Tiểu luận cao học Đảng bộ tỉnh bến tre lãnh đạo công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay - Pdf 34

TIỂU LUẬN
Đề tài :

ĐẢNG BỘ TỈNH BẾN TRE LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC
ĐỐI NGOẠI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Hà Nội., Tháng 10 năm 2011


2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
NỘI DUNG...............................................................................................................2
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẢNG
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI................................................................2
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại........................................2
1.2. Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại trong 25 năm đổi mới.......................3
1.3. Nội dung Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay...6
1.4. Nguyên tắc Đảng lãnh công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay..............8
1.5. Phương thức Đảng lãnh đạo công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay.......9
Chương 2 ĐẢNG BỘ TỈNH BẾN TRE LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI
NGOẠI CỦA TỈNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY...................................12
2.1. Khái quát về Bến Tre............................................................................12
2.2. Thực trạng Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo công tác đối ngoại
trong giai đoạn hiện nay..........................................................................................13
2.3. Một số hạn chế và nguyên nhân của sự hạn chế trong công tác đối
ngoại tỉnh Bến Tre trong thời gian qua....................................................................20
2.4. Một số giải pháp nhằn tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Bến Tre đối với công tác đối ngoại của tỉnh....................................................22

tựu và nâng cao vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế thì công tác đối ngoại là
một trong những ngành phải đi đầu chính vì vậy tôi đã chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh
Bến Tre lãnh đạo công tác đối ngoại trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài tiểu
luận của mình.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lẫn thứ XI. Nxb.
Chính trị quốc gia, HN. 2011, Tr 235.


4

NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐẢNG
LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại
Hòa bình, hợp tác và phát triển luôn là nội dung xuyên suốt của ngoại giao
Việt Nam. Hòa bình, độc lập tự chủ để phát triển và phát triển nhằm bảo vệ hòa
bình, độc lập tự chủ là khát khao cháy bỏng và là mục tiêu của sự nghiệp đấu tranh
anh dũng của dân tộc Việt Nam với sự hy sinh xương máu của biết bao thế hệ
người Việt. Dưới thời đại Hồ Chí Minh, Người đã phát triển đường lối đối ngoại vì
hòa bình, hợp tác và phát triển lên tầm cao mới.
Hồ Chí Minh đã khẳng định đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm bạn với tất cả
các nước dân chủ. Một phần quan trọng trong đường lối đối ngoại của Hồ Chí
Minh là hợp tác với các nước láng giềng ở châu Á. Đặc biệt, Người hết sức chú
trọng đến quan hệ với các nước láng giềng có chung đường biên giới như Trung
Quốc, Lào và Campuchia.
Bằng trí tuệ ưu việt và tài năng ngoại giao xuất chúng, Hồ Chí Minh đã viết
nên một chương mới đặc sắc cho lịch sử bang giao giữa hai nước láng giềng mà ở
giai đoạn này được Người khái quát một cách chính xác “vừa là đồng chí, vừa là
anh em”. Với Lào và Campuchia, Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện chính sách

vào sự thật, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã phân tích một cách khách
quan những sai lầm, khuyết điểm và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng và đi đến
quyết định lịch sử là tiến hành đổi mới đất nước một cách toàn diện, trước hết là
đổi mới về kinh tế. Về đối ngoại, Đại hội VI nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu là "...
tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc"... và " cần hoà bình để phát triển kinh tế" 1. Nghị quyết của Đại
hội VI và các nghị quyết của Trung ương đã chuyển hướng chính sách ngoại giao.
Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở theo đường lối đổi mới của Đảng, nhiệm vụ
hàng đầu của ngoại giao lúc này là phải phá cho được "tảng băng" bao vây, cấm vận.
1. Nguyễn Trọng phúc. Các Đại hội Đại biểu toàn quốc từ 1930 – 2006. Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2007. Tr.111.


