TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
PHAN THỊ HUYỀN TRANG
ĐẢNG B ộ HUYỆN ỨNG HÒA (HÀ NỘI)
LÃNH ĐAO PHÁT TRIỂN GIÁO DUC
•
•
TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2015
KHÓA LUÂN
TỐT NGHIẼP
ĐAI
HOC
•
•
•
•
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngưòi hướng dẫn khoa học
Th.s. TRẦN THỊ CHIÊN
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Phan Thị Huyền Trang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Từ đầy đủ
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
GD
Giáo dục
GDTX
Giáo dục thường xuyên
GV
Giáo viên
Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra mạnh
mẽ.Khoa học - công nghệ đã đổi mới hết sức nhanh chóng, trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp.Trình độ dân trí cùng vói khoa học công nghệ trở
thành nhân tố quyết định sức mạnh và vị thế của mọi quốc gia. Thực tiễn thế
kỷ XX chứng minh rằng, không có một quốc gia nào muốn phát ữiển mạnh và
vươn lên hàng ngũ những nước tiên tiến mà lại ít đầu tư phát triển sự nghiệp
giáo dục.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục. Xây dựng chiến lược
giáo dục là mục tiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, trong thời kỳ đổi
mới toàn diện đất nước vì mục tiêu“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh”; giáo dục được xác định là khâu đột phá, là chìa khóa để mở
cửa tiến vào tương lai. Với vai trò ấy, giáo dục là yếu tố hàng đầu, quan trọng
nhất, là hạt nhân, động lực thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.
Từ ngày 1/8/2008, toàn bộ địa giới Hà Tây ừong đó có cả huyện ứng
Hòa sáp nhập vào thành phố Hà Nội, chính từ thời gian đó thì giáo dục huyện
ứng Hòa đã thuộc quyền quản lý của Thành phố Hà Nội. Với tinh thần đổi
mới toàn diện trong giáo dục thì Đảng bộ Thành phố Hà Nội đã đưa ra nhiều
chủ trương, giải pháp nhằm phát triển giáo dục toàn thành phố nói chung và
huyện ứng Hòa nói riêng.
Đổi mới toàn diện là một tất yếu của cách mạng Việt Nam. Cũng như
các nơi khác trên cả nước, huyện ứng Hòa đã giành nhiều thắng lợi to lớn
trong đời sống kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, trong đó có sự đóng
1
góp của lĩnh vực giáo dục. Sớm nhận thức được vị trí, vai trò của giáo dục, sự
lãnh đạo của Đảng bộ huyện, sự nghiệp giáo dục đã có những bước phát triển
vững chắc vì mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
nước
- Hồ Chí Minh (1972), Bàn về công tác giáo dục, Nxb Sự thật, Hà
Nội.
- Phạm Văn Đồng (1999), về vấn đề giáo dục - đào tạo, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
- Lê Khả Phiêu (1998), Chuẩn bị nguồn lực con người, Bài phát biểu
với Bộ Giáo dục và Đào tạo.
+ Các chương trình khoa học —công nghệ cấp Nhà nước:
- Tổ chức Văn hóa - Khoa học - Giáo dục của Liên hợp quốc
UNESCO với dự án: “Nghiên cứu tổng thể về giáo dục - đào tạo, phân
tích nguồn nhân lực vie 89/022”. Dự án báo cáo đánh giá tình hình giáo
dục và đào tạo của Việt Nam.
- Ngân hàng Thế giới (WB) cùng với Bộ giáo dục và Đào tạo nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tổ chức hội thảo chủ đề “Lựa chọn
chỉnh sách cải cách giáo dục đại học” tại Hà Nội tháng 8/1993.
- Đề tài KX.04.06, Tri thức và thời đại do Giáo sư Phạm Tất Dong Phó trưởng Ban Khoa giáo Trung ương - chủ nhiệm.
- Chương trình KX.07, Con người Việt Nam —mục tiêu và động lực
của sự phát triển kinh tể - xã hội, do GS. TS Phạm Minh Hạc làm chủ
nhiệm.
