Đảng bộ huyện từ liêm hà nội lãnh đạo phát triển nông nghiệp trong nam 1986 2005 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ BÌNH

ĐẢNG BỘ HUYỆN TỪ LIÊM
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG
NHỮNG NĂM 1986 – 2005

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2009


MỤC LỤC
Lời mở đầu

1

Chương 1: Cơ chế quản lý và thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện
Từ Liêm trước năm 1986
1.1. Vài nét về thiên nhiên, con người huyện Từ liêm.
1.2. Cơ chế quản lý kinh tế huyện Từ Liêm trước năm 1986
1.2.1. Xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp theo mô hình tập thể

7
7
14
14

hoá (1958-1980)


57

57

67

67


3.2.2. Chỉ đạo thực hiện chính sách khuyến nông, tăng cường cơ
sở vật chất kỹ thuật.
3.2.3. Chỉ đạo tiếp tục đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp.
3.2.4. Gắn phát triển kinh tế nông nghiệp với xây dựng nông thôn
mới.
3.3. Kết quả tổ chức thực hiện và một số kinh nghiệm lịch sử.

76
80
83
91

3.3.1. Kết quả tổ chức thực hiện

91

3.3.2. Một số kinh nghiệm lịch sử

97


hàng đầu của huyện.
Công cuộc đổi mới kinh tế nông nghiệp của cả nước nói chung và
công cuộc đổi mới kinh tế nông nghiệp của Từ Liêm nói riêng được bắt đầu

1


từ khi có Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986 (trước đó
cũng có đổi mới như việc thực thi chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương,
nhưng công cuộc đổi mới thực sự là sau Đại hội VI). Từ đó đến nay, bên
cạnh việc thực hiện có kết quả các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế
nông nghiệp của Trung ương và Thành phố, Đảng bộ Từ Liêm đã chủ
động, sáng tạo, tìm tòi, thể nghiệm trong tổ chức sản xuất và chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với điều kiện của địa phương.
Mặc dù còn nhiều những hạn chế, nhưng công cuộc đổi mới và phát triển
kinh tế nông nghiệp đã góp phần đưa Từ Liêm từng bước khởi sắc và phát
triển. Từ Liêm trở thành điểm sáng xây dựng nông thôn mới của ngoại
thành Hà Nội.
Với mong muốn tìm hiểu sự phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương
nơi mình đang sinh sống sau những năm đổi mới, người viết đã mạnh dạn
lựa chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Từ Liêm lãnh đạo phát triển nông
nghiệp trong những năm 1986 – 2005” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng trong việc phát triển kinh tế nông
nghiệp thời kỳ đổi mới là một đề tài rộng lớn thu hút sự nghiên cứu của
đông đảo các nhà khoa học, nhà kinh tế, nhà chính trị, nhà sử học,… Có thể
tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này thành những
nhóm cơ bản sau:
- Các văn kiện của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp như: Đảng

công trình chuyên khảo nào trực tiếp nghiên cứu về vấn đề kinh tế nông
nghiệp của huyện. Chính vì lẽ đó, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi
có những thuận lợi nhưng gặp không ít khó khăn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích

3


- Tìm hiểu chủ trương, đường lối và sự chỉ đạo tổ chức thực hiện
phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ Từ Liêm sau hai mươi năm đổi
mới (1986 – 2005).
- Bước đầu rút ra thành tựu, hạn chế sau hai mươi năm đổi mới và
một số kinh nghiệm cho thời kỳ sau.
Nhiệm vụ
- Tập hợp các tư liệu có liên quan đến sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ
Từ Liêm về phát triển kinh tế nông nghiệp trước và trong thời kỳ đổi mới.
- Trình bày có hệ thống các chủ trương, biện pháp, quá trình lãnh đạo
thực hiện của Đảng bộ huyện và những kết quả đạt được theo từng giai
đoạn lịch sử.
- Phân tích vai trò của Đảng bộ huyện Từ Liêm trong quá trình lãnh
đạo phát triển kinh tế nông nghiệp. Đồng thời, luận văn đúc kết một số kinh
nghiệm nhằm tiếp tục phát triển kinh tế nông nghiệp trong bối cảnh thực
hiện CNH – HĐH.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: những chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của
Đảng bộ huyện Từ Liêm trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp huyện
trong những năm 1986-2005.
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vai trò của Đảng bộ

nhận thức, phân tích, đánh giá những sự kiện có liên quan. Bên cạnh đó, để
xử lý nguồn số liệu phong phú, chúng tôi đã áp dụng phương pháp phân
tích, hệ thống, phương pháp thống kê, so sánh, logic,… Các phương pháp
nghiên cứu liên ngành đã giúp chúng tôi khai thác các nguồn tài liệu, đánh
giá và phân tích được đầy đủ và sâu sắc hơn các vấn đề đặt ra.

5


Trong khuôn khổ một luận án chuyên đề của chuyên ngành Lịch sử
Đảng cộng sản Việt Nam, chúng tôi hy vọng luận án đã bước đầu đóng góp
vào việc tìm hiểu vai trò của Đảng bộ Từ Liêm trong việc phát triển kinh tế
nông nghiệp huyện trong những năm 1986-2005 và là tài liệu tham khảo
cho những ai quan tâm đến vấn đề kinh tế nông nghiệp ở địa phương.

6. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án
bao gồm hai chương:
Chương 1: Cơ chế quản lý và thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện
Từ Liêm trước năm 1986.
Chương 2: Đảng bộ Từ Liêm tổ chức chỉ đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp trong những năm 1986 - 1995
Chương 3: Đảng bộ Từ Liêm tổ chức chỉ đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 - 2005)

6


CHƢƠNG 1
CƠ CHẾ QUẢN LÝ VÀ THỰC TRẠNG KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

huyện có nhiều tuyến giao thông huyết mạch: đường Phạm Hùng- Phạm
Văn Đồng – cầu Thăng Long đi sân bay quốc tế Nội Bài; đường Láng –
Hoà Lạc (Trần Duy Hưng); đường đê hữu ngạn sông Hồng đi Sơn Tây.
Do đặc điểm vị trí, Từ Liêm trở thành địa bàn có ý nghĩa cơ động và
chiến lược về mặt quân sự. Miền đất này vừa là vành đai, áo giáp, hậu cứ
bảo vệ thủ đô, vừa là cửa ngõ từ miền trung du, trung tâm quân sự Sơn Tây,
căn cứ địa Việt Bắc xuống đồng bằng Bắc Bộ, tiến vào thành phố. Với vị
trí như vậy, Từ Liêm có nhiều lợi thế trong xây dựng căn cứ, phòng thủ
cũng như tiến công kẻ thù.
Địa lý hành chính:
Từ Liêm có từ đầu Công nguyên thuộc huyện Luy Lâu, sau thuộc
quận Giao Chỉ. Đến năm 621 (sau Công nguyên) lập huyện Từ Liêm cùng
hai huyện Ô Diên và Vũ Lập thuộc Từ Châu.
Dưới thời Lý, Trần, huyện Từ Liêm thuộc quận Vĩnh Khang; thời
Lê, Tây Sơn và đầu Nguyễn thuộc phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây. Năm Minh
Mệnh thứ 12 (1831) là một trong ba huyện của phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội
Năm 1888, thực dân Pháp thành lập thành phố Hà Nội, một số xã
thuộc huyện Từ Liêm trước đây được cắt vào khu ngoại thành Hà Nội. Đến
năm 1915, khu vực này đổi thành huyện Hoàn Long- tỉnh Hà Đông. Sau đó,
vua Khải Định ra đạo dụ (26-12-1918) quy định cấp phủ ngang cấp huyện
thì huyện Từ Liêm không còn chỉ còn phủ Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Đông. Để
mở rộng thành phố Hà Nội, ngày 31-12- 1942 Pháp quyết định cắt 23 làng
thuộc phủ Hoài Đức cùng với huyện Hoàn Long lập ra “Đại lý đặc biệt”,
nhân dân quen gọi là đại lý Hoàn Long, trụ sở ở ấp Thái Hà (nay thuộc quận

8


Đống Đa). Phủ lỵ Hoài Đức đóng ở xã Dịch Vọng (nay thuộc phường Dịch
Vọng, quận Cầu Giấy), sau ngày 9-3-1945 chuyển về xã Tây Tựu.

2,3

9


Mỹ Đình, Phú Diễn, Minh Khai; có diện tích trên 75km2 (trong đó đất nông
nghiệp khoảng 4100ha), với hơn 24,24 vạn người1.
Cư dân và bản sắc văn hoá:
Với điều kiện thuận lợi về tự nhiên để phát triển nông nghiệp, Từ
Liêm là một trong những địa bàn sinh tụ của cư dân Văn Lang thời dựng
nước. Qua khai quật các di chỉ khảo cổ học ở thôn Ngọc Long (xã Minh
Khai) cho thấy những di chỉ này thuộc văn hoá Phùng Nguyên- đầu thời đại
đồng thau cách ngày nay khoảng 4000 – 3500 năm trước Công nguyên.
Tại di chỉ Vinh Quang (địa phận xã Cát Quế, Di Trạch) trong tầng
văn hoá lớp trên đã tìm thấy nhiều dụng cụ như lưỡi rìu chiến, búa chiến,
mũi tên,...; cùng lớp đó, đã tìm thấy một số đồng tiền bán lạng Lữ Hậu
(187- 180 trước Công nguyên). Tầng văn hoá này tiêu biểu cho giai đoạn 3
văn hoá Gò Mun. Ở tầng văn hoá lớp dưới đã thấy nhiều công cụ sản xuất,
đồ trang sức, tiền ốc, các loại đồ gốm có màu sắc, hoa văn trang trí phong
phú và 11 sọ người niên đại các – bon phóng xạ di chỉ là 1095 năm trước
Công nguyên.
Các di chỉ đồng Dền, gò Chiền là tiêu biểu cho văn hoá Gò Mun.
Ngôi mộ cổ khai quật ở khu vực Cầu Giếng (Thuỵ Phương) có niên đại
khoảng 200 năm trước Công nguyên. Những viên gạch ( ở Xuân Đỉnh)
được tráng men nâu mỏng xác định từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ III, cách
ngày nay khoảng 2000 năm. Nhiều ngôi mộ cổ được phát hiện dưới lòng
đất làng Chèm – Vẽ (Thuỵ Phương- Đông Ngạc), đó là khu mộ Hán có
niên đại từ thế kỷ I đến thế kỷ VI (sau Công nguyên), thời nước ta thuộc
Đông Hán. Di vật trong lòng mộ gồm: kiếm sắt, kiếm đồng, nhẫn vàng,
bạc, tiền đồng, bình vò, cốc chén và cả mộ hình nhà, giếng nước, bếp lò

Về tiểu thủ công nghiệp, nghề dệt thêu ren đạt kỹ nghệ tinh xảo ở Miêu
Nha (Tây Mỗ), Đại Mỗ; làng Vẽ (Đông Ngạc), làng Dộc Cơ (Ngọc Trục) thạo
nghề hàng nan với các sản phẩm: chẻ quang song, đan mũ nan, quạt lá đề, đĩa
mây, ép dầu ở Đông Ba (Thượng Cát), làm thừng (Trung Văn), đậu phụ ở Đại
Cát (Liên Mạc). Khi thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất (cuối thế kỷ XIX), Hà Nội trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá
của cả nước. Từ xưa nghề rèn ở Hoè Thị (Xuân Phương) đã kéo ra phố Lò
Rèn và các cửa ô để sản xuất dao, kéo, lưỡi liềm, lưỡi hái, dao phát bờ,...phục
vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Làng Thị Cấm, Ngọc Mạch (Xuân Phương)
11


có nghề tráng gương, thợ kim hoàn làm vàng bạc và các đồ trang sức. Nghề
may Cổ Nhuế tuy mới xuất hiện đầu thế kỷ XX nhưng phát triển nhanh trở
thành một làng chuyên may quần áo binh sĩ.
Từ Liêm có nhiều di tích lịch sử – văn hoá, kiến trúc tạo hình, gắn liền
với những danh nhân quê hương. Nhiều di tích lịch sử – văn hoá được Nhà
nước công nhận là những di tích cấp quốc gia và được coi là một trong những
huyện có nhiều di tích lịch sử văn hoá. Chỉ nghiên cứu riêng các di tích lịch sử
văn hoá nghệ thuật trên địa bàn huyện cùng những truyền thống giàu tính
nhân văn, những nhân vật lịch sử đã trở thành các vị thần thành hoàng làng và
các sinh hoạt văn hoá lễ hội sinh động, cũng thấy nổi bật lên quá trình lịch sử
phát triển của quê hương. Tiêu biểu là ngôi đình Chèm được xây dựng từ thế
kỷ IX thờ Lý Ông Trọng, người địa phương, một nhân vật nổi tiếng từ trước
Công nguyên. Các ngôi đình Thượng Cát, Đại Cát thờ các tướng lĩnh của Hai
Bà Trưng; các ngôi đình Đông Ngạc, Hoè Thị , Miêu Nha,.. không chỉ có giá
trị kiến trúc mà còn có những cổ vật quý,... Đáng chú ý là cụm di tích lịch sử
xã Đại Mỗ được xây dựng từ thời Lê thờ các danh nhân quê hương,...
Nhân dân Từ Liêm có truyền thống sinh hoạt văn hoá dân gian từ lâu
đời, gắn liền với những lễ hội tiêu biểu nhất của các làng quê ở phía Tây

tự nhiên thuận lợi, người dân có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ lâu
đời,…Tuy nhiên, phát triển kinh tế nông nghiệp huyện cũng có rất nhiều
vấn đề cần giải quyết như:
- Với điều kiện tự nhiên thuận lợi trong việc phát triển đa dạng cây
trồng vật nuôi, việc lựa chọn chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp sao cho phù
hợp là vấn đề đặt ra trong khi hoạch định chính sách phát triển nông
nghiệp của Đảng bộ Từ Liêm. Đặc biệt, huyện nằm ở vị trí cửa ngõ phía
Tây thủ đô Hà Nội nên có thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản tiềm năng,
việc phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá cũng là điều mà Đảng bộ
huyện cần quan tâm.
- Từ Liêm là một huyện có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu
năm, người dân rất có kinh nghiệm nhưng kỹ thuật còn yếu, máy móc sản
xuất nông nghiệp thiếu và lạc hậu, hệ thống thuỷ nông đã xuống cấp nhiều.
13


Vì vậy, phát triển kinh tế nông nghiệp huyện cần có định hướng đầu tư cơ
sở vật chất kỹ thuật, cán bộ chuyên môn để hỗ trợ người dân nâng cao năng
suất và chất lượng các sản phẩm nông nghiệp.
- Là một huyện ngay sát thủ đô, tốc độ đô thị hoá nhanh, mật độ dân
số đông, số dân tăng nhanh(chủ yếu là tăng cơ học), quỹ đất canh tác của
huyện ngày càng thu hẹp, ảnh hưởng không nhỏ tới ngành nông nghiệp. Vì
vậy, Đảng bộ huyện cần có những chủ trương phù hợp để duy trì sự phát
triển của kinh tế nông nghiệp.
- Từ khi thành lập đến nay, Từ Liêm nhiều lần thay đổi địa giới hành
chính. Điều này gây khó khăn không nhỏ cho huyện trong việc phát triển
kinh tế – xã hội nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng.

1.2. Cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp huyện Từ Liêm trƣớc năm 1986
1.2.1. Xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp theo mô hình tập thể hoá

nghiệp tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội, khâu chính là đẩy mạnh hợp
tác hoá nông nghiệp, đồng thời tích cực phát triển và củng cố thành phần
kinh tế quốc doanh.
Thực hiện kế hoạch 3 năm (1958 - 1960) của Nhà nước về phát triển
hợp tác xã tiến lên một bước mới, cuối năm 1958, Từ Liêm chỉ đạo thí
điểm xây dựng một hợp tác xã cấp thấp quy mô xóm. Ở Quán La, 100% số
hộ nông dân đã làm đơn xin vào hợp tác xã và vinh dự được đón Bác Hồ về
thăm tháng 11-1958. Tháng 7-1959 hợp tác xã Phú Gia (xã Phú Thượng)
mở rộng quy mô hợp tác xã nông nghiệp lên cấp cao, đây là hợp tác xã cao
cấp đầu tiên của ngoại thành.
Phong trào xây dựng hợp tác xã dần dần được mở rộng, việc đầu tiên là
tập thể hoá tư liệu sản xuất gồm ruộng đất, trâu bò, nông cụ... trên cơ sở vận
động và tự nguyện của nông dân để tổ chức sản xuất. Cuối năm 1959, hầu hết
các xã trong huyện đã có hợp tác xã. Đến năm 1960, Từ Liêm có khoảng
21.000 mẫu ruộng, 5.700 con trâu bò của nông dân được đưa vào sở hữu tập
15


thể. Một số xã bắt đầu xây dựng hợp tác xã cấp cao, quy mô thôn. Đàn lợn
cũng được phát triển từ 28.267 con năm 1958 lên 30.016 con năm 1960.
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về quy hoạch, cải tạo và mở
rộng thành phố Hà Nội, ngày 20-4-1961, Quốc hội khoá II, kỳ họp thứ 2
phê chuẩn Nghị quyết của Chính phủ mở rộng thành phố. Tháng 6-1961,
các đơn vị hành chính mới đi vào hoạt động. Huyện Từ Liêm được thành
lập gồm 26 xã.
Tháng 9-1961, Thành uỷ họp bàn về phát triển nông nghiệp ngoại
thành đã xác định: lấy sản xuất thực phẩm (chú ý đặc biệt chăn nuôi) làm
chính, đồng thời rất coi trọng sản xuất lương thực, phát triển các nghề phụ.
Tiếp tục hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa làm cho quan hệ sản xuất mới
phát huy tác dụng, thúc đẩy sản xuất; khắc phục những yếu kém trong công

hành cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp, đưa dần hợp tác xã cấp thấp lên
cấp cao, có quy mô liên xóm hoặc liên thôn. Thành phố và huyện đã mở các
lớp đào tạo bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật cho các xã. Từ năm 1961 đến 1965,
toàn huyện Từ Liêm đã có hàng trăm cán bộ được đào tạo có trình độ sơ cấp,
trung cấp về thuỷ lợi, trồng trọt, chăn nuôi, quản lý kinh tế. Hầu hết các hợp
tác xã đều lập được kế hoạch sản xuất hàng năm; thực hiện ba khoán, ba quản
chặt chẽ; tổ chức các đội chuyên về giống, kỹ thuật và thuỷ lợi.
Được sự quan tâm của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thành uỷ Hà
Nội, sự cố gắng của nhân dân trong huyện, từ năm 1961 đến 1965, Từ
Liêm đã đạt được những thành tích đáng phấn khởi. Diện tích canh tác năm
1965 tăng hơn năm 1961 là 193ha. Năng suất lúa năm 1965 đạt trên 5
tấn/ha. Đời sống nhân dân được cải thiện. Mức ăn của nông dân bình quân
nhân khẩu là 22,6kg thóc/tháng. Năm 1965, huyện đóng góp nghĩa vụ cho
Nhà nước được 4.633 tấn thóc và 941 tấn thịt lợn. Riêng nghĩa vụ thịt lợn
tăng 100% so với năm 1961.[2,140]
Bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu, trong những năm chống chiến tranh
phá hoại, Huyện uỷ Từ Liêm hết sức coi trọng chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ
“chuyển mạnh sang sản xuất thực phẩm, chủ yếu là chăn nuôi và rau, đồng
thời coi trọng đúng mức sản xuất lương thực và cây công nghiệp, nhằm
17


cung cấp ngày càng nhiều hơn nữa nhu cầu thực phẩm của Thành phố,
nâng cao dần đời sống và bồi dưỡng sức chiến đấu của nông dân” [21].Sản
xuất nông nghiệp được bảo đảm nhờ đẩy mạnh đồng bộ nhiều biện pháp kỹ
thuật đi đôi với bước đầu vận động cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp.
Về thuỷ lợi đã xây dựng thêm nhiều trạm bơm điện lớn trên các hệ thống
sông Hồng, sông Nhuệ, sông Tô Lịch tăng thêm các máy bơm điện, bơm
dầu, làm thêm nhiều cống tiêu, các tuyến mương và đường trục với khối
lượng gần 2 triệu mét khối đất, bảo đảm chủ động tưới tiêu 90% diện tích

hợp tác xã Mễ Trì 480ha[2,185]. Về mặt tổ chức, hợp tác xã được kiện toàn
theo yêu cầu có chất lượng hơn trước. Ngoài vốn tự có, Ngân hàng Nhà
nước còn cho vay vốn và huyện cung cấp thêm vật tư để tạo điều kiện cho
các hợp tác xã quy mô lớn hoạt động. Báo cáo sơ kết của Ban Chỉ đạo thực
hiện Chỉ thị 208 của Thành phố chỉ rõ: Trong tổng số hợp tác xã tổ chức lại
sản xuất, Từ Liêm chiếm 60% và chiếm 50% số hợp tác xã thực hiện toàn
diện theo quy định của Thành phố.
Quá trình tổ chức lại sản xuất, hợp nhất các hợp tác xã nhỏ lên quy
mô lớn là quá trình đấu tranh tư tưởng gay go phức tạp trong đội ngũ cán
bộ cơ sở và xã viên các hợp tác xã nhỏ. Hộ Nông dân tập thể vận động
nhân dân phát huy quyền làm chủ tập thể đóng góp xây dựng điều lệ hợp
tác xã, xây đựng nội quy tham gia quản lý hợp tác xã, góp phần đẩy mạnh
sản xuất. Tuy nhiên, về mặt quản lý còn bộc lộ những hạn chế. Việc quyết
toán sổ sách bàn giao từ hợp tác xã nhỏ lên hợp tác xã lớn nhiều nơi làm rất
chậm, một số nơi 6 tháng, thậm chí có hợp tác xã 18 tháng sau hợp nhất
mới bàn giao. Một số nơi không thu được nợ của xã viên phải xin thanh lý
tới hàng triệu đồng, tài sản cố định bị mất mát nhiều.
Từ 59 hợp tác xã nông nghiệp đã sáp nhập lại thành 25 hợp tác xã,
trong đó có một hợp tác xã quy mô hai xã là Phú Minh (gồm xã Phú Diễn
và xã Minh Khai), 24 hợp tác xã quy mô toàn xã. Bình quân một hợp tác xã
có 734 hộ, 3.188 nhân khẩu, 1002 lao động, 215ha canh tác, lớn hơn gấp
đôi quy mô trước. Đến cuối năm 1979, cuộc vận động tổ chức lại sản xuất
đã căn bản hoàn thành định mức lao động từ khâu sản xuất và phân bổ lao
động vào các chuyên ngành, chuyên khâu, chuyên việc như: trồng trọt,
chăn nuôi, thủ công nghiệp... Trong trồng trọt, có các đội chuyên: làm đất
(cày, bừa), làm giống (lúa, ngô, khoai, rau, đậu ), làm mạ, làm phân bón,
thuỷ lợi (202), thuỷ nông và bảo vệ thực vật. Trong quy hoạch sản xuất,
21





Trích đoạn Chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo phân vùng sản xuất và thực hiện xây dựng nông thôn mới. Kết quả đạt đƣợc qua 10 năm Đảng bộ Từ Liêm tổ chức chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp (1986 – 1995) Chủ trƣơng của Đảng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Chỉ đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Chỉ đạo thực hiện chính sách khuyến nông, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status