6

Đại hội VI, Đảng ta đã chính thức tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng đàm phán
với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu nhằm bình thường
hoá quan hệ giữa hai nước. Đến năm 1991 hai nước đã bình thường hóa quan hệ
với nhau. Quan hệ giữa hai Đảng cũng đã được phục hồi trên nguyên tắc tôn trọng
độc lập, tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau.
Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (khóa VI) tháng 5-1988 là mốc khởi đầu
của quá trình đổi mới tư duy, nhận thức và đường lối đối ngoại của Đảng ta. Nghị
quyết nhận định rằng, tình trạng kinh tế yếu kém, tình thế bị bao vây về kinh tế và
cô lập về chính trị sẽ thành nguy cơ lớn đối với an ninh và độc lập dân tộc. Hội
nghị Trung ương 6 (tháng 3-1989), Hội nghị Trung ương 7 (tháng 8-1989) và Hội
nghị Trung ương 8 (tháng 3-1990) của khóa VI với "các nguyên tắc cơ bản cần
được quán triệt trong quá trình đổi mới" và các nghị quyết "Một số vấn đề cấp
bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay", "Tình
hình các nước xã hội chủ nghĩa, sự phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và nhiệm vụ

tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế.
Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ
chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học - công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến.
Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi ích
quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương
Liên hợp quốc. Thực hiện tốt công việc tại các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc.
Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế trong việc
đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là tình trạng biến đổi
khí hậu; sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên
quan về vấn đề dân chủ, nhân quyền; chủ động, kiên quyết đấu tranh, làm thất bại
mọi âm mưu, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam.
Thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, việc xác
định ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở những
nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực; làm tốt
công tác quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác
cùng phát triển.
Củng cố, phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống với các nước
láng giềng có chung biên giới. Chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các
nước xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh, tăng cường quan hệ với các đối


10

tác, tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong các khuôn khổ hợp tác ở khu vực châu Á Thái Bình Dương.
Phát triển quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các đảng
cầm quyền và những đảng khác trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia, giữ vững độc
lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; mở rộng tham gia các cơ
chế, diễn đàn đa phương ở khu vực và thế giới. Coi trọng và nâng cao hiệu quả của
công tác ngoại giao nhân dân.

và văn hóa toàn cầu. Hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực cũng tạo cho chúng
ta khả năng tận dụng được sự tác động qua lại, bổ sung lẫn nhau giữa hội
nhập trong từng lĩnh vực. Tuy nhiên, từ hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng
hợp tác trong các lĩnh vực khác chuyển sang hội nhập quốc tế trên tất cả các
lĩnh vực đặt ra cho chúng ta một số thách thức mới. Tác động tiêu cực từ các
diễn biến bên ngoài sẽ gia tăng. Những bất ổn không chỉ về kinh tế mà cả về
an ninh, chính trị, xã hội từ bên ngoài sẽ nhanh chóng tác động tới nước ta;
các loại tội phạm xuyên biên giới như: Buôn bán ma túy, rửa tiền, thâm
nhập tiền giả, tài liệu phản động, văn hóa phẩm không lành mạnh và các
thách thức an ninh phi truyền thống khác có thể gây tác hại đến mọi mặt của
an ninh quốc gia, từ an ninh kinh tế đến an ninh chính trị xã hội. Phạm vi và
tốc độ lây lan của các cú sốc từ bên ngoài cũng gia tăng. Ðồng thời, yêu cầu
bổ sung và hoàn thiện thể chế; cải cách và hiện đại hóa nền hành chính quốc
gia, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao, v.v... sẽ
ngày càng lớn.
Theo đó, để giảm các tác động tiêu cực và khai thác tối đa các cơ hội
từ hội nhập quốc tế, nội hàm và lộ trình của hội nhập trong các lĩnh vực
chính trị, quốc phòng, an ninh và văn hóa - xã hội cần phải được xác định
phù hợp với thế, lực của đất nước và bối cảnh tình hình đất nước sao cho hội
nhập quốc tế phục vụ hiệu quả nhất mục tiêu phát triển, bảo vệ Tổ quốc Xã
hội chủ nghĩa và vị thế quốc gia.
Từ đường lối đối ngoại trên cơ sở tuyên bố "muốn là bạn" (Ðại hội
Ðảng lần thứ VII, lần thứ VIII), "là bạn, là đối tác tin cậy" (Ðại hội Ðảng
lần thứ IX), Ðại hội Ðảng lần thứ XI hoàn chỉnh và bổ sung thêm cụm từ là
"thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế". Nội hàm này thể hiện
bước trưởng thành của ngoại giao Việt Nam với sự tham gia ngày càng tích


13


Chí Minh và các tỉnh miền Tây. Ngược lại, tàu bè từ thành phố Hồ Chí Minh về
các tỉnh miền Tây đều phải qua Bến Tre. Song song với giao thông thủy, ở Bến
Tre, hệ thống giao thông đường bộ cũng có một vị trí rất đặc biệt. Từ thành phố
Bến Tre đi thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận trong vùng rất thuận lợi.
Đầu năm 2009 Cầu Rạch Miễu, và đầu năm 2010 cầu Hàm Luông công trình
thế kỷ và là niềm mong ước của bao thế hệ người dân Bến Tre đã được khánh
thành nối hai bờ sông Tiền, giúp Bến Tre thoát khỏi thế cô lập về giao thông, rút
ngắn khoảng cách giữa Bến Tre với các tỉnh có nền kinh tế phát triển trong khu
vực và Thành phố Hồ Chí Minh. Trong tương lai khi cầu Hàm Luông nối liền cù
lao Bảo, cù lao Minh sẽ cùng với hệ thống cầu đường nội tỉnh, ba dải cù lao An
Hoá - Bảo - Minh thông thương là điều kiện giúp cho những tiềm năng kinh tế văn hoá - xã hội của Bến Tre được khơi dậy và phát triển mạnh mẽ.


15

2.2. Thực trạng Đảng bộ tỉnh Bến Tre lãnh đạo công tác đối ngoại trong
giai đoạn hiện nay
2.2.1. Những thành tựu về đối ngoại của tỉnh Bến Tre dưới sự lãnh đạo
của Đảng
Bước vào thời kỳ đổi mới cả nước nói chung tỉnh Bến Tre nói riêng đã có
bước chuyển biến trên lĩnh vực kinh tế xã hội. Trong năm 2010 tốc độ tăng trưởng
kinh tế năm 2010 ước đạt 10,19% vượt 0,19% so với kế hoạch, tăng 2,96% so với
cùng kỳ năm 2009. Về môi trường và hoạt động thu hút đầu tư có sự cải thiện
manh mẽ. Cầu Rạch Miễu, cầu Hàm Luông được khánh thành, rồi đường cao tốc
rút ngắn khoảng cách từ thành phố Hồ Chí Minh đến các tỉnh miền Tây góp phần
thu hút sự quan tâm đặc biệt của nhà đầu tư.
Ngoài các yếu tố về nguồn nhân lực đa dạng, nhà đầu tư biết đến Bến Tre
như một điểm dừng chân mới khi so sánh với các tỉnh trong khu vực động lực kinh
tế phía Nam và các tỉnh Đồng bằng song Cửu Long. Đảng bộ tỉnh Bến Tre cũng đã
rà soát và ban hành nhiều chính sách ưu đãi đầu tư khá tốt trong thẩm quyền, giải

giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh”.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX về công tác đối ngoại “Tăng
cường công tác đối ngoại, hợp tác giao lưu văn hóa, du lịch với các tổ chức quốc
tế và một số vùng, địa phương nước ngoài tạo môi trường thuận lợi phát triển kinh
tế, du lịch, giao lưu văn hóa…”.
Về hợp tác đầu tư:
Bám sát đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng trong tình hình mới, với
chức năng là cơ quan chuyên môn Ủy ban Nhân dân tỉnh thống nhất quản lý các
hoạt động đối ngoại trên địa bàn tỉnh, các sở, ban, ngành trong tỉnh Bến Tre đã
tham mưu tích cực cho Ủy ban Nhân dân tỉnh Bến Tre vận dụng linh hoạt các biện
pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh để tổ chức nhiều hoạt động đối ngoại
thiết thực, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh biên
giới trên biển của tỉnh và thực hiện tốt các vai trò chủ yếu của công tác đối ngoại
như: Mở đường, tham mưu, hỗ trợ, đôn đốc thực hiện các thỏa thuận, cam kết đã