- Ban Khoa giáo Trung ương (2002), Giáo dục và đào tạo trong thời
kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Bộ giáo dục và Đào tạo có các công trình định hướng, “Phẩn đẩu
tạo bước chuyển biển cơ bản về giáo dục và đào tạo ”, “Một số định hướng
chiến lược phát triển giáo dục đào tạo Việt Nam từ nay đến thể kỷ XXL”,
Hội nghị chuyên đề, “Giảo dục đại học Việt Nam trước thử thách thế kỷ
x x r tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh (1/1994).
3
+ Một số luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
4
một số nhận xét và kinh nghiệm nhằm góp phàn xây dựng và phát triển sự
nghiệp “trồng người” của địa phương trong những năm tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khóa luận nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển giáo dục
của huyện ứ ng Hòa.
- Qúa trình Đảng bộ huyện ứ ng Hòa lãnh đạo phát triển giáo dục từ
năm 2008 đến năm 2015.
- Nhận xét và đúc rút một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ
huyện ứ n g Hòa đối với sự nghiệp giáo dục từ năm 2008 đến năm 2015.
4. Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện ứ ng
Hòa đối với công tác giáo dục của huyện từ năm 2008 đến năm 2015.
4.2. Phạm vỉ nghiên cứu
-
v ề nội dung: Khóa luận tập trung nghiên cứu về quá trinh lãnh đạo
phát triển giáo dục của Đảng bộ huyện ứng Hòa .
- v ề thời gian: Khóa luận tập trung đi sâu nghiên cứu ừong giai đoạn
từ năm 2008 đến năm 2015.
- v ề không gian: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi huyện
ứng Hòa.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Khóa luận nghiên cứudựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng về vấn đề
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ TH ựC TIỄN VÈ GIÁO
DỤC Ở ỨNG HÒA TRƯỚC NĂM 2008
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC
1.1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về giáo dục
Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, tàng lớp trí thức có vai trò
rất quan trọng. Những đóng góp trong lĩnh vực sáng tạo ra những giá ttị vật
chất và tinh thần, người trí thức của mọi thời đại đã góp phần làm biến đổi thế
giới và xây dựng, phát triển nền văn minh nhân loại. Trí thức có vị trí như vậy
cho nên ở mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị, nhà nước và giai
cấp thống trị nào cũng đều rất quan tâm đến công tác giáo dục để từ đó có
được đội ngũ trí thức.
Do xuất phát từ mục đích khác nhau, mỗi giai cấp thống trị lại có những
quan điểm khác nhau về nội dung và phương thức GD phù hợp, nhằm phát
huy vai trò ấy một cách có hiệu quả nhất.
Từ khi xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp bóc lột thường tập trung
đào tạo những tầng lớp trên nhằm bổ sung và không ngừng củng cố bộ máy
thống trị của mình. Trong xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo, vì lợi ích cơ
bản của giai cấp công nhân thống nhất vói lọi ích của các tầng lớp nhân dân
lao động, nền dân chủ xã hội thực sự mở rộng. Do vậy, sự nghiệp giáo dục trở
thành công việc của quảng đại quần chúng nhân dân, mọi ngươi đều có quyền
được học tập để không ngừng nâng cao sự hiểu biết về mọi mặt, để làm chủ
bản thân, làm chủ đất nước. Và chính từ trong cái nôi của quần chúng, một
đội ngũ tri thức mới được hình thành cả về số lượng và chất lượng.
Ngay từ khi CNXH mới còn là học thuyết, C.Mác và Ăngghen đã đánh
giá cao vai trò của sự nghiệp GD và coi đó như là một nhiệm vụ bắt buộc đối
7
nhân cách của con người xã hội tưcmg lai được. Luận đề của Mác về bản chất
xã hội con người là cơ sở lý luận để các nhà giáo dục hiểu rõ bản chất, động
lực, các quy luật của quá trình giáo dục, dạy học xã hội chủ nghĩa. Mác đã
vạch ra những nguyên tắc cơ bản để giáo dục những con ngưòi phát triển toàn
diện trong xã hội tương lai, đó là: sự kết họp một cách hợp lý giữa giáo dục
đạo đức, thể dục và trí dục, lao động sản xuất và thực hiện giáo dục bách khoa
(giáo dục kỹ thuật tổng họp) trong việc tổ chức cho trẻ em tham gia vào các
hoạt động thực tiễn, các hoạt động xã hội.
Vận dụng và phát triển những quan điểm của C.Mác và Ăngghen về GD
ừong điều kiện nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười phải xây dựng một nhà
nước Xô - viết từ tình trạng nghèo nàn về kinh tế, lạc hậu về văn hóa, giai cấp
công nhân Nga chưa chuẩn bị những chuyên gia có tài năng về mọi mặt để
xây dựng CNXH, V.I.Lênin và Đảng Bôn - sê - vích Nga càng thấy rõ cái
thiếu lớn nhất của nước Nga lúc này là thiếu trình độ văn hóa, thiếu nhân tài.
Người nói: phải chỉ cho ngưòi nông dân, cho quần chúng lạc hậu thấy rằng
việc nâng cao trình độ văn hóa và giáo dục kỹ thuật là hoàn toàn càn thiết cho
toàn bộ kiến thiết Xô - Viết thành công. Phải coi nhiệm vụ nâng cao văn hóa
giáo dục là trung tâm của toàn bộ công tác tuyên truyền, công tác giảng dạy
và huấn luyện của Đảng. Nhận thức sâu sắc về tính cấp bách của việc học tập,
V.I.Lênin chủ trương đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục đào tạo nhằm nâng cao
hiểu biết, tri thức và tính chủ động sáng tạo của quần chúng. Đồng thời,
Người cũng đặc biệt nhấn mạnh đến bồi dưỡng kiến thức văn hóa, khoa học,
kỹ thuật và những kiến thức về quản lý cho công nhân, nông dân, tạo điều
kiện để đào tạo một đội ngũ trí thức công - nông, lấy thế hệ trẻ, con em của
công - nông là đối tượng của giáo dục. Lênin là người quan tâm thường
xuyên tới nhà trường Xô viết vì đó là một bộ phận chủ yếu góp phần giáo dục
con người xã hội chủ nghĩa. Lênin đã viết hàng loạt bài nhằm xác định mục
đích, nhiệm vụ của nhà trường Xô viết tại đại hội giáo dục toàn Nga lần thứ I
10
1.1.2. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Tôi chỉ có một ham
muốn, một ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập,
dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có com ăn áo mặc, ai cũng
được học hành” [16, tr.43]. Ham muốn đó, ước mong đó thể hiện bằng việc
Hồ Chí Minh luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến phát triển GD của con
ngưòi.
Trên cơ sở những tiền đề tư tưởng quan trọng của Chủ nghĩa Mác-Lênin
cùng với quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng sinh động, phong phú, Hồ
Chí Minh đã đưa ra quan điểm hết sức sâu sắc về vai trò mục đích, nội dung
và phương pháp của GD. Theo Ngưòi, GD có vai trò hết sức to lớn trong việc
cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới. Người cho rằng, mỗi con
người đều có cái thiện và cái ác trong lòng, ta phải làm thế nào cho cái tốt
trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân. Thông qua giáo dục thì cái
thiện trong mỗi con ngưòi sẽ ngày càng nhiều thêm và cái ác sẽ mất dần đi.
Tuy vậy, Hồ Chí Minh không coi giáo dục là yếu tố vạn năng, là tất cả mà chỉ
coi giáo dục là phần chủ đạo, phần nhiều, Người viết:
“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền
Hiền dữ đâu phải là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”. [15, tr.46]
Trong lòi kêu gọi chống nạn thất học chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã
viết:
Quốc dân Việt Nam!
Muốn giữ vững nền độc lập
Muốn làm cho dân mạnh nước giàu
11
để có thể tham gia vào công việc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết
đọc, biết viết chữ Quốc ngữ [16,tr.36].
Như vậy, muốn biết chữ thì phải học. Muốn cho dân mạnh, nước giàu thì
dân trí phải cao, muốn vậy, phải đa dạng hóa các loại hình đào tạo, mở trường
vừa học vừa làm, để tạo điều kiện cho người lao động, cán bộ, chiến sĩ được
đi học. Khi trình độ dân trí cao thì sẽ xuất hiện nhiều nhân tài tham gia xây
dựng đất nước. Người chỉ cho chúng ta con đường thoát khỏi cảnh yếu hèn,
đó là con đường phát triển giáo dục. Bác nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc
yếu” Bác kêu gọi mọi người thi đua học tập để dân tộc ta trở thành một dân
tộc “thông thái”. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giáo dục lại
càng có vị trí quan trọng vì nó vừa là nền tảng, vừa là động lực thúc đẩy phát
triển kinh tế-xã hội.Người đã khẳng định giáo dục làm một mặt trận đặc biệt
quan trọng trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở nước ta mà mỗi cô
giáo, thầy giáo là một chiến sĩ trên mặt trận đó. Người chỉ rõ: Học để làm
việc, làm người, làm cán bộ, ừong đó học để làm người là khó nhất, phải kết
họp chặt chẽ “học đi đôi với hành”.
Bác luôn đánh giá rất cao vai trò của các thầy giáo, cô giáo đối vói xã
hội. Bác nói: “còn gì vẻ vang hơn nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực
góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo
tốt-thầy giáo xứng đáng là thầy giáo,là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi
không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người
thầy giáo tốt là những ngưòi anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang.
Nếu không có thày giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng
chủ nghĩa xã hội được? Vì vậy, nghề giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang, ai
có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì phải sửa chữa” [17,tr.329331].Người phân biệt rõ vị trí khác nhau của ngưòi thầy trong xã hội cũ và xã
hội mới. Xưa nghề thày giáo là nghề gõ đầu trẻ kiếm bát cơm ăn, thì nay là sự
nghiệp quan trọng “trăm năm trồng người”. Muốn được như vậy, các cô giáo,
13
*
Đăc
điểm tư
•
• nhiên
ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây cũ Việt Nam, thuộc vùng văn minh lúa
nước sông Hồng, tỉnh nằm bên bờ phải (bờ Nam) sông Hồng và bờ trái (bờ
Đông) sông Đà. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hà Đông nằm
cách thủ đô Hà Nội cũ 10km về phía Tây Nam, cách sân bay quốc tế Nội Bài
35km. Trước tháng 8 năm 2008, Hà Tây có địa giới phía đông giáp thủ đô Hà
Nội cũ, phía Đông - Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía nam giáp tỉnh Hà Nam,
phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình, phía bắc giáp hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ.
Từ ngày 1/8/2008, toàn bộ địa giới tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội,
như vậy tỉnh này không còn tồn tại nữa.
ứng Hòa có diện tích tự nhiên là 183,72km2.
Phía Đông giáp huyện Phú Xuyên
Phía Tây giáp huyện Mỹ Đức
Phía Nam giáp tỉnh Hà Nam
Phía Bắc giáp huyện Thanh Oai.
Địa giới hành chính huyện ứng Hòa gồm 29 đơn vị hành chính: 1 thị
trấn (thị trấn Vân Đình) và 28 xã.
ứng Hòa là một huyện đồng bằng có điều kiện đất đai đa dạng, phù
họp với khả năng phát triển một nền nông nghiệp sinh thái toàn diện, mang
đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp truyền thống. Nhân dân có truyền
thống lao động cần cù, sáng tạo, đoàn kết, yêu quê hương xóm làng.
*Đãc điểmkinh tế
Huyện ứng Hòa có đường quốc lộ 21B đi qua và con đường 75 xuyên
dọc qua các xã phía đông. Người dân của huyện ứng Hòa chủ yếu là làm
16
ứng hòa còn là miền đất của các di tích lịch sử - văn hóa. Với mật độ 1
di tích/ lkm2, đến nay, toàn huyện có 115 di tích đình, chùa, quán, nhà thờ,
văn chỉ.
Theo số liệu thống kê, năm 2013 dân số của ứng Hoà là 190.679
người, chiếm khoảng 3,0% tổng dân số của Thủ đô Hà Nội điều này cũng góp
phần vào phát triển văn hóa, xã hội
ứng Hòa là mảnh đất có truyền thống hiếu học, khoa bảng từ lâu
đòi.Nhiều người trí lớn, tài cao, giữ trọng trách quan trọng trong triều
đình.Trải suốt chiều dài lịch sử, vùng quê thuần nông có biết bao nhiêu ngưòi
thảnh tài và đỗ đạt cao làm rạng danh quê hương, đất nước như: TS Mai Danh
Tông xã Cao Thành (Khoa Tân Hợi 1731 mói 26 tuổi), TS Mai Nghĩa Chính
xã Cao Thành (Khoa Bính Thìn 1736), TS Đặng Duy Dung xã Phương Tú
(Khoa Bính Tuất 1766), TS Bùi Bằng Thuận xã Liên Bạt (Khoa Bính Thìn
năm 1916-34 tuổi), TS Nguyễn Thượng Hiền xã Liên Bạt (Khoa Nhâm Thìn
năm 1892-27 tuổi)
Từ đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và truyền thống văn hóa - lịch sử
nêu trên có thể thấy: sự phát triển kinh tế ngày càng cao cộng với thế mạnh
truyền thống hiếu học là một trong những điều kiện hết sức thuận lợi trong
việc phát triển giáo dục của huyện. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế còn
thấp, chưa phát triển hết tiềm năng và lợi thế so sánh của địa phương; kinh tế
nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch chậm; đòi sống 1 bộ phận nhân dân còn
khó khăn... đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp “trồng người”. Hiện nay,
nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp
ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện là rất cao.
Vì vậy, đây cũng là một khó khăn không nhỏ đòi hỏi Đảng bộ huyện
ứng Hòa phải có chủ trương, biện pháp phù hợp nhằm thúc đẩy sự nghiệp
n, cấp in
phải qua trung học sư phạm, cao đẳng trung học. Ban đầu, giáo viên cấp 2 có
trình độ 7+2, nâng lên 7+3, 10+1, 10+3 đến tốt nghiệp cao đẳng sư phạm.
Tính đến năm 2003, huyện đã có nhiều giáo viên tốt nghiệp Đại học. Tuy
18
nhiên, sau 5 năm tiến hành đổi mới nhìn chung giáo dục ở ứng Hòa còn phát
triển chậm, do đòi sống khó khăn, tỷ lệ học sinh bỏ học tăng.
v ề cơ sở vật chất, tính đến năm 2007, 50% xã, thị ttấn xây dựng được
trường học hai tàng kiên cố, đủ phòng học cho học sinh học 2 ca, vì vậy, tình
hạng học ca 3 không còn. Mặc dù còn nhiều khó khăn, Đảng bộ đã chỉ đạo
các xã hết sức cố gắng, đàu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm hang thiết bị
giảng dạy và bàn ghế cho học sinh.
Hệ thống giáo dục được duy trì và phát triển ở cả 3 ngành học: mầm
non, giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Chuyên đề khoa học kỹ thuật cho
nhân dân lao động. Năm 2007, huyện còn mở 2 trường bổ túc văn hóa cấp III.
Mỗi năm, các trường bổ túc cấp II, cấp III thu hút trên 10.000 học viên theo
học, qua đó góp phàn bồi dưỡng nâng cao trình độ cho hầu hết cán bộ chủ
chốt của huyện, xã và thanh niên nông thôn.
v ề chất lượng giáo dục, chất lượng giáo dục ở ứng Hòađã được nâng
lên. Tỷ lệ học sinh cấp I thi đỗ tốt nghiệp hàng năm đạt 98%, cấp II đạt 94,5%
trở lên.
Cùng cả nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, giáo dục luôn
được Đảng bộ huyện ứng Hòa quan tâm lãnh đạo, ngày càng phát triển cả về
số lượng và chất lượng, ở tất cả các ngành học.
Tuy nhiên, bên cạnh thành tích đạt được, vào thời điểm trước năm
2008, giáo dục của huyện ứng Hòa vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập