LUẬN VĂN: Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay potx - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác
phụ nữ trong giai đoạn hiện nay MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ Việt Nam có tiềm năng to lớn, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển
của xã hội. Trong lịch sử dựng nước, giữ nước, qua mọi thời kỳ, phụ nữ luôn là lực lượng
hùng hậu, có nhiều đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng ta luôn quan tâm đến công tác phụ
nữ nhằm phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng
giới. Đặc biệt, bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính
sách đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ. Chủ trương
đổi mới và tăng cường công tác phụ nữ của Đảng thể hiện xuyên suốt trong các Nghị
quyết Đại hội Đảng, các Nghị quyết và Chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban

Yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế
nói chung và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển của Tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng,
đòi hỏi phải coi trọng phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên sự nỗ lực
vượt bậc của toàn dân, trong đó có phụ nữ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối
với công tác phụ nữ, tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ để phụ nữ có điều kiện tham gia
ngày càng nhiều hơn, chủ động hơn các công việc xã hội, đóng góp ngày càng lớn hơn
cho sự phát triển của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới là một
vấn đề cấp bách.
Từ những lý do nêu trên, với cương vị là Tỉnh uỷ viên- Chủ tịch Hội LHPN tỉnh,
được Đảng phân công tham mưu cho Tỉnh uỷ về công tác phụ nữ và chỉ đạo phong trào
phụ nữ trong toàn tỉnh, bằng những kiến thức được học tập tại lớp Cao học xây dựng
đảng khoá XIII, em chọn nghiên cứu đề tài “Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác phụ
nữ trong giai đoạn hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp khoá học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công tác phụ nữ và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ là một vấn đề
quan trọng được nhiều nhà khoa học, các cấp uỷ đảng và các cấp hội quan tâm nghiên
cứu. Thời gian qua, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến công tác

phụ nữ và sự lãnh đạo của đảng đối với công tác phụ nữ. Có những công trình nghiên cứu
vấn đề sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội nói chung trong đó có công tác phụ nữ. Có
những công trình đi sâu nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ. Có
những công trình chỉ nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội LHPN Việt Nam.
Trong số các công trình nghiên cứu có công trình viết dưới dạng sách, chuyên đề, bài viết
đăng báo đã có những kiến giải sâu sắc và có đóng góp quan trọng như:
Trần Đình Nghiêm (chủ biên)(2002), “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Lê Văn Lý (chủ biên) (1999), “Sự lãnh đạo của Đảng đối với một số lĩnh vực trọng
yếu của đời sống xã hội nước ta”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Trọng Phúc (2004) “Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
Nhà nước trong thời kỳ đổi mới”, Lịch sử Đảng, (1)

Hội LHPN Việt Nam (2004), “Báo cáo thực trạng lao động nữ khu vực công
nghiệp tham gia sinh hoạt Hội trên địa bàn dân cư”.
Hội LHPN Việt Nam (2007), “Báo cáo nghiên cứu khảo sát, đánh giá mô hình thu
hút hội viên, phụ nữ tham gia hoạt động Hội phụ nữ và đề xuất giải pháp”.
Ngô Thị Ngọc Anh (1992), “Nâng câo chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ nữ”- Luận án tiến sỹ.
Trần Thị Lan (2007), “Sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội LHPN Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay”, Luận Văn Thạc sỹ.
Nguyễn Hữu Quất (2007), “Công tác dân vận của Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh trong giai
đoạn hiện nay”, Luận Văn Thạc sỹ.
Trên cơ sở mục đích và các góc độ nghiên cứu khác nhau, các công trình trên đều đề
cập đến phụ nữ, công tác phụ nữ và sự lãnh đạo của đảng đối với công tác phụ nữ. Đây là
những tư liệu quý báu, giúp tác giả nghiên cứu kế thừa, chọn lọc những phương pháp tốt
nhất khi tiếp cận nghiên cứu đề tài.

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể vấn đề “Tỉnh uỷ
Vĩnh Phúc lãnh đạo công tác phụ nữ giai đoạn hiện nay”. Do đó, việc nghiên cứu đề
tài này là hết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối
với công tác phụ nữ; khảo sát đánh giá thực trạng sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối
với công tác phụ nữ trong thời gian qua; nghiên cứu tìm ra nguyên nhân của thực trạng đề
xuất các giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ đối với công tác phụ nữ
trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc
liên quan đến phụ nữ, đến công tác phụ nữ và sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với
công tác phụ nữ.
- Làm rõ những vấn đề lý luận chủ yếu về sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối

6.2. Về mặt thực tiễn
Luận văn đánh giá đúng thực trạng sự lãnh đạo công tác phụ nữ của Tỉnh uỷ Vĩnh
Phúc thời gian qua, đề xuất được các giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh
uỷ về công tác phụ nữ trong giai đoạn hiện nay. Những giải pháp này là cơ sở khoa học
giúp cho bản thân tác giả làm tốt công tác tham mưu cho Tỉnh uỷ lãnh đạo tốt công tác phụ nữ của
tỉnh trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời, luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho các cấp uỷ
đảng, chính quyền, các ban ngành nâng cao chất lượng công tác phụ nữ, góp phần phát
huy vai trò tích cực của phụ nữ xây dựng và phát triển địa phương ngày càng giàu mạnh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3
chương, 6 tiết.
Chương 1
TỈNH UỶ VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC PHỤ NỮ –
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. KHÁI QUÁT VỀ TỈNH VĨNH PHÚC VÀ QUAN NIỆM VỀ CÔNG TÁC
PHỤ NỮ CỦA TỈNH UỶ VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1.1.1. Khái quát về Tỉnh Vĩnh Phúc và đặc điểm, vai trò của phụ nữ tỉnh Vĩnh
Phúc và công tác phụ nữ
* Đặc điểm tự nhiên, văn hoá, xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
- Điều kiện tự nhiên
Vĩnh Phúc là tỉnh đồng bằng nằm ở đỉnh của tam giác châu thổ Bắc Bộ, phía Bắc
giáp với tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang; phía Đông; phía Nam tiếp giáp Thủ đô Hà Nội
và phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ.
Toàn tỉnh có 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện). Tỉnh lỵ của Vĩnh
Phúc là thành phố Vĩnh Yên, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 50km và cách sân bay Quốc tế
Nội Bài 25 km. Có Quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai chạy qua. Vĩnh

2
/người. Do nhu cầu cần đất ở, đất chuyên dùng
cao, nên tốc độ giảm của diện tích đất canh tác khá nhanh, đây là một áp lực không nhỏ
đối với sản xuất nông lâm nghiệp thuỷ sản của tỉnh.
Rừng của Vĩnh Phúc có diện tích không lớn, nhưng số lượng động thực vật rất
phong phú, nhiều loại lâm sản có giá trị, một số loài đặc hữu trong sách đỏ cần được bảo
vệ và đang được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Giá trị kinh tế lâm
nghiệp chủ yếu và lâu dài là rừng đặc dụng, phòng hộ, phục vụ du lịch. Phần lớn nằm
trong khu rừng tự nhiên thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo, công tác lâm nghiệp của tỉnh có
vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường sinh
thái cho toàn vùng và Thủ đô Hà Nội.
Vĩnh Phúc là tỉnh nghèo về các loại khoáng sản. Tuy có một số loại khoáng sản quí
hiếm như: thiếc, vàng nhưng trữ lượng quá nhỏ, phân tán, không đủ điều kiện để đầu tư
khai thác. Khoáng sản có trữ lượng đáng kể dùng cho ngành vật liệu xây dựng như: đá
xây dựng, đá Grarít (khoảng 50 triệu m
3
); khoáng sản có khả năng khai thác lâu dài là các

mỏ cao lanh giàu nhôm, cát sỏi, đất sét làm gạch ngói và than bùn để chế biến phân bón
hữu cơ.
- Điều kiện văn hóa - xã hội
Tỉnh Vĩnh Phúc có nhiều dân tộc sinh sống, đông nhất là người kinh, chiếm 95,7%;
dân tộc thiểu số có người Sán Dìu, chiếm 2,5%, còn lại trên 20 dân tộc khác có số lượng
dân số nhỏ.
Dân số trung bình toàn tỉnh năm 2008 có 1.014.488 người, mật độ bình quân 824
người/km
2
, gấp 3 lần so với mức bình quân chung của cả nước, thấp hơn mức bình quân
của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, tốc độ tăng dân số năm 2008 là 1,132% vào loại
thấp so với trung bình cả nước.

người đạt 1.230 USD, cao hơn mức trung bình của cả nước.
Bên cạnh những thành tựu về kinh tế, các lĩnh vực văn hoá, xã hội tiếp tục phát
triển, quốc phòng được củng cố, tăng cường, an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an
toàn xã hội được đảm bảo; hệ thống chính trị được quan tâm củng cố, xây dựng ngày
càng trong sạch, vững mạnh.
Mạng lưới các cơ sở giáo dục và đào tạo của Vĩnh Phúc đã và đang phát triển ngày
càng rộng và phân bố ở khắp các xã, thị trấn, đến tận thôn, bản trên địa bàn tỉnh với hệ thống
cơ sở trường, lớp và vật chất kỹ thuật từng bước được cải thiện. Năm học 2008 – 2009, toàn
tỉnh có 18.959 cháu ra nhà trẻ, đạt tỷ lệ huy động 47,6% số cháu trong độ tuổi; tỷ lệ các cháu
mẫu giáo đến lớp đạt 93%. Số trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia 65,5%, tỷ lệ giáo viên tiểu
học đạt chuẩn trở lên là 99,3%. Toàn tỉnh đã phổ cập giáo dục Trung học cơ sở từ năm 2002.
Đến nay, 100% số xã có trường Trung học cơ sở; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở
vào lớp 10 tăng từ 75% năm 2000 lên 85% năm 2009. Toàn tỉnh có 38 trường Trung học phổ
thông; tỷ lệ học sinh đoạt giải các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia của Vĩnh Phúc đạt cao ở tất
cả các bậc học, nhiều năm có học sinh đoạt giải quốc tế, đóng góp vào thành tích chung của
giáo dục - đào tạo nước nhà.
Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được quan tâm. Hệ thống bệnh viện
tuyến tỉnh, tuyến huyện và y tế cơ sở không ngừng được đầu tư cải tạo, nâng cấp. Toàn tỉnh
có 138 trạm y tế (137 xã, phường, thị trấn); 100% số trạm y tế có bác sĩ, tỷ lệ y tế xã đạt

chuẩn quốc gia là 88,5%. Tuyến cơ sở có 5 bệnh viện, 5 bệnh viện đa khoa huyện, 8 phòng
khám đa khoa khu vực và 3 trung tâm y tế. Trang thiết bị y tế ngày càng hiện đại; đội ngũ
y, bác sĩ có trình độ chuyên môn, y đức ngày càng tăng; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu
khám, chữa bệnh của nhân dân.
Phong trào xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, đơn vị văn hoá phát triển rộng
khắp, môi trường văn hoá địa phương cơ bản ổn định, lành mạnh. Nhiều giá trị văn hoá
truyền thống được đề cao và phát huy. Đời sống văn hoá cơ sở có bước khởi sắc, phong
trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá hình thành trên diện rộng, bước đầu đi
vào chiều sâu chất lượng. Đến hết năm 2008, toàn tỉnh xây dựng được 957 nhà văn hoá
thôn, khu phố; 113 nhà văn hoá xã, phường; 137 điểm bưu điện văn hoá xã; 1 thư viện tỉnh,

chuyển dịch mạnh theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp – dịch vụ tăng, giảm tỷ
trọng nông nghiệp. Đến nay, cơ cấu kinh tế: công nghiệp – dịch vụ gần 84 %, nông
nghiệp còn gần 17%. Thu hút đầu tư tăng mạnh, trong hơn 10 năm tỉnh Vĩnh Phúc đó thu
hút được trên 400 dự án đầu tư, với tổng số vốn đăng ký trên 3 tỷ USD. Đây là điều kiện
thuận lợi làm cho trình độ mọi mặt của phụ nữ Vĩnh Phúc phát triển khá cao. Đa số các
tầng lớp phụ nữ trong tỉnh đều nhanh nhạy với kinh tế thị trường, tích cực trao đổi, giao
lưu hàng hoá; chủ động nắm bắt thông tin thị trường, tích cực áp dụng tiến bộ KHCN vào
sản xuất kinh doanh
Trình độ phát triển của phụ nữ giữa các vùng trong tỉnh còn khá chênh lệch, trong
đó có bộ phận phụ nữ còn rất khó khăn, hạn chế, nhất là bộ phận phụ nữ là dân tộc ít
người,phụ nữ có đạo.
Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc bao gồm nhiều dân tộc và sinh sống trên các vùng địa lý có
điều kiện tự nhiên, xã hội rất khác nhau. Do đó, một bộ phận phụ nữ ở vùng núi, điều kiện tự
nhiên và kinh tế xã hội có nhiều khó khăn nên sự phát triển về mọi mặt còn hạn chế. Đặc
biệt, một bộ phận phụ nữ dân tộc trình độ văn hoá, KHKT thấp, thụ động, thu nhập thấp, đói
nghèo còn chiếm tỷ lệ cao. Đặc điểm này đòi hỏi công tác phụ nữ Vĩnh Phúc phải có nỗ
lực để khắc phục sự chênh lệch đó, tạo điều kiện bình đẳng cho sự phát triển của phụ nữ.
Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc giàu truyền thống cách mạng và nghị lực phấn đấu.

Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc có niềm tự hào sống trên quê hương có nền văn hóa phát
triển lâu đời (227/967 di tích được xếp hạng trong toàn quốc, trong đó có 92 di tích
hạng quốc gia, 185 di tích tỉnh). Kế thừa truyền thống của quê hương Hai Bà Trưng,
truyền thống “Anh hùng- Bất khuất- Trung hậu- Đảm đang” của phụ nữ Việt Nam, trong
sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đặc biệt là 2 cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ phụ nữ Vĩnh Phúc đã thể hiện tinh thần cách mạng kiên cường bất
khuất. Trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, phụ nữ Vĩnh Phúc luôn tin tưởng vào sự lãnh
đạo của Đảng, cần cù, chịu thương, chịu khó, năng động sáng tạo, giàu nghị lực sẵn sàng
đương đầu với khó khăn thử thách và có ý thức vươn lên xứng đáng với truyền thống
cách mạng của quê hương, của phụ nữ. Những năm qua phụ nữ trong tỉnh đã có những
đóng góp rất quan trọng góp phần xây dựng quê hương Vĩnh Phúc giàu đẹp, văn minh.

thuật, ứng dụng công nghệ hiện đại nâng cao chất lượng và hiệu quả các ngành dịch vụ.
Phụ nữ kinh doanh- buôn bán tại các thành phố, thị xã, thị trấn thực hiện tốt văn minh
thương mại và ngày càng nâng cao hiệu quả kinh doanh, góp phần tăng giá trị sản xuất
bình quân 19,7%/năm.
- Phụ nữ Vĩnh Phúc đóng góp to lớn trong lĩnh vực văn hoá, xã hội, nâng cao chất
lượng cuộc sống gia đình.
Phụ nữ ngành Giáo dục- Đào tạo chiếm 73% tổng số cán bộ, giáo viên của toàn ngành,
trong đó có trên 800 chị là cán bộ quản lý (chiếm 60% cán bộ quản lý toàn ngành). Chị em
đã khẳng định vai trò rất quan trọng trong xã hội hoá giáo dục, mở rộng quy mô, mạng lưới,
nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo.
Trên 60% lao động nữ trong ngành y tế đã góp phần lớn vào việc đảm bảo và nâng
cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân.
Khả năng và điều kiện lao động, trình độ văn hoá, vị trí xã hội, đời sống vật chất,
tinh thần của phụ nữ có ảnh hưởng sâu xa đến thế hệ tương lai. Phát huy vai trò là người
mẹ, người vợ và người con trong gia đình, phụ nữ trong tỉnh đã tích cực học tập, nâng cao
kiến thức hiểu biết và kỹ năng tổ chức cuộc sống trong gia đình, xây dựng gia đình “no ấm,
bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc”, góp phần tích cực vào việc giữ gìn và phát huy các giá trị
truyền thống, bồi dưỡng nhân cách, nâng cao thể lực, phát huy trí lực cho thế hệ tương lai.

- Phụ nữ Vĩnh Phúc góp phần xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh,
giữ vững an ninh chính trị, xây dựng nền quốc phòng toàn dân.
Lực lượng nữ tham gia dân quân tự vệ - lực lượng vũ trang quần chúng tại địa
phương chiếm 15-20% luôn hăng hái và tích cực tham gia xây dựng thế trận quốc phòng
toàn dân và thế trận an ninh nhân dân góp phần làm thất bại chiến lược diễn biến hoà
bình, bạo loạn lật đổ của các thể lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội tại địa phương.
Từ thực tế những đóng góp to lớn của Phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc vào tất cả các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng an ninh thời gian qua, trong các văn kiện
Đại hội tỉnh Đảng bộ và các Nghị quyết của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã đánh giá phụ nữ là
động lực quan trọng của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.

Nhân dân nói chung, trong đó có phụ nữ là lực lượng, là người tiến hành mọi công
việc của cách mạng. Mọi nhiệm vụ, mọi hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội và đất nước: sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế, thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ
quốc, quan hệ đối ngoại đều do nhân dân thực hiện. Công tác phụ nữ nhằm vận động phụ
nữ thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng an ninh của tỉnh.
1.1.2. Quan niệm về công tác phụ nữ, nội dung, hình thức của công tác phụ nữ
* Quan niệm về công tác phụ nữ
Công tác phụ nữ của tỉnh Vĩnh Phúc được xây dựng và phát triển trên cơ sở quan
niệm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về vị trí, vai trò của phụ nữ và công tác vận động phụ nữ nói chung và đặc điểm vai
trò của phụ nữ tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định rằng: Địa vị của phụ nữ trong xã hội không phải
là hiện tượng riêng biệt tách rời xã hội, bất di bất dịch, mà gắn liền và biến đổi cùng với
phương thức sản xuất và những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Do vậy, trong xã hội có giai
cấp, sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một bộ phận khăng khít gắn liền với với sự nghiệp giải
phóng giai cấp, với cuộc đấu tranh cách mạng để xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, chế
độ xã hội có bóc lột giai cấp, xây dựng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa tiến lên cộng sản chủ
nghĩa.

C.Mác và Ph.Ăngghen đã ca ngợi Phuriê- nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng vĩ đại
người Pháp thế kỷ XIX - đã có tư tưởng tiến bộ trong việc phê phán quan điểm phản
động, phản tiến bộ của giai cấp tư sản về vấn đề phụ nữ và giải phóng phụ nữ.
Ph.Ăngghen viết: tuyệt diệu hơn nữa là những lời ông phê phán hình thức tư sản của
quan hệ nam nữ và địa vị xã hội của phụ nữ trong xã hội tư sản. C.Mác và Ph.Ăngghen
đã dẫn lời của Phuriê để nói về tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội, đó là việc giải phóng người
phụ nữ. Phuriê khẳng định rằng, sự phát triển của một thời đại lịch sử bao giờ cũng có thể
xác định được bằng bước tiến của phụ nữ tự do trình độ giải phóng của phụ nữ là tiêu
chuẩn tự nhiên để đo sự giải phóng phổ biến. Ông đã nhận xét rằng: thước đo về trình độ
của một xã hội văn minh là căn cứ vào mức độ giải phóng phụ nữ. C.Mác đã khái quát: Ai
đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào thì chắc chắn

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của phụ nữ, là do Người thấu hiểu rất rõ
khả năng làm việc to lớn của phụ nữ Việt Nam trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã
hội. Người đã chỉ rõ: Đảng ta muốn thật sự giải phóng phụ nữ thì phải bằng pháp luật,
chính sách, biện pháp cụ thể và từ nay, các cấp đảng, chính quyền địa phương khi giao
công tác cho phụ nữ, phải căn cứ trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ
phụ nữ nhiều hơn, phải thật sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ nữ”
Hồ Chí Minh luôn cho rằng: Không ai hiểu phụ nữ bằng phụ nữ. Do vậy, muốn vận
động, bảo vệ, hỗ trợ phụ nữ phải thành lập tổ chức của phụ nữ. Theo Hồ Chí Minh, mỗi
Đảng Cộng sản phải có Bộ phụ nữ trực thuộc phụ nữ Quốc tế. Người đề cao vai trò của
phụ nữ Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Phụ nữ Việt Nam được
tạo điều kiện tham gia vào bộ máy điều hành và quản lý đất nước, vì vậy phụ nữ phải ý
thức vai trò, vị thế của mình để phấn đấu cho bản thân và dân tộc. Người đã chỉ cho phụ
nữ Việt Nam thấy rằng, muốn có bình đẳng thực sự, không nên chỉ trông chờ vào người
khác mà bản thân chị em phải có chí khí tự cường, tự lập, phải đấu tranh để bảo vệ quyền
lợi của mình.
Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay từ khi thành
lập, Đảng ta đã nhận thức đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của phụ nữ và công tác phụ

vận. Đảng đã coi trọng mục tiêu giải phóng phụ nữ, thực hiện nam, nữ bình đẳng, đặt sự
nghiệp giải phóng phụ nữ gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH.
Đảng đã tổ chức những đoàn thể phụ nữ mang tên gọi khác nhau: Hội phụ nữ giải
phóng (1931 - 1935); Hội phụ nữ phản đế (1936 - 1938); Hội phụ nữ dân chủ (1939 -
1940); Đoàn phụ nữ cứu quốc. Bác Hồ đã Chỉ thị thành lập Hội LHPN Việt Nam tập hợp
thống nhất mọi phụ nữ Việt Nam gia nhập liên đoàn phụ nữ quốc tế (20/10/1946 ). Tờ
báo “Tiếng gọi là tiền thân của báo phụ nữ Việt Nam ngày nay ra đời ngày 12-1-1960,
Luật hôn nhân và gia đình được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành.
Trong Nghị quyết 153- NQ/TƯ ngày 10-1-1967 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
đã khẳng định: Sự nghiệp giải phóng phụ nữ là trách nhiệm chung của toàn Đảng, của
Nhà nước, của xã hội. Lực lượng phụ nữ, trong đó đội ngũ xung kích là lực lượng cán bộ
phụ nữ ở tất cả các lĩnh vực, phải phát huy vai trò chủ động của mình. Tại Đại hội Đảng

khoẻ và quyền lợi của phụ nữ; giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, nâng cao trình
độ mọi mặt của phụ nữỗiây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; công tác
cán bộ nữ của Đảng: đổi mới nội dung, tổ chức và phương hướng hoạt động của Hội liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam; tăng cường công tác phụ nữ của đảng, Nhà nước, các đoàn thể
nhân dân và các tổ chức xã hội.
Ngày 16/5/1994, Ban Bí thư tiếp tục ra Chỉ thị số 37/CT/TW “Một số vấn đề công
tác cán bộ nữ trong tình hình mới”. Trong đó nhấn mạnh: Tiếp tục nâng cao nhận thức,
quan điểm của đảng về vấn đề cán bộ nữ; có quy hoạch tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ nữ; nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp, các nhàng; xây dựng chính sách tạo
điều kiện cho cán bộ nữ làm việc và khuyến khích tài năng nữ phát triển; đẩy mạnh công
tác phát triển đảng viên trong phụ nữ”.
Mục tiêu, nhiệm vụ công tác phụ nữ của Đảng trong thời kỳ mới, đã được Nhà
nước thể chế hoá thông qua hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách nhằm đảm bảo lợi ích
chính đáng của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực. Một số quyền của phụ Việt Nam đã được
quy định rất cụ thể, vấn đề bình đẳng nam nữ tiếp tục được khẳng định. Ngày 5/7/1994,
Bộ luật lao động đã được ban hành trong đó chương X đã ghi rõ những quy định riêng
đối với lao động nữ, thể hiện rõ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đối

với lao động nữ nói riêng và với công tác phụ nữ nói chung. Đây là văn bản pháp lý
chính thức đầu tiên và tương đối hoàn thiện đối với lao động nữ.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội phụ nữ Việt Nam, phát huy vai trò đại diện
của phụ nữ trong quá trình tham gia quản lý Nhà Nước, xây dựng chính quyền vững
mạnh, Chính phủ đã ban hành Nghị định 19/2003/NĐ-CP, trên cơ sở sửa đổi, bổ sung
Quyết định 163/HĐBT về qui định trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước các
cấp trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý
Nhà nước.
Ngày 7/11/1994, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 646/TTg về việc thành lập tổ chức
Vì sự tiến bộ của phụ nữ ở các bộ ngành, địa phương. Chính phủ đã xây dựng chiến lược
quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, gồm 2 giai đoạn “Chiến lược phát triển vì
sự tiến bộ của phụ nữ đến năm 2000 và Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt

hơn, chủ động hơn của phụ nữ tham gia đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển
của gia đình, cộng đồng, đất nước và thực hiện bình đẳng giới, ngày 27/4/2007, Bộ Chính
trị đã ban hành Nghị quyết số 11- NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH -
HĐH đất nước, trong đó nhấn mạnh các quan điểm sau:
- Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng
giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội là một trong những nhiệm vụ và
mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
- Công tác phụ nữ phải sát với từng đối tượng, vùng, miền, phát huy được tinh thần
làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ,
góp phần tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất nước; đồng thời
phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động,
người mẹ, người thầy đầu tiên của con người.
- Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò của phụ
nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của
Đảng.

- Công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng
gia đình, Trong đó, hạt nhân lãnh đạo là các cấp uỷ đảng, trách nhiệm trực tiếp và chủ
yếu là cơ quan quản lý nhà nước các cấp, vai trò chủ thể là phụ nữ mà nòng cốt là các cấp
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.
Cụ thể hoá các quan điểm của đảng về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH đất nước, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật
bình đẳng giới.
Những chủ trương, Nghị quyết của Đảng và chính sách, luật pháp của Nhà nước đã
tạo sự chuyển biến quan trọng về nhận thức cho các cấp, các ngành và toàn xã hội về
công tác phụ nữ, đồng thời tạo cơ sở và hành lang pháp lý cần thiết để các tổ chức trong
hệ thống chính trị và toàn xã hội thực hiện nhiệm vụ công tác phụ nữ ngày càng có hiệu
quả.

sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị ở địa phương
Chăm lo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ: cải thiện
đời sống vật chất tinh thần, nâng cao vị trí xã hội cho phụ nữ, phát huy quyền làm chủ
tham gia quản lý nhà nước và xã hội
- Các hình thức của công tác phụ nữ:
Để thực hiện các nội dung công tác phụ nữ đòi hỏi phải đa dạng hoá các hình thức, trong
đó mỗi nội dung đòi hỏi phải có những hình thức cụ thể phù hợp:
Công tác tuyền truyền giáo dục nâng cao trình độ mọi mặt cho phụ nữ, có thể tiến hành
thông qua một số hình thức cơ bản như: cán bộ, đảng viên, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền
viên trực tiếp tuyên truyền, thông qua các phong trào hoạt động, các buổi sinh hoạt của các tổ
chức trong hệ thống chính trị, các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động văn hoá, văn
nghệ, thể thao, lễ hội truyền thống, sách báo, tài liệu, tranh ảnh, các lớp đào tạo, bồi dưỡng,
tham quan thực tế, nêu gương điển hình tiến tiến, hội thi, hội thảo, diễn đàn, đối thoại
Đa dạng hoá các hình thức tập hợp phụ nữ là vấn đề có tính quy luật, các đối tượng
phụ nữ rất đa dạng, nhu cầu, lợi ích xã hội cũng hết sức khác nhau, trình độ giác ngộ chính trị
và trình độ văn hoá không đồng nhất. Tổ chức có trách nhiệm chính trong tập hợp đoàn kết
các tầng lớp phụ nữ là Hội LHPN Việt Nam, ngoài ra có thể thông qua một số tổ chức đoàn

Trích đoạn Nguyên nhân của thực trạng Những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn Những yếu tố tác động đến phụnữ và công phụnữ của tỉnh Vĩnh Phúc từ nay đến năm Mục tiêu, phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đối với công tác phụ nữ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỈNH UỶ VĨNH PHÚC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC PHỤ NỮ TRONG GIAI ĐOẠN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status