17

được ký kết giữa tỉnh với các đối tác nước ngoài. Qua đó, công tác đối ngoại của
tỉnh Bến Tre đã đạt nhiều kết quả tích cực như:
Đối với hai tỉnh Kandal và Takeo (Vương quốc Campuchia), đây là hai tỉnh
nước bạn được đánh giá là giàu tiềm năng hợp tác; tuy tỉnh Bến Tre không có
chung đường biên giới với Campuchia nhưng hai tỉnh này là thị trường tiêu thụ về
hàng nông sản đặc biệt là trái cây và kẹo dừa của Bến Tre rất lâu đời. Tỉnh Bến Tre
đã tổ chức nhiều hoạt động đối ngoại nhằm thắt chặt mối quan hệ và ký kết các
Biên bản hợp tác đầu tư phù hợp với điều kiện phát triển của tỉnh. Trong thời gian
2005-2010, lãnh đạo cấp cao hai tỉnh đã chính thức ký kết hơn 10 Biên bản hợp tác
toàn diện với nhiều nội dung quan trọng, thiết thực làm cơ sở để các ngành, các địa
phương hai tỉnh triển khai hiệu quả, góp phần đẩy mạnh phát triển nền kinh tế - xã
hội hai bên; trong đó có Biên bản được ký kết giữa Bí thư tỉnh ủy hai tỉnh Bến Tre

dài; có ý nghĩa thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội Bến Tre nói riêng và
Việt Nam nói chung; đồng thời đóng góp tích cực vào việc xây dựng và phát triển
Hành lang kinh tế ven biển thành phố Hồ Chí Minh – Long An –Tiền Giang – Bến
Tre..., khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc và hợp tác Tiểu vùng sông
Mêkông mở rộng (GMS).
Đặc biệt, Bến Tre là tỉnh đã có quan hệ lâu đời đối với tỉnh Chêrêwoara
(Cuba). Hai tỉnh đã có nhiều văn bản ký kết về hợp tác về nhiều mặt. Bến Tre đã
xuất khẩu nhiều hàng nông, thủy sản sang Cuba và ngược lại. Các phái đoàn ngoại
giao hai tỉnh cũng thường thăm hỏi lẫn nhau.
Về xuất nhập khẩu:
Bằng hàng loạt những chương trình, dự án hợp tác, phát triển nêu trên, Bến
Tre đã tạo dựng, nắm bắt nhiều cơ hội để phát triển kinh tế. Qua đó, kim ngạch
xuất khẩu tăng bền vững qua các năm. Với nỗ lực của các doanh nghiệp, sự hỗ trợ
của các cơ quan quản lý nhà nước, thị trường xuất khẩu của Bến Tre từng bước
được mở rộng.
Nhìn lại chặn đường mười năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội
chung của tỉnh, hoạt động xuất khẩu của Bến Tre phát triển không ngừng. Năm
2000 kim ngạch xuất khẩu đạt 32 triệu USD, xuất khẩu sang 23 nước và vùng lãnh
thổ. Năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt 95 triệu USD, thị trường được mở rộng


19

sang 58 nước và vùng lãnh thổ. Đến năm 2010 kim ngạch xuất khẩu đã đạt 230
triệu USD, sản phẩm của Bến Tre có mặt trên 80 nước và vùng lãnh thổ.
Hàng xuất khẩu của Bến Tre vào thị trường châu Á tập trung ở các nước khu
vực Đông Bắc Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc). Trong đó, Trung Quốc là thị
trường truyền thống có điều kiện tự nhiên thuận lợi, là thị trường dễ tính không yêu
cầu chất lượng hàng hóa cao, mẫu mã đẹp, giá cả cũng dễ thỏa thuận, chi phí vận
chuyển thấp, có thể áp dụng phương thức mua bán linh hoạt.

thị trường này chiếm tỷ trọng 2%, đến năm 2010 tăng lên 5% kim ngạch xuất khẩu
của tỉnh. Các sản phẩm của Bến Tre đã xuất khẩu vào thị trường này là thủy sản
đông lạnh và các sản phẩm dừa.
Sau cùng là thị trường châu Đại Dương tập trung chủ yếu ở hai nước Australia
và New Zealand, tỷ trọng nhỏ, năm 2010 đạt khoảng 1%, hàng xuất khẩu của Bến Tre
vào thị trường này là các sản phẩm dừa nhưng còn rất hạn chế do sự cạnh tranh sản
phẩm đồng dạng của Trung Quốc và các nước lân cận trong khối ASEAN.
Nhìn chung, thị trường xuất khẩu của Bến Tre luôn được mở rộng, góp phần
tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh phát triển
theo hướng tích cực, tăng xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến, giảm dần xuất
khẩu hàng thô, sơ chế, từng bước nâng cao giá trị hàng xuất khẩu. Cơ cấu thị
trường có sự chuyển dịch từ một số nước là thị trường trung gian ở châu Á sang thị
trường trực tiếp EU, châu Mỹ có nhiều tiềm năng.
Về Đối ngoại nhân dân:
Đối ngoại nhân dân là bộ phận cấu thành quan trọng của mặt trận ngoại giao
nước nhà, góp phần thực hiện nhiệm vụ, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà
nước ta, phục vụ sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Qua hơn 17 năm thực hiện Chỉ
thị số 44-CT/TW, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Bến Tre công tác đối ngoại nhân
dân tỉnh đã có những chuyển biến tích cực và đạt được nhiều kết quả, góp phần
quan trọng vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng quan hệ hữu
nghị, hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, công nghiệp
hóa và hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế và uy


21

tín của nước ta trên trường quốc tế, góp phần xây dựng lòng tin và hiểu biết lẫn
nhau giữa nhân dân Bến Tre nói riêng và Việt Nam nói chung với bạn bè quốc tế.
Lực lượng tham gia hoạt động đối ngoại nhân dân trong tỉnh không ngừng
được mở rộng, phát triển nhanh về số lượng và được nâng cao một bước về chất

thu hút du khách đến Bến Tre ngày càng đông, đặc biệt là du khách nước ngoài.
Từ năm 2000 trở đi, lượng khách đến Bến Tre mỗi năm khoảng 155.122
lượt, tốc đô tăng trưởng bình quân 11,23%/năm.
Năm 2008, hệ thống các tuyến điểm du lịch trong tỉnh đã hình thành và hoàn
thiện, thu hút 415.247 lượt du khách, trong đó, khách quốc tế 174.000 lượt, tăng
2,67 lần so năm 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân 13,10%/năm.
Tính chung, giai đoạn 1996-2008 tốc độ tăng trưởng bình quân về khách du
lịch đến Bến Tre đạt mức 12,38%/năm. Riêng từ đầu năm 2011 đến nay toàn tỉnh có
318.221 lượt khách du lịch đến Bến Tre, trong đó khách quốc tế có 187.393 lượt.
2.3. Một số hạn chế và nguyên nhân của sự hạn chế trong công tác đối
ngoại tỉnh Bến Tre trong thời gian qua
Bên cạnh những thành tựu đạt được thì công tác đối ngoại của tỉnh vẫn tồn
tại một số hạn chế cần được khắc phục để sự lãnh đạo của Đảng với công tác đối
ngoại mang lại hiệu quả hơn.
Trước hết, tập trung tháo gỡ rào cản về giao thông để đẩy mạnh hơn nữa
quan hệ đặc biệt với một số tỉnh miền Nam Campuchia như Kaldal và Ta Keo.
Những năm gần đây, quan hệ giữa Bến Tre với một số tỉnh miền Nam Campuchia
ngày càng đi vào chiều sâu. Tuy vậy, kết quả hợp tác trên chưa thỏa đáng với tiềm
năng, lợi thế và tình cảm đặc biệt giữa đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh.
Một trong những nguyên nhân của sự phát triển hợp tác giữa hai địa phương chưa
tương xứng với tiềm năng là do cách trở về địa hình, giao thông đi lại giữa hai tỉnh
gặp nhiều khó khăn. Bến Tre muốn qua Capuchia phải đi qua một số tỉnh của vùng
Đồng bằng sông Cửu Long, do đoạn đường xa và hạ tầng giao thông nhìn chung
còn kém nên còn gặp phải một số khó khăn. Vì vậy, Chính phủ hai nước cần quan
tâm chỉ đạo tập trung các nguồn lực, khẩn trương xây dựng hoàn thành hệ thống
giao thông và các công trình hạ tầng kỹ thuật khác như bến cảng, kho, bãi...


23


24

Thứ năn, thị trường xuất khẩu của Bến Tre phát triển mạnh về chiều rộng
nhưng chưa đi vào chiều sâu và thiếu bền vững. Tính đến nay, hàng hóa của Bến
Tre có mặt tại trên 80 nước và vùng lãnh thổ, nhưng thực chất chỉ duy trì được
thường xuyên khoảng 70 nước và vùng lãnh thổ, số còn lại chỉ xuất khẩu để chào
hàng hoặc do nhiều nguyên nhân đã làm mất thị trường.
Mặt khác, khủng hoảng tài chính toàn cầu làm giảm nhu cầu tiêu thụ tại các
thị trường chính, hiện nay tuy đã phục hồi nhưng còn chậm. Việc thâm nhập vào
các thị trường mới vẫn còn nhiều khó khăn, tiềm ẩn nhiều rủi ro do có sự cạnh
tranh sản phẩm cùng loại của các nước xuất khẩu. Đặc biệt là rào cản kỹ thuật để
bảo hộ sản xuất trong nước của các nước nhập khẩu ngày càng khắc nghiệt, thường
bị vướng các vấn đề như chống phá giá, truy xuất nguồn gốc hàng xuất khẩu, dư
lượng kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất xử lý bảo quản hàng hóa được
phép sử dụng. Trong thời gian tới tình hình quốc tế và trong nước sẽ có sự diễn
biến theo hướng thuận lợi và khó khăn đan xen, tác động lẫn nhau. Hội nhập kinh
tế quốc tế làm cho sự phụ thuộc giữa các nước tăng lên.
Biến động trên thị trường thế giới sẽ có tác động mạnh đến sản xuất hàng
hóa trong tỉnh cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Do
đó, các cơ quan quản lý nhà nước phải thường xuyên phân tích, dự báo, thông tin
tình hình thị trường. Các doanh nghiệp phải năng động, phản ứng tích cực, nhanh
chóng trước những biến động của thị trường trong và ngoài nước. Do vậy, các
doanh nghiệp cần nghiên cứu nắm chắc tình hình thị trường, mạnh dạn đầu tư máy
móc thiết bị, đổi mới công nghệ, tổ chức lại sản xuất, lựa chọn tập trung sản xuất
những sản phẩm có giá trị gia tăng cao đáp ứng nhu cầu của thị trường.
2.4. Một số giải pháp nhằn tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
Bến Tre đối với công tác đối ngoại
Thứ nhất, tích cực thực hiện chủ trương lớn của tỉnh Bến Tre là triển khai
đồng bộ, toàn diện các hoạt động đối ngoại. Theo đó, giải pháp lớn là phối hợp
chặt chẽ, hài hòa, hiệu quả ba trụ cột đối ngoại là đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà

Đảng vừa cần mở rộng bình diện quan hệ, vừa đi vào chiều sâu, có trọng tâm, trọng điểm,
vừa đáp ứng quan hệ đối ngoại trước mắt, vừa linh hoạt thích ứng với những chuyển biến
hết sức nhanh chóng trên chính trường của các quốc gia trên thế giới.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status