyện trong những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ
XX. Tình hình xã hội nông thôn chuyển biến tích cực, từng bước khắc phục

yếu. Người nhận khoán phải tuân theo kế hoạch sản xuất, quy trình kỹ thuật
và định mức chi phí của HTX. Một phần thu nhập quan trọng vẫn hưởng theo
chế độ công điểm của HTX. Vì thế, sau một thời gian phát huy tác dụng tích
cực, cơ chế khoán đã bộc lộ những nhược điểm, hạn chế của nó. Người nông
dân chỉ thực sự làm chủ 3 khâu trong sản xuất nông nghiệp, còn 5 khâu vẫn
do HTX điều hành. Hầu hết các hộ nông dân đều mong muốn làm lấy mọi
khâu trong sản xuất (khoán gọn). Các khoản HTX thu của xã viên ngày càng
nhiều, có tới trên 20 khoản đóng góp bao gồm: thuế, nghĩa vụ lương thực,
thực phẩm, dịch vụ phí của HTX và các công ty dịch vụ thu qua HTX như:
điện, thuỷ nông, bảo hiểm cây trồng, vật tư nông nghiệp, nợ ngân hàng và
công ích (nhà trẻ, y tế, giáo dục, dân công…). Các khoản xã viên nợ HTX
không có khả năng trả ngày càng tăng lên. Thực tế, sau 2-3 năm thực hiện Chị
thị 100- CT/TW, phần lớn các HTX đã điều chỉnh mức khoán tăng lên dẫn
đến sản lượng vượt khoán giảm dần. Thu nhập từ ruộng cấy của nông dân
cũng giảm dần. Đời sống nhân dân ngày càng khó khăn. Người nông dân
trong huyện chưa yên tâm sản xuất. Hiện tượng nông dân sản xuất cầm
chừng, thậm chí để ruộng hoang đã xuất hiện ở một số nơi trong huyện như
HTX Kim Côn, Mông Thượng xã Chiến Thắng, HTX Câu Trung xã Tân
19


Viên, HTX Liễu Dinh xã Trường Thọ…. Động lực trong cơ chế khoán ở thời
kỳ đầu đã mất tác dụng và dẫn tới kìm hãm, cản trở sự phát triển của sản xuất
nông nghiệp.
1.2.3. Tập trung chỉ đạo thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của
Đảng là: lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu
Những năm 80 của thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng
trầm trọng. Trước tình hình đó Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
Đảng được triệu tập (12/1986), trên cơ sở phân tích tình hình kinh tế- xã hội
đất nước, Đảng đề ra đường lối đổi mới toàn diện trong đó trọng tâm là đổi

cần cù sáng tạo của toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhằm phát
triển đồng đều, mạnh mẽ cả 3 ngành kinh tế lớn của địa phương là nông
nghiệp, thủ công nghiệp và kinh tế biển. Trong đó, sản xuất nông nghiệp là
mặt trận hàng đầu” [36, 253]
Ngoài ra, Đảng bộ huyện Kiến An đã phát động phong trào thi đua thực
hiện thắng lợi các mục tiêu trong 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng là:
Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Về lương thực,
thực phẩm, phấn đấu khắc phục tình trạng thiếu đói; hàng tiêu dùng phải đáp
ứng nhu cầu bình thường của nhân dân; hàng xuất khẩu phải tạo ra những mặt
hàng mũi nhọn phát huy lợi thế của địa phương.
Sau 3 năm (1986- 1988), thực hiện chủ trương, chính sách mới về phát
triển kinh tế nông nghiệp của Đảng, Đảng bộ huyện Kiến An đã lãnh đạo sản
xuất nông nghiệp đạt được những kết quả cụ thể sau:
- Giá trị sản lượng nông nghiệp bình quân hàng năm đạt 800 triệu đồng
(trong đó trồng trọt 650 triệu, chăn nuôi 150 triệu).
- Tổng diện tích gieo trồng bình quân trong 3 năm là 15.800 ha trong
đó diện tích cấy lúa là 9.500 ha, diện tích hoa màu là 3.200 ha, diện tích cây
công nghiệp là 3.100 ha.
- Tổng sản lượng bình quân hàng năm là 37.000 tấn thóc, sản lượng hoa
màu quy ra thóc đạt 1.000 tấn.

21


- Năng suất bình quân 3 năm đạt từ 50 đến 65 tạ/ha/năm, trong đó vụ
chiêm xuân là 31 tạ/ha, có vụ đạt 35 tạ/ha, vụ mùa đạt 36 tạ/ha.
- Một số cây công nghiệp và cây thực phẩm xuất khẩu chủ yếu như: lạc
120 ha, sản lượng 145 tấn; đay 80 đến 90 ha, sản lượng 250 tấn; cói 150 ha,
sản lượng 900 tấn; khoai tây 2.300 ha, sản lượng 3.100 tấn…
- Về chăn nuôi, số lượng đàn trâu hiện có là 3.100 con, đàn bò 2.000


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status