Đảng bộ huyện Ứng Hòa (Hà Nội) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2008 đến năm 2014 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ CÚC

ĐẢNG BỘ HUYỆN ỨNG HÒA (HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ CÚC

ĐẢNG BỘ HUYỆN ỨNG HÒA (HÀ NỘI)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Đặng Kim Oanh

Hà Nội - 2015


Nguyễn Thị Cúc


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 2
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu. ................................................................. 7
Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN ỨNG HÒA ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM
2008 ĐẾN NĂM 2010 ................................................................................. 10
1.1. Những yếu tố tác động đến kinh tế nông nghiệp huyện Ứng Hòa và
chủ trƣơng của Đảng bộ ............................................................................... 10
1.1.1. Những yếu tố tác động đến kinh tế nông nghiệp huyện Ứng Hòa ............... 10
1.1.2. Chủ trương của Đảng bộ huyện Ứng Hòa về phát triển kinh tế nông
nghiệp .............................................................................................................. 28
1.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ Ứng Hòa về phát triển kinh tế nông
nghiệp ............................................................................................................. 32
1.2.1. Chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển các
nguồn lực cho nông nghiệp ........................................................................... 32
1.2.2. Chỉ đạo sản xuất nông nghiệp ............................................................ 36
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................... 43
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN ỨNG HÒA LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP (2011 – 2014) ......................... 45
2.1. Những yếu tố mới tác động đến kinh tế nông nghiệp và chủ trƣơng
mới của Đảng bộ ............................................................................................ 45
2.1.1. Những yếu tố mới tác động đến kinh tế nông nghiệp huyện Ứng Hòa . 45
2.1.2. Chủ trương mới của Đảng bộ huyện Ứng Hòa..................................... 55
2.2. Sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Ứng Hòa ............................................. 58

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

CNH

Công nghiệp hóa

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

HĐH

Hiện đại hóa

KTNN

Kinh tế nông nghiệp

NXB

Nhà xuất bản

TBCN

Tư bản chủ nghĩa

UBND

Ủy ban nhân dân


định chính trị, đảm bảo an ninh trật tự xã hội.
Cùng với sự phát triển của nông nghiệp trong cả nước, nông nghiệp ở
huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội cũng luôn được các cấp chính quyền, địa
phương quan tâm, tạo điều kiện để phát triển, mở rộng về quy mô và đa dạng
về các loại hình cơ cấusản xuất. Song do tính chất thủ công, lạc hậu vốn sẵn
của nó, sự phát triển của các ngành nông nghiệp ở huyện Ứng Hòa còn mang
nặng tính chất tự phát, sản xuất nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất
thấp, kém phát triển, chưa có những vùng kinh tế trọng điểm, gần như chưa
tạo được thị trường rộng lớn … Đi cùng với nó là đội ngũ cán bộ quản lý cơ
sở sản xuất còn thiếu và yếu, trình độ thấp. Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân
chủ quan và khách quan, nông nghiệp Ứng Hòa còn nhiều hạn chế trong hoạt
động tổ chức sản xuất. Chính vì vậy nông nghiệp chưa phát huy hết vai trò

1


của của nó trong việc thúc đẩy sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn.
Để ngành nông nghiệp phát huy được vai trò và năng lực trong phát
triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, vấn đề đặt ra là phải có phương hướng
phát triển tốt, giải pháp phát triển kinh tế ngành nông nghiệp phù hợp với tình
hình thực tế ở địa phương, phù hợp với yêu cầu phát triển và phù hợp với xu
hướng vận động và phát triển của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Đề
tài: “Đảng bộ huyện Ứng Hòa (Hà Nội) lãnh đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp từ năm 2008 đến năm 2014” nghiên cứu làm sáng tỏ vai trò của
Đảng bộ trong lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp; góp phần giải quyết
vấn đề còn tồn tại bấy lâu trong phát triển nông nghiệp trên đại bàn huyện.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kinh tế nông nghiệp là vấn đề rất quan trọng vì có ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống kinh tế của con người, ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, xã hội

triển kinh tế Việt Nam nói chung, trong đó kinh tế nông nghiệp trong những
năm 1945 – 1954. Công trình nghiên cứu về Chính sách phát triển nông
nghiệp và nông thôn sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị, do GS.TS Lê Đình
Thắng (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội. Tác giả đã phân tích và
xác định được tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế
nông thôn ở nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ sau
Nghị quyết 10, từ đó có những kiến nghị , phương hướng và những giải pháp
để đổi mới, phát triển kinh tế nông thôn trong giai đoạn tiếp theo. Đoàn Văn
Tập (chủ biên): 45 năm kinh tế Việt Nam (1945 – 1990), Nhà xuất bản Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1990, đã nghiên cứu tình hình, chính sách và triển vọng
kinh tế Việt Nam trải qua 45 năm xây dựng và phát triển nền công nghiệp.Tác
giả Kim Sơn với cuốn Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam– hôm nay
và mai sau, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2008, đã làm rõ thực trạng về
nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay, những thành tựu, những khó
khăn còn tồn tại. Và từ thực tiễn đó, tác giả Nguyễn Kim Sơn đã đề xuất, kiến
nghị nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn phát triển. Một số công trình

3


nghiên cứu về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Đảng bộ địa
phương trên lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Các công trình nghiên cứu về Đảng, Đảng bộ lãnh đạo phát triển
kinh tế nông nghiệp, nông thôn
Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Đảng Cộng sản Việt Nam với phong
trào Hợp tác xã (tập 2), Nxb Chính Trị Quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nghị quyết số 26 – NQ/TW của Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương khóa X về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Phan sỹ Mẫn,
“Định hướng và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa” Tạp chí kinh tế số
262, tháng 1 năm 2004. Lê Huy Ngọ (2002), Con đường công nghiệp hóa,

Thủy, Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở huyện Đông Sơn ( hanh
Hóa) nửa đầu thế kỷ XIX, luận án tiến sĩ Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội,
2002. Lê Thị Thu Hương, Đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn của
Đảng trong những năm 1986-2006, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học khoa
học xã hội và Nhân Văn, ĐHQG Hà Nội, 2008. Nguyễn Thị Năm (2008), Quá
trình thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn của Đảng ở tỉnh Hà Tây(1996- 2005), luận văn thạc sĩ, Trường Đại học
khoa học xã hội và Nhân Văn, ĐHQG Hà Nội. Bùi Thanh Xuân, Đảng bộ tỉnh
Nghệ An lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn (1996- 2006), luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, ĐHQGHN, 2009. Nguyễn Văn Vinh, Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ 1986 đến 2005, Luận án
Tiến sĩ Lịch sử, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội, 2010. Lê Minh Tấn, Đảng bộ tỉnh Tiền Giang lãnh đạo phát triển kinh tế
nông nghiệp 1986 - 2005, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2009. Đặng Kim
Oanh, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp (1996-2006), luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn, ĐHQG Hà Nội, 2011. Tống Thị Nga, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh
đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm

5


1997 đến năm 2010, luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Trường Đại
học Khoa học xã hội và Nhân Văn, ĐHQG Hà Nội, 2014. Nguyễn Thị Tuyết
(2014), Đảng bộ huyện Hoài Đức (tỉnh Hà ây) lãnh đạo kinh tế nông nghiệp
từ năm 1996 đến 2008, Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân Văn, ĐHQG Hà Nội. Nguyễn Thị Thoa (2014), Đảng bộ huyện Mỹ
Đức (tỉnh Hà ây) lãnh đạo kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến 2008. Luận

chưa nghiên cứu toàn diện sâu sắc vai trò của Đảng bộ Huyện trong lãnh đạo
phát triển kinh tế nông nghiệp những năm 2008-2014.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
- Nghiên cứu chân thực quá trình Đảng bộ huyện Ứng Hòa (thành phố
Hà Nội) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2008 đến năm
2014.
- Nêu lên được những thành tựu cũng như những hạn chế cần khắc phục
và rút ra những bài học kinh nghiệm để phục vụ phát triển kinh tế nông
nghiệp huyện hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
- Tập hợp và lựa chọn các nguồn tư liệu liên quan đến đề tài.
- Hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng bộ huyện Ứng Hòa (thành
phố Hà Nội) trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ
năm 2008 đến năm 2014.
- Phân tích, tổng kết đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm từ quá
trình đó.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
4.1. Đối tượng
Chủ trương và các biện pháp trong quá trình chỉ đạo thực hiện phát
triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Ứng Hòa từ năm 2008 đến năm
2014.

7


4.2. Phạm vi
Về nội dung
Phân tích, tổng hợp và làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ứng Hòa

phòng nông nghiệp, phòng phát triển kinh tế hạ tầng nông thôn, Huyện đoàn,
Hội phụ nữ, Hội nông dân… Ngoài ra còn sử dụng một số tài liệu trên các
sách báo, tạp chí từ Trung ương đến địa phương có liên quan tới vấn đề kinh
tế nông nghiệp.
6. Đóng góp của đề tài
Luận văn hệ thống hóa quan điểm đường lối phát triển KTNN của
Đảng, Đảng bộ và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ huyện Ứng Hòa vận dụng
vào thực tiễn địa phương để lãnh đạo phát triển KTNN.
Nêu lên những thành tựu và hạn chế của sự phát triển KTNN, đồng
thời đúc rút một số bài học kinh nghiệm của Đảng bộ trong quá trình lãnh
đạo, chỉ đạo phát triển sản xuất nông nghiệp.
Luận văn là một chuyên khảo có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu về
sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ứng Hòa nói chung và về sự phát triển kinh tế
nông nghiệp của Ứng Hòa nói riêng. Góp một phần nhỏ giúp các nhà quản lý
địa phương có cách nhìn nhận cụ thể vào thực tiễn của từng vùng, miền mà có
chính sách áp dụng cho phù hợp
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận
văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Ứng Hòa đối
với kinh tế nông nghiệp từ năm 2008 đến năm 2010.
Chương 2: Đảng bộ huyện Ứng Hòa lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh
tế nông nghiệp từ năm 2011 đến năm 2014.
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm.

9


Chƣơng 1: CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN ỨNG HÒA ĐỐI VỚI KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM

là 6m ở vùng Trầm Lộng, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông.
Với đặc điểm đó, địa hình huyện Ứng Hòa có thể chia thành ba vùng : Vùng 1
(vùng ven sông Đáy) gồm 12 xã là Viên An, Viên Nội, Cao Thành, Sơn
Công, Đồng Tiến, Hòa Xá, Hòa Phú, Hòa Nam, Vạn Thái, Phù Lưu, Lưu
Hoàng, Hồng Quang. Vùng này là những xã nằm dọc sông Đáy, phía trong
đồng chủ yếu trồng lúa, phía ngoài bãi chủ yếu trồng cây công nghiệp ngắn
ngày, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc. Vùng 2 (vùng cao ở phía Bắc) gồm
Thị trấn Vân Đình và 5 xã là Trường Thịnh, Quảng Phú Cầu, Hoa Sơn, Liên
Bạt, và Tảo Dương Văn. Vùng có địa hình tương đối cao so với các xã khác
trong huyện, chủ yếu là thâm canh lúa. Vùng 3 (vùng trũng) gồm 11 xã là
Phương Tú, Đội Bình, Trung Tú, Đồng Tân, Minh Đức, Kim Đường, Đại
Hùng, Đại Cường, Đông Lỗ, Hòa Lâm, Trầm Lộng. Đây được coi là vùng rốn
nước của cả tỉnh Hà Tây cũ, có độ cao thấp hơn mặt nước biển 0,5m, thường
xuyên bị ngập lụt trong mùa mưa bão. Do điều kiện địa hình trũng không
được bồi đắp phù sa hàng năm nên đất đai có độ chua cao, thường trồng trọt
hai vụ lúa 1 vụ đông (đậu tương, ngô hoặc rau). Đây cũng chính là vùng sinh
thái nông nghiệp của huyện, có sự khác biệt tương đối rõ rệt về điều kiện đất
đai, cơ cấu cây trồng và vật nuôi.... vì vậy đây là vùng chủ yếu trồng lúa và
cây vụ đông, chăn nuôi phát triển gia súc, gia cầm, thủy sản. Đây là cơ sở
quan trọng mà Đảng bộ huyện Ứng Hòa chỉ đạo quy hoạch sử dụng đất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Như vậy đặc điểm địa hình huyện
Ứng Hòa rất thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp. Cấu tạo đất ở các vùng cao
có cường độ cao, thuận lợi để bố trí các công trình công nghiệp.
Khí hậu Ứng Hòa mang đặc trưng của vùng khí hậu đồng bằng Bắc bộ,
nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng lớn của hai hướng gió chính là gió mùa
Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, chia làm hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh ,
chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, khô xen lẫn gió biển nhiệt đới ẩm gây
nên những giao động mạnh trong chế độ nhiệt ẩm và cả chế độ mưa. Trong

11


12


của sông Hồng tại Hát Môn và cũng là tụ điểm thứ hai sau ngã ba Hạc. Dòng
sông Đáy chảy theo hướng của một dứt gãy từ Việt Trì xuống đến cửa Đáy rồi
đổ ra biển. Sông Đáy có chiều dài khoảng 240km và lưu vực (cùng với phụ
lưu sông Nhuệ). Là một phân lưu của sông Hồng ở địa phận Hà Nội giữa hai
huyện Phúc Thọ và Đan Phượng. Xuôi đến Vân Đình thì lòng sông rộng ra.
Sông Đáy chảy qua huyện Ứng Hòa với tổng chiều dài là 31km. Lượng nước
để nuôi sông Đáy được cung cấp chủ yếu là do các sông nhánh, quan trọng
nhất là sông Tích, sông Bôi, sông Đào, sông Nhuệ. Nguồn nước tự nhiên của
sông Đáy kết hợp với chế độ điều hòa của hệ thống thủy lợi đã phục vụ đắc
lực trong việc cung cấp nước cho dân sinh vặn phát triển của ngành kinh tế
như giao thông, thủy sản và đặc biệt là ngành nông nghiệp. Sông Đáy còn là
trục tiêu thoát chính trong mùa lũ và hoàn toàn mang đặc thù của sông ở đồng
bằng: lòng và bãi sông biến đổi mạnh về chiều rộng. Sông Nhuệ là một con
sông nhỏ dài khoảng 76 km, bề rộng trung bình từ 30-40m, chảy ngoằn ngoèo
gần như theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bắt đầu từ cửa Hàm Rồng thuộc
làng Hạ Mỗ huyện Đan Phượng, chảy qua các cánh đồng phì nhiêu của các
huyệnn Từ Liêm, quận Hà Đông, huyện Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên
và qua địa bàn huyện Ứng Hòa 11km. Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng, là
nguồn cung cấp nước lớn cho nông nghiệp, đặc biệt còn là con sông tiêu nước
cho thành phố Hà Nội, quận Hà Đông. Ngoài ra còn con sông Đào Vân Đình
chảy từ Thanh Oai xuống, dài 6 km. Cùng với hệ thống ao, hồ đã mang lại
nguồn nước mặt cho huyện Ứng Hòa tương đối lớn (1,488 ha). Nguồn nước
của sông Đáy và sông Nhuệ còn có chứa lượng phù sa, chất lượng tốt thích
hợp cho việc cải tạo đồng ruộng và các kênh tưới tiêu. Đây chính là điều kiện
thuận lợi cho ngành nông nghiệp huyện Ứng Hòa phát triển.Tuy nhiên nguồn
nước ngầm chưa được thăm dò, đánh giá cụ thể, nhưng theo kết quả sơ bộ cho

trục đường chính: Quốc lộ 21B nối Quốc lộ 6 từ quận Hà Đông đến huyện
Thanh Oai và qua Ứng Hòa với huyện Mỹ Đức và sang Hòa Bình. Tỉnh lộ 75
nối Quốc lộ 21B với huyện Phú Xuyên. Bên cạnh đó là các đường liên tỉnh,
liên huyện, liên xã, liên thôn đan chéo nhau rất thuận lợi cho việc giao lưu

14


hàng hóa trong huyện, đặc biệt cũng là một nơi cung cấp cho nội thành Hà
Nội những nông sản thiết yếu. Ngoài ra, Ứng Hòa có hai con sông chảy qua,
đó là sông Đáy và sông Nhuệ, không chỉ tạo điều kiện cho bà con phát triển
một số ngành đánh bắt mà cũng thuận lợi cho việc đi lại bằng đường sông
trong quá trình giao lưu, trao đổi với các vùng phụ cận, nhất là đối với huyện
Mỹ Đức.
Nhân dân Ứng Hòa vốn có truyền thống cần cù lao động nên từ xa xưa
đã nổi tiếng với một số nghề thủ công. Tiêu biểu là làng nghề may Trạch Xá,
làng bún Bặt, làng đàn Đào Xá, làng khảm trai Cao Xá....Ngày nay, huyện
Ứng Hòa còn phát triển thêm một số nghề thủ công như mây tre đan Trường
Thịnh, Tăm hương Quảng Phú Cầu, rèn Vũ Ngoại....đã làm cho quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có những bước đột phá mới.
Dân số đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển ngành nông
nghiệp. Tính đến năm 2006, dân số của huyện là trên 196.000 người, chiếm
khoảng 7,78% dân số của tỉnh Hà Tây cũ. Ứng Hòa đã thực hiện tốt công tác
DS-KHHGĐ đồng thời thực hiện tốt sự chỉ đạo của các cấp, ngành địa
phương, trong thời gian qua tỷ suất sinh của huyện có xu hướng giảm dần,
bình quân năm thời kỳ 2.000 – 2.005 là 0,5 – 0,6%. Tỷ lệ tăng tự nhiên của
dân số giảm xuống 0,79% (năm 2050, mức tăng bình quân dân số thời kỳ
2.000 – 2.005 khoảng 870 người năm. Dự báo trong giai đoạn từ năm 2011 –
2020 tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số huyện bình quân hàng năm sẽ là 0,48%/
năm (khoảng 1.020 người năm). Theo mức đó thì đến năm 2020, dân số

xã của huyện nằm ở khu vực chiêm, trũng. Bởi vậy, nếu vào mùa mưa, úng,
sẽ rất dễ bị ngập lụt, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất của bà con nông dân.
Bên cạnh đó, tuy là có vị trí gần với nội đô, nhưng Ứng Hòa cũng chưa được
đầu tư cho phù hợp. Nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng còn thấp, số
lao động chưa qua đào tạo và không có việc làm ổn định chiếm tỉ lệ cao, chưa
thu hút được lao động dẫn đến tình trạng lạo động bỏ đi làm ăn theo thời vụ
ngày càng nhiều. Số cán bộ có trình độ chuyên môn chưa sâu, cán bộ quản lý
chưa năng động đã dẫn đến nhiều yếu kém.

16


1.1.1.2. Tình hình kinh tế nông nghiệp huyện Ứng Hòa trước năm 2008
Theo Nghị quyết số 10/NQ-BCT (4-1988) về “Đổi mới quản lý kinh tế
nông ngiệp”, hay còn gọi là Khoán 10, Đảng bộ huyện Ứng Hòa đã tiến hành
chỉ đạo, lãnh đạo giao khoán ruộng đất cho hộ nông dân. Hộ nhận khoán
chính thức trở thành đơn vị sản xuất nông nghiệp với quyền tự chủ được phát
huy. Quản lý nông nghiệp chuyển từ tập trung, bao cấp sang hạch toán, tự chủ
cụ thể; từ chế độ lao động làm thuê sang chế độ lao động làm chủ. Với mô
hình hợp tác kiểu mới trong nông nghiệp, chuyển từ nông nghiệp tự túc sang
nông nghiệp hàng hóa, kinh tế nông nghiệp chuyển từ thuần nông sang đa
ngành nghề. Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện phát triển mạnh mẽ.
Ngay vụ đầu thực hiện Khoán 10, thu nhập của xã viên tăng từ 18-20%, sản
lượng nâng lên 37-40%. Năng suất lúa tăng từ 39,33 tạ ha (năm 1988) lên
67,38 tạ ha (năm 1989), năm 1995 đạt hơn 9 vạn tấn, năm 2003 đạt 13,7 tấn.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa IX) về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
thời kỳ 2001-2010 và thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ
XXI, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh Uỷ, HĐND, UBND và sự giúp đỡ của các
ngành trong trong tỉnh, cán bộ và nhân dân huyện Ứng Hòa đã nỗ lực phấn